Báo cáo nghiên cứu khoa học: " XÁC ĐỊNH MỘT SỐ HỢP CHẤT VÀ TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA DỊCH CHIẾT NẤM HOÀNG CHI TRÊN TẾ BÀO NẤM MEN KHI BỊ CHIẾU TIA CỰC TÍM" - Pdf 19



103
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 57, 2010 XÁC ĐỊNH MỘT SỐ HỢP CHẤT VÀ TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA DỊCH CHIẾT
NẤM HOÀNG CHI TRÊN TẾ BÀO NẤM MEN KHI BỊ CHIẾU TIA CỰC TÍM
Cao Đăng Nguyên
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Sử dụng 4 chủng C1, C4, C15 và C16 thuộc loài nấm Hoàng chi (Ganoderma
colossum) đã nuôi trồng thành công trên giá thể keo tai tượng để đánh giá khả năng tích lũy
một số hợp chất cơ bản và bước đầu tìm hiểu tác dụng dược lý của nấm nuôi trồng này, kết quả
cho thấy:
Hầu hết các chủng nấm Hoàng chi nuôi trồng đều có khả năng tích lũy cellulose và tinh
bột cao hơn hẳn nấm tự nhiên; trong khi đó sự tích lũy dextrin và pectin có sự sai khác phức tạp
giữa nấm tự nhiên cũng như giữa các chủng nuôi trồng. Trong các nấm nuôi trồng, chủng C15
và C16 có tỷ lệ thành phần của các chất polysaccharide nghiên cứu gần với nấm tự nhiên hơn
cả. Trừ chủng C1, các chủng nấm còn lại có hàm lượng protein hòa tan tổng số cao gấp hơn hai
lần so với nấm tự nhiên và khả năng hòa tan của protein trong các dung môi rất khác nhau,
chúng thường tan tốt trong môi trường kiềm và ít tan hơn trong môi trường nước. Dịch chiết
nấm Hoàng chi nuôi trồng ở nồng độ 3,67% có khả năng bảo vệ tế bào nấm men S. cerevisiae
với tỷ lệ sống sót từ 22-53% khi bị chiếu tia cực tím ở bước sóng λ = 253,7nm trong thời gian
chiếu từ 2- 10 giây.

1. Mở đầu
Hoàng chi (Ganoderma colossum) là loài đặc biệt quý hiếm vừa mới phát hiện
và đã được nuôi trồng thành công tại Thừa Thiên Huế [1]. Nó có thể được coi là loài đặc
hữu của Việt Nam [1], [18]
Trong nấm Linh chi nói chung, có nhiều nhóm nhóm hoạt chất như

- Phương pháp định lượng dextrin bằng phương pháp kết tủa với cồn [15].
- Phương pháp định lượng pectin bằng phương pháp canxi pectat [15].
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu protein
- Xác định hàm lượng protein bằng phương pháp Bradford [3].
2.2.3. Phương pháp tìm hiểu tác dụng của dịch chiết nấm Hoàng chi trên nấm
men dựa trên nguyên tắc chiếu tia cực tím (UV) trực tiếp ở bước sóng λ = 253,7 nm để
gây đột biến tế bào nấm men [2], [22].
3. Kết quả và bàn luận
3.1. Xác định một số thành phần hợp chất thuộc polysaccharide
Hikino, H. và cộng sự (1985-1989) đã chứng minh hoạt lực hạ đường huyết của
nhiều polysaccharide. Đó là các heteroglycan có cả hoạt tính chống ung thư [19]. Các
polysaccharide, đặc biệt là β- D glucan của Ganoderma lucidum có tác dụng chống khối
u, tăng khả năng miễn dịch [11]. Ngoài ra các thành phần polysaccharide hòa tan trong
nước như chất xơ pectin và dịch nhầy dextin có tác dụng chống táo bón, giảm 105
cholesterol huyết, giảm nguy cơ xơ vữa động mạch, u mạch máu đặc biệt chống các
bệnh ung thư đường tiêu hóa hữu hiệu [7], [16], [23].
Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành tìm hiểu về khả năng tích lũy một số các hợp
chất thuộc polysaccharide ở các chủng Hoàng chi nghiên cứu. Kết quả thu được ở bảng 1.
Bảng 1. Hàm lượng (%) các hợp chất thuộc polysaccharide trong các chủng Hoàng chi
Hàm lượng
(%)
Chủng
C1 C4 C15 C16 MTN*
Cellulose 49,95 ± 0,04

