Tài liệu Nghiên cứu tác dụng bảo vệ của củ Tam Thất (Radix Nôtginseng) trên chuột cống trắng gây viêm gan thực nghiệm - Pdf 10

TCNCYH 27 (1) - 2004
Nghiên cứu tác dụng bảo vệ của củ tam thất
(Radix Notoginseng) trên chuột cống trắng
gây viêm gan thực nghiệm

Dơng Thị Ly Hơng
1
,
Nguyễn Trần Giáng Hơng
2
, Phạm Xuân Sinh
1
1
Đại học Dợc Hà Nội,
2
Đại học Y Hà Nội

Để đánh giá tác dụng bảo vệ gan của củ tam thất, chúng tôi sử dụng hai mô hình gây
viêm gan bằng đờng carbon tetrachlorid (CCl
4
) và paracetamol (PAR) liều cao trên chuột
cống trắng thực nghiệm. Kết quả cho thấy:
CCl
4
(50% trong dầu oliu) với liều 1,4 ml/kg, tiêm màng bụng hai lần cách nhau 48
giờ đã làm tăng nồng độ enzym lên 173,2% và SGPT lên 234,6% một cách rõ rệt so với lô
chứng (p < 0,001). Chỉ số De Ritis bằng 3,6 - ít thay đổi so với bình thờng.
PAR với liều 2 g/kg, đờng uống đã làm tăng một cách rõ rệt nồng độ enzym SGOT
lên 6458,5% và SGPT lên 837,5% so với lô chứng (p < 0,001). Chỉ số DE Ritis tăng rất
cao bằng 30,7 - trong khi bình thờng là 4,4.
Tam thất với liều 5g/kg thân trọng đã làm giảm rõ rệt sự tăng nồng độ enzym SGOT

những ứng dụng trên lâm sàng, chúng tôi
tiến hành đề tài nghiên cứu này với mục
tiêu:
Đánh giá tác dụng bảo vệ gan của củ
tam thất (Radix Notoginseng) thông qua sự
thay đổi nồng độ enzym SGOT, SGPT
trong huyết thanh chuột và sự thay đổi
hình ảnh mô bệnh học gan chuột trên hai
mô hình gây viêm gan bằng CCl
4
và PAR
liều cao ở chuột cống trắng thực nghiệm.
39
TCNCYH 27 (1) - 2004
II. Chất liệu, đối tợng và phơng
pháp nghiên cứu
1. Chất liệu:
Tam thất do công ty cổ phần Traphaco
cung cấp, loại 6 củ/100 gram.
Sắc theo phơng pháp sắc đông y đợc
dịch chiết toàn phần trong nớc tỷ lệ 1: 2
(100 gram dợc liệu tơng ứng với 200 ml
dịch chiết).
2. Đối tợng:
Chuột cống trắng khoẻ mạnh cả hai
giống, trọng lợng trung bình từ 120 - 150
gram, và từ 160 - 180 gram, đợc nuôi tại
bộ môn Dợc lý trờng Đại học Y Hà Nội
trong điều kiện đầy đủ thức ăn và nớc
uống.

ml/100g
Lô 2: uống NaCl 0,9% - 1 ml/100g.
Lô 3: uống Silymarin 25 mg/kg pha
trong CMC 1% - 1 ml/100 g
Lô 4: uống tam thất với liều 5g/kg -
1ml/100g.
Chuột đợc uống thuốc 5 ngày trớc khi
gây độc. Ngày thứ 6, tiêm màng bụng
dung dịch CCl
4
(50% trong dầu oliu) 1,4
ml/kg cho tất cả chuột ở các lô 2, 3, 4 tiêm
2 lần cách nhau 48 giờ. 24 giờ sau lần gây
độc cuối, giết chuột lấy máu định lợng
enzym SGOT và SGPT, lấy gan làm tiêu
bản mô bệnh học.
uống thuốc hoặc uống NaCl 0,9%

