TCNCYH 25 (5) - 2003
Nghiên cứu về nhiệt độ thíCH HợP
trong môi trờng khô và đáp ứng của cơ thể ngời
khi thay đổi nhiệt độ môi trờng
Đoàn Văn Huyền
1
, Phạm Thị Minh Đức
1
, Nguyễn Thế Công
2
,
Phạm Hồng Lu
2
,Nguyễn Bạch Ngọc
3
,
Nguyễn Mỹ Hằng
4
, Tadahsi Oishi
4
, Hiromi Tokura
4,5
1
Trờng Đại học Y Hà Nội,
2
Viện KHKT bảo hộ lao động,
3
V
iện Nghiên cứu chiến lợc Bộ Y tế,
4
[4] sau khi cân nhắc một số chỉ số về thang
cảm giác nhiệt của các tác giả nớc ngoài đã
xây dựng nên thang cảm giác nhiệt cho ngời
Việt Nam (tác giả đặt tên là thang SN). Thang
cảm giác nhiệt SN rất phù hợp để đánh giá
cảm giác nhiệt trong môi trờng lao động ngoài
trời hoặc trong các phân xởng sản xuất,
không phù hợp khi đánh giá cảm giác nhiệt
trong môi trờng nhiệt độ vừa phải và đặc biệt
là môi trờng lao động tại các công sở bởi vì
thang cảm giác nhiệt này tác giả chỉ phân loại
các cảm giác nhiệt từ "trung bình" đến "rất
nóng".
Theo chúng tôi thì các tiêu chuẩn của thang
cảm giác nhiệt trong phiên bản ISO - 7730 [7]
là tơng đối phù hợp để đánh giá cảm giác
nhiệt trong môi trờng nhiệt vừa phải. Tuy
nhiên, chính ISO - 7730 cũng đã đề xuất cần
áp dụng các tiêu chuẩn này một cách linh hoạt
vì những yếu tố về chủng tộc cũng nh điều
kiện khí hậu, địa lý có thể có những ảnh hởng
nhất định tới cảm giác nhiệt. Trên thực tế
chúng tôi [1] và một số tác giả trong khu vực
Đông Nam á [6] đã áp dụng thang cảm giác
nhiệt của ISO - 7730 trong các nghiên cứu của
mình. Tuy nhiên chúng tôi mới chỉ nghiên cứu
cảm giác nhiệt của ngời Việt Nam trong điều
kiện ẩm do đó cũng cha đủ các bằng chứng
thuyết phục để so sánh với các tiêu chuẩn
trong ISO - 7730 bởi vì phần lớn các kết quả
trình nghiên cứu .
Các đối tợng thí nghiệm đợc mặc
quần dài, áo ngắn tay màu trắng với chất liệu
100% cotton, đi dép: tơng ứng với độ cách
nhiệt của quần áo là 0,35 - 0,40 (độ Clo.) [7].
2. Phơng tiện và phơng pháp nghiên
cứu.
2.1 Phơng tiện đo nhiệt.
Đo nhiệt độ trực tràng (T
0
trực tràng) và
nhiệt độ da (T
0
da) bằng sensor đo nhiệt loại
EV, máy đo nhiệt độ LT - serries của Nhật Bản
sản xuất (độ chính xác 0,01
0
C). Máy đo nhiệt
đợc nối trực tiếp với máy vi tính sử dụng phần
mềm Windows 98 để ghi lại giá trị nhiệt độ trực
tiếp tại từng thời điểm.
2.2. Phơng pháp nghiên cứu.
Nhiệt độ khởi đầu trong phòng thí nghiệm là
22
0
C, độ ẩm tơng đối đợc duy trì trong suốt
thời gian thí nghiệm là 35 - 40%. Đối tợng
nghiên cứu đợc ngồi nghỉ trên ghế tựa trong
phòng thí nghiệm 10 phút trớc khi tiến hành
thí nghiệm. Sau đó cứ 20 phút tăng nhiệt độ
da tại 7 điểm trên cơ thể: trán,
ngực, cẳng tay, mu tay, đùi, cẳng chân, mu
chân.
T
0
da trung bình đợc tính theo công thức
của Hardy - Dubois:
T
0
da trung bình = 0,07 T
0
trán + 0,14 T
0
cẳng tay + 0,05 T
0
mu tay + 0,35 T
0
ngực +
0,19 T
0
độ đùi + 0,13 T
0
cẳng chân + 0,07 T
0
mu chân
T
0
cơ thể trung bình = 0,65 T
40
50
60
70
0-12th 12-
24th
24-
36th
36-
48th
48-
60th
tháng tuổi
IGF-I (ng/mL)
Nam
Nữ
Nhiệt độ (
0
C)
Hình 1. Tỷ lệ % đối tợng trả lời về nhiệt độ thích hợp.
Nhận xét: Hình 1 cho thấy ở mỗi điểm nhiệt độ từ 24
0
C đến 28
0
C đều có trên 90% đối tợng
nghiên cứu cảm thấy thoải mái, nh vậy nhiệt độ thích hợp của các đối tợng nghiên cứu trong
nghiên cứu này là 24 - 28
0
C.