48,96 ± 0,15


xấp xỉ 13%.
Kết quả này tương đối phù hợp với các nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị
Chính và cs trên loài Hồng chi (Ganoderma lucidum) nuôi trồng (6-20%).
Hàm lượng dextrin trong các chủng nấm nghiên cứu từ 2-3,5%. Hàm lượng này
ở chủng C16 gần giống so với mẫu thu hái tự nhiên (xấp xỉ 3,5%). Trong khi đó, ở các
chủng còn lại hàm lượng dextrin chỉ đạt từ 2- 2,6%, chúng đều thấp hơn so với mẫu
nấm tự nhiên.
Sự tích lũy pectin ở các chủng nấm nghiên cứu không giống nhau. Hàm lượng 106
pectin cao nhất ở chủng C4 và C16 (xấp xỉ 31%); thấp nhất ở chủng C15 (24%). Trong
khi ở chủng C1 cho kết quả khá giống với nấm thu hái tự nhiên, chúng đều xấp xỉ 28%.
- Đánh giá về tỷ lệ hàm lượng các hợp chất thuộc polysaccharide
Chúng tôi cho rằng, tác dụng dược lý của nấm Linh chi không chỉ phụ thuộc vào
thành phần mà còn phụ thuộc vào tỷ lệ các thành phần của các hợp chất trong nấm. Trên
cơ sở phân tích hàm lượng của một số hợp chất thuộc polysaccharide ở các chủng
Hoàng chi nghiên cứu, chúng tôi tiến hành đánh giá tỷ lệ các thành phần của cellulose,
tinh bột, dextrin và pectin trên bảng 2.
Bảng 2. Tỷ lệ giữa cellulose : tinh bột : dextrin : pectin
TT Cellulose: Tinh bột: Dextrin: Pectin
Chủng C1 19: 7: 1: 11
Chủng C4 23: 7: 1: 16
Chủng C15 17: 5: 1: 9
Chủng C16 14: 4: 1: 9
MTN* 12: 4: 1: 8
MNN* Sử dụng kết quả đã công bố
Qua bảng 2, chúng tôi nhận thấy trong 4 chủng nuôi trồng chủng C1 và C4 tỷ lệ
này khác so với nấm tự nhiên, nhưng chủng C16 và sau đó là chủng C15 có tỷ lệ giữa
cellulose, tinh bột, pectin, dextrin gần giống so với nấm tự nhiên hơn cả. Từ đó cho thấy,