1 2 3 4 5 6 7 8 9

ngày
tiêm CCl
4
tiêm CCl
4
giết chuột lấy máu
Sơ đồ nghiên cứu
2. Mô hình gây viêm gan thực nghiệm
bằng PAR liều cao.
Chuột cống trắng 120 - 150g, đợc chia

trong huyết thanh chuột gây viêm gan bằng CCl
4
(n= 10)
Lô Thuốc dùng SGOT (UI/l) % thay
đổi
SGPT
(UI/l)
% thay
đổi
De Ritis
1 NaCl 0,9%
118,210,5

26,9 2,5
4,4
2 NaCl 0,9% + CCl
4
321,853,4
***
172,3
()
90,0 10,2
***
234,6
()
3,6
3 Silymarin + CCl
4
230,381,8
a*

4
. Kết
quả đợc thể hiện ở bảng 2.
Bảng 2: ảnh hởng của tam thất trên sự thay đổi nồng độ SGOT, SGPT
trong huyết thanh chuột gây viêm gan bằng PAR (n= 10)
Lô Thuốc dùng SGOT (UI/l) % thay đổi SGPT (UI/l) % thay đổi De Ritis
1 NaCl 0,9%
118,210,5

26,9 2,5
4,4
2 NaCl 0,9% + CCl
4
7752,1448,5
***
6458,5
()
252,2 34,6
***
837,5
()
30,7
3 Silymarin + CCl
4
228,783,9
a***
97,1
()
48,0 16,2
a***

3. ảnh hởng của tam thất lên hình
ảnh mô bệnh học của gan chuột cống
trắng gây nhiễm độ bằng CCl
4
.
Kiểm tra hình ảnh mô bệnh học gan
chuột tại bộ môn Giải phẫu trờng Đại học
Y Hà Nội, kết quả nh sau: Hình 1 (x 200) - Lô uống NaCl 0,9%:
Cấu trúc các tiểu thuỳ gan rõ. Tĩnh mạch
trung tâm và các xoang tĩnh mạch không
giãn, không xung huyết, khoảng cửa
không có xâm nhập viêm.
Hình 2 (x 200) - Lô uống NaCl 0,9% +
CCl
4
: Hầu hết các tiểu thuỳ gan có thoái
hoá thũng đục và thoái hoá hạt diện rộng
quanh tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ.
Khoảng cửa có xâm nhập tế bào viêm.
Hình 3 (x 200) - Lô uống Silymarin +
CCl
4
: Hầu hết các tế bào gan có các hốc
mỡ nhỏ, không gây biến dạng tế bào.
Không có hoại tử tế bào gan cũng nh
hoại tử mối gặm. Khoảng cửa có xâm nhập
viêm nhẹ.

Hình 7 (x 200) - Lô uống Silymarin +
PAR: Nhu mô gan tơng đối bình thờng.
Không thấy có các hình ảnh tổn thơng.
Hình 8 (x 200) - Lô uống tam thất +
PAR: Các tế bào gan có thoái hoá thũng
đục và thoái hoá hạt nhẹ. Các xoang mạch
trung tâm không giãn, tế bào quanh tĩnh
mạch trung tâm không bị tổn thơng. Rải
rác có ổ hoại tử nhỏ và xâm nhập tế bào
viêm. Có tăng sinh, tái tạo tế bào gan.

IV. Bàn luận
CCl
4
là một chất hữu cơ cơ bản chất
không gây độc. Khi vào cơ thể CCl
4
sẽ
đợc chuyển hoá tại Cyt P
450
ở mạng nội
bào tơng gan để tạo thành CCl
3