2. Biến đổi T
0
C)
35
TCNCYH 25 (5) - 2003
Nhận xét: Hình 2 cho thấy trong 120 phút đầu tiên của quá trình nghiên cứu T
0
trực tràng giảm
rất có ý nghĩa thống kê ( p < 0,01), ở 20 phút cuối cùng của quá trình nghiên cứu T
0
trực tràng có
hơi tăng lên nhng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). T
0
da tăng dần liên tục trong suốt quá
trình nghiên cứu (p < 0,001).
Bảng 2. So sánh T
0
trực tràng, T
0
da trung bình và T
0
cơ thể trung bình giữa các đối tợng
nam và nữ (
0
C).
Đối tợng T
0
trực tràng T
0
da trung bình T
T
0
da T
0
trực tràng T
0
phòng
T
0
da 1 - 0,95** - 0,96**
T
0
trực tràng - 0,95** 1 - 0,95**
T
0
phòng - 0,96** - 0,95** 1
Nhận xét: Bảng 3 cho thấy có mối tơng
quan rất chặt chẽ giữa các biến trên (trị tuyệt
đối của R > 0,9).
Phơng trình hồi qui:
T
0
da = 0,448 T
0
trực tràng + 0,206 T
0
phòng + 11,025
Các tham số của phơng trình:
hơn cơ thể cũng vẫn cảm thấy thoải mái có lẽ
do độ ẩm thấp cơ thể đỡ có cảm giác cóng
,
và cảm giác
ẩm ớt
các cảm giác này đều
có ảnh hởng đến cảm giác
thoải mái
của các
ĐTNC [7].
Từ kết quả trên cho thấy nhiệt độ thích hợp
trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với
các nghiên cứu ở ngời Châu Âu và Bắc Mỹ [6,
7]. Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu
của một số tác giả trong khu vực Đông Nam á
[6]. Trong nghiên cứu của mình trên hai nhóm
đối tợng ở Indonesia và Singapore, tác giả
Henry Feriai và cộng sự thấy nhiệt độ thích hợp
36
TCNCYH 25 (5) - 2003
là 27- 29
0
C với điều kiện độ ẩm tơng đối là
70%. Tuy vậy kết quả này cũng cha khẳng
23
o
C và phần lớn các đối tợng nghiên cứu đều
cảm thấy lạnh hoặc hơi lạnh, do vậy cơ thể
phải tăng mức sản nhiệt làm cho T
0
trực tràng
đạt giá trị tối đa. T
0
da giảm thấp do chịu ảnh
hởng trực tiếp bởi nhiệt độ thấp của môi
trờng và do cơ thể phải điều chỉnh giảm T
0
da
(do co mạch máu ngoại vi) để đạt đợc một
cân bằng nhiệt cần thiết giữ thân nhiệt cho cơ
thể [7]. Ngợc lại, trong các giai đoạn sau của
quá trình nghiên cứu do T
0
phòng tăng cao cơ
thể phải giảm sản nhiệt do vậy nhiệt độ trung
tâm giảm. Trong 20 phút cuối của quá trình
nghiên cứu T
0
trực tràng tăng lên (mặc dù cha
có ý nghĩa thống kê ) có thể do ảnh hởng trực
tiếp của việc tăng T
0
phòng. T
0
này luôn bị ảnh hởng bởi nhiệt độ môi trờng.
Sự tơng quan đa chiều này đợc đánh giá
thông qua phơng trình hồi qui trên cho thấy
nhiệt độ môi trờng (T
0
phòng) là nguyên nhân
tạo ra sự thay đổi T
0
trực tràng và T
0
da.
Tuy nhiên để một lần nữa khẳng định nhiệt
độ thích hợp cho ngời Việt Nam cũng nh
đánh giá hoạt động của cơ chế điều nhiệt
chúng tôi cần có những nghiên cứu sâu hơn,
trên các mẫu lớn hơn.
v. Kết luận
- Nhiệt độ thích hợp của 20 đối tợng nam
và 20 đối tợng nữ là 24 - 28
0
C trong điều kiện
độ ẩm tơng đối 35 - 40%.
- Có mối tơng quan chặt chẽ giữa T
0
da, T
0
trực tràng và T
0
phòng
Nam. Tập san Thông báo kết quả nghiên cứu
Khoa học Công nghệ về AT - SK & MTLĐ, Số
1 + 2: 83 - 91.
5. Hang Nguyen My, Hiromi Tokura
(2000). A comparison of body, core
temperature and urinary melatonin between
Vietnames and Japaneses. The 6th Asian
conference on clothing and working physiology
under warm environment. Ha Noi, 2-3 Dec.
6. Henry Feriadi, N. H Wong, S. Chandra,
K.W Cheong, K.W. Tham (2003): Themal
comfort perception and expectation of two
population: Indonesia and Singapore. Building
envelope and indoor environment 2.
7. ISO - 7730 (1994): Moderate thermal
environments - Determination of the PMV and
PPD indices and specification of the conditions
for thermal comfort.
Summary
Thermal comfort in the dry environment and
responses of the human body to changing the room
temperature
The aim of the present study is to identify the thermal comfort and responces of the human
body to changing the experimental room temperature in Vietnameses. The study were carried on
40 volunteered healthy students, including 20 males and 20 females. The subjects wore short
sleeved T- shirt, full- length trousers and sandals. The local skin temperatures from 7 sites (head,
chest, arm, hand, thigh, leg, foot) and rectal temperature were measured continuously everymin.
All the subjects entered and sat 10 min in the experimental room with the air temperature of 22