chủng C15 (4,23%) ; ở chủng C4 là 3,64% và C15 là 3,76% (chúng đều cao gấp khoảng
2 lần so với mẫu nấm thu hái tự nhiên (1,79%)). Tuy nhiên, hàm lượng này ở chủng C1
chỉ đạt 1,3%, thấp hơn nhiều so với nấm tự nhiên.
Đánh giá tỷ lệ cellulose và protein :
Như đã biết, trong các thành phần các hợp chất trong nấm Linh chi, cellulose và
protein là hai hợp chất quan trọng bậc nhất. Điều đó được thể hiện qua công bố của
Ukai S. và cs (1983) về thành phần hoạt chất trong nấm Linh chi và đã kết luận rằng
phức hợp polysaccharide - protein có hoạt tính chống khối u và tăng khả năng miễn dịch
[21]. Ngoài ra, các nghiên cứu về polysaccharide không tan trong nước của các tác giả
Nhật Bản và Trung Quốc chứng tỏ hiệu lực chống khối u rất rõ, thậm chí làm tan khối u
với tỷ lệ ¾ với các loài Ganoderma applanatum và Ganoderma lucidum [19]. Trên cơ
sở đó, chúng tôi đánh giá tỷ lệ cellulose/ protein, kết quả được trình bày ở bảng 4.
Bảng 4. Tỷ lệ giữa hàm lượng cellulose và protein hòa tan tổng số
Chủng C1 C4 C15 C16 MTN*
Tỷ lệ cellulose/
protein
38 : 1 13 : 1 11 : 1 13 : 1 22 : 1
MTN*: sử dụng kết quả đã công bố
Qua bảng 4 chúng tôi nhận thấy, trong bốn chủng nấm nuôi trồng, không có
chủng nào có tỷ lệ cellulose/protein gần giống nấm tự nhiên. Cụ thể là: tỷ lệ giữa
cellulose/protein của ở ba chủng C4, C15 và C16 là tương đối giống nhau (xấp xỉ 13 : 1).
Riêng chủng C1 là xấp xỉ 38 : 1, cũng khác xa với nấm tự nhiên. Như vậy, liệu chất
lượng nấm nuôi trồng ảnh hưởng như thế nào khi tỷ lệ các thành phần trên không giống
với nấm tự nhiên là vấn đề cần nghiên cứu tiếp tục để đánh giá và có thể đưa ra những
kết luận xác đáng về công hiệu của các nấm này.
Khả năng hòa tan của protein trong một số loại dung môi:
Protein có khả năng hòa tan trong các dung môi khác nhau. Để tìm hiểu tính chất
này, chúng tôi chiết rút protein trong một số loại dung môi: H
2
O, dung dịch NaCl 1M,

2
0
0,26 ±
0,03
20,8
0,25 ±
0,03
6,9
1,99 ±
0,02
47
0,47 ±
0,02
12,5
1,22 ±
0,04
68,16
NaCl
0,38 ±
0,03
30,4
0,09 ±
0,04
2,5
2,96 ±
0,03
70
2,64 ±
0,09
70,21

88,4
3,49 ±
0,03
92,82

1,35 ±
0,01
75,42
PBS pH 8
1,21 ±
0,03
96,8
2,64 ±
0,05
73
3,52 ±
0,05
83,2
2,84 ±
0,05
75,53

0,92 ±
0,04
51,4
Protein tổ
ng
số
1,3 ±
0,03

chiếu 2 giây và chết ồ ạt đến 100% ở liều chiếu 12 giây. Xác định tỷ lệ tế bào sống sót
sau khi chiếu tia cực tím 2 giây, 4 giây, 6 giây, 8 giây,10 giây và 12 giây. Các thí nghiệm
được lặp lại 3 lần với 5 đĩa thí nghiệm mỗi lần. Kết quả được trình bày ở bảng 6 và hình
1.
Bảng 6. Ảnh hưởng của dịch chiết nấm Hoàng chi nồng độ 3,67% lên độ sống sót của
S. cerevisiae bị chiếu tia cực tím
TT
Số lượng khuẩn lạc trung bình/ đĩa
Đối chứng 1* 506 ± 15,52
Thời gian
chiếu (giây)