. Chính
gốc tự do CCl
3


có hoạt tính cao là tác

dụng gây độc của CCl
4
trên gan và tác
dụng bảo vệ gan của Silymarin [3]
PAR là một thuốc hạ sốt, giảm đau
đang đợc sử dụng rộng rãi trên toàn thế
giới. Trong cơ thể, PAR đợc chuyển hoá
qua hệ thống Cyt P
450
ở gan để tạo thành
Nacetyl P - benzoquioneimine (NAPQI).
NAPQI là một chất độc đối với tế bào. Tuy
nhiên nếu sử dụng PAR ở liều điều trị thì
lợng NAPQI sinh ra thấp sẽ đợc trung
hoà ngay bởi GSH của gan và do đó
không gây độc cho gan. Khi dùng PAR liều
cao, lợng NAPQI đợc sinh ra nhiều,
lợng GSH trong gan không đủ để trung
hoà hết chất độc, khi ấy tế bào gan sẽ bị
tổn thơng [9].
Trong nghiên cứu của chúng tôi, PAR
với liều 2g/kg đã làm tăng nồng độ SGOT
và SGPT lên 6458,5% và 837,5% tơng
ứng một cách rõ rệt so với lô chứng (p <
0,001) cho thấy tác dụng độc của PAR liều
cao trên gan. Chỉ số De Ritis tăng rất cao,
tới 30,7% (trong khi bình thờng chỉ là 4,4),
điều này chứng tỏ PAR đã làm tổn thơng
tế bào gan ở mức ty thể. So sánh với tác
dụng gây độc của CCl

chúng tôi cho thấy Tam thất với liều 5g/kg
có tác dụng bảo vệ gan rõ rệt trên cả hai
mô hình gây viêm gan bằng CCl
4
và bằng
PAR liều cao, tác dụng này tơng đơng
với Silymarin liều 25 mg/kg. Điều này cho
phép mở ra một hớng điều trị mới đối với
tam thất: điều trị các bệnh gan. Tuy nhiên
để khẳng định kết quả cần có những
nghiên cứu sâu hơn.
V. Kết luận
Qua nghiên cứu nghiên cứu, chúng tôi
rút ra một số kết luận sau:
1. CCl
4
50% trong dầu oliu với liều 1,4
ml/kg, tiêm màng bụng hai lần - cách nhau
48
h
đã làm tăng nồng độ enzym SGOT và
SGPT trong huyết thanh chuột cống trắng
lên 172,3% và 234,6% một cách rõ rệt so
với lô chứng (p<0,001).
2. Paracetamol với liều 2g/kg thể trọng
đã làm tăng đáng kể nồng độ enzym
SGOT và SGPT trong huyết thanh chuột
cống trắng lên 6458,5% và 837,5% so với
lô chứng (p < 0,001). Chỉ số De Ritis tăng
rất cao, bằng 30,7 (trong khi bình thờng

Hồ Chí Minh, 32-42.
2. Đào Văn Phan (2000) "Silymarin
(Legalon) - Đặc điểm dợc lý và các ứng
dụng trong lâm sàng" - Hội thảo khoa học
Legalon và ứng dụng Hà Nội, 12-15.
3. Lại Thị Vân (2003) "Nghiên cứu ứng
dụng bảo vệ gan và một số tác dụng dợc
lý có liên quan của cây nhó đông
(Psychotria morindoidess hutch -
Rubiaceae)" - Luận văn thạc sĩ y học,
trờng Đại học Y Hà Nội.
4. Vũ Đình Vinh (2001) "Hớng dẫn sử
dụng các xét nghiệm sinh hoá". Nhà xuất
bản Y học, 251-252.
5. Bermeyer H V (1986). J Clin Chem
Biochem 24, 497.
6. Chun-Ching Lin et al (2000)
"Antioxidant and hepatoprotectve effects of
Anoectochilus formosanus and
Gynostemma pentaphyllum" - Am. J. Chin.
Med. 28 (1), 87-96.
7. Dhawan B N (1997)
"Hepatoprotective activity of natural
products experimental evaluation" -
International workshop medicinal plants
their bioactivity. Screening and evaluation
lucknow, L15.
8. Jung-Chou Chen et al (2000)
"Therapeutic effect of Gypenoside on
chronic liver injury and fibrosis induced by

- and PAR induced hepatic infuries.
45


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status