2 4 6 8 10 12
Đối chứng 2

204 ± 9,67

60 ± 3,28 42,67 ± 4,67

38,33 ± 6,70 2,67 ± 0,67

0
Thí nghiệm 270 ± 7,15

201,67 ± 8,41

175 ± 4,04 129,33 ± 2,92

109 ± 5,56


4. Kết luận
- Hầu hết các chủng nấm Hoàng chi nuôi trồng đều có khả năng tích lũy
cellulose và tinh bột cao hơn hẳn nấm tự nhiên; trong khi đó sự tích lũy dextrin và
pectin có sự sai khác phức tạp giữa nấm tự nhiên cũng như giữa các chủng nuôi trồng.
- Trong các nấm nuôi trồng, chủng C15 và C16 có tỷ lệ thành phần của các chất
polysaccharide nghiên cứu gần với nấm tự nhiên hơn cả.
- Trừ chủng C1, các chủng nấm còn lại có hàm lượng protein hòa tan tổng số cao
gấp hơn hai lần so với nấm tự nhiên và khả năng hòa tan của protein trong các dung môi
rất khác nhau, chúng thường tan tốt trong môi trường kiềm và ít tan hơn trong môi
trường nước.
- Dịch chiết nấm Hoàng chi nuôi trồng ở nồng độ 3,67% có khả năng bảo vệ tế
bào nấm men S. cerevisiae với tỷ lệ sống sót từ 22 - 53% khi bị chiếu tia cực tím ở bước
sóng λ = 253,7nm trong thời gian chiếu từ 2 - 10 giây.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Anh, Trần Đình Hùng. Một số nấm dược liệu được nuôi trồng thành công tại Thừa
Thiên Huế. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển 4- 5 : (2005) 68- 70.
2. American Society Microbiology. Manual of Methods for General Bacteriology,
Washington, DC 20006, (1981), 224-226.
Đối chứng1
Đối chứng 2 Thí nghiệm 111
3. Bradford M.M. A rapid and sensitive method for the quantitation of microgram
quantities of protein utilizing the principle of protein-dye binding, Analytical
Biochemistry, 72, (1976), 248-254.
4. Nguyễn Thị Chính , Vũ Thành Công, Ick-Dong Yoo, Jong-Pyung Kim, Đặng Xuyến
Như, Dương Hồng Dinh. Nghiên cứu một số thành phần và hoạt chất sinh học của nấm
Linh chi Ganoderma lucidum nuôi trồng ở Việt Nam. Báo cáo Hội nghị Sinh học toàn
quốc, Hà nội (2005) 429-432

112

13. Kino K, Yamashita A, Yamaoka K et al. Isolation and characterization of a new
immunomodulatory protein, Ling Zhi-8, from Ganoderma lucidum. J Biol Chem, (264),
(1989), 47-472.
14. Kleinwachter P. , Ngo Anh, Trinh Tam Kiet, Schlegel B., Dahse H. M., Hartl A. M
Grafe U. Colossolactones, New Triterpenoid Metabolites from a Vietnamese mushroom
Ganoderma colossum, J. Nat. Prod. 64(2). (2001) 236-239.
15. Nguyễn Văn Mùi, Thực hành hóa sinh học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
16. Sanchez D., Muguerza B., Moulay L., Hernández R., Miguel M. and Aleixandre A.
Highly Methoxylated Pectin Improves Insulin Resistance and Other Cardiometabolic
Risk Factors in Zucker Fatty Rats. Journal of Agricultural and Food Chemistry, 56 (10),
(2008), 3574-3581.
17. Phạm Văn Số, Bùi Thị Như Thuận. Kiểm nghiệm lương thực, thực phẩm, Nxb Khoa
học và Kĩ thuật, Hà Nội, (1975), 250-266.
18. Lê Xuân Thám. Nấm Linh chi cấy thuốc quý. Nxb Khoa học và Kỹ thuật, 1998.
19. Lê Xuân Thám, Nấm Linh chi – Dược liệu quý ở Việt Nam, Nxb Mũi Cà Mau, 1996.
20. Ngô Thị Ái Thương, Phạm Thuỳ Linh, Nguyễn Thị Chính. Khả năng sửa chữa đột biến
gen của nấm linh chi Ganoderma lucidum đối với Saccharomyces cerevisiae., Tóm tắt
các báo cáo khoa học tại Hội nghị khoa học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Hà
Nội, (2004), 204-205.
21. Ukai S; Kiho T; Hara C; Kuruma I; Tanaka Y. Polysaccharides in fungi. XIV. Anti-
inflammatory effect of the polysaccharides from the fruit bodies of several fungi. J
Pharmacobiodyn, 6 (12), (1983) 90-983.
22. Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (1983), Sổ tay phân tích Đất - Nước - Phân bón - Cây
trồng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, 1983.
23. Zhao, J. D. and Zhang, X. Q. Resources and taxonomy of Ling zhi in China”,
International Symposium on Ganoderma Research. Beijing, Beijing Medical
University, (1994), 24-26.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status