TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
87
XÁC ĐỊNH CÁC GIÁ TRỊ NGHỀ NGHIỆP CẦN GIÁO
DỤC
CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TIỂU HỌC HIỆN NAY
DEFINING A CAREER’S ESSETIAL VALUES TO TRAIN STUDENTS
OF PRIMARY EDCUATION
NGUYỄN HOÀNG HẢI
Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Giáo dục giá trị nghề nghiệp là con đường cơ bản để nâng cao chất lượng đào tạo của
nhà trường sư phạm, góp phần xây dựng đội ngũ giáo viên có đủ phẩm chất và năng
lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế. Trong thực tiễn đào tạo giáo viên tiểu học, việc giáo dục giá trị nghề
nghiệp cho sinh viên còn có nhiều hạn chế, đặc biệt là chưa định hình được một cách
cụ thể nội dung giáo dục giá trị nghề nghiệp. Bài báo này thực hiện việc xác định hệ
thống các giá trị nghề nghiệp cần phải giáo dục cho sinh viên sư phạm tiểu học ở nước
ta hiện nay.
ABSTRACT
One of the basic ways to improve training quality at colleges of education is to teach a
career’s essential values to students. Equipped with this knowledge, students are
definitely becoming qualified teachers to meet the high demand of educational
innovation in the period of industrialization, modernization and international integration.
However, our primary education programs are having some limitations because these
necessary values have not been specified properly. This article will then discover and
define them to apply to primary education programs in Vietnam.
1. Đặt vấn đề
đại. Bên cạnh đó, hệ thống GTNN cần giáo dục cho sinh viên cũng chưa được xác định
một cách cụ thể, rõ ràng. Điều này đã dẫn đến sự thiếu hụt những định hướng GTNN
cần thiết trong nhân cách của người sinh viên khi họ bước vào nghề, và do vậy, làm hạn
chế khả năng của họ trong việc tự hoàn thiện bản thân để có thể theo kịp với sự phát
triển không ngừng của xã hội. Trên thực tế, đội ngũ nhà giáo nước ta cũng đang bộc lộ
nhiều điểm bất cập khi đứng trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục hiện
nay. Đặc biệt, trong đội ngũ giáo viên tiểu học (GVTH), nhiều người còn chưa nhận
thức đúng và đầy đủ về vai trò cũng như trách nhiệm to lớn của mình, chỉ coi dạy học là
dạy chữ chứ chưa phải là dạy người theo nghĩa đầy đủ nhất. Thực trạng đó đặt ra đòi hỏi
bức bách là phải xác định được hệ thống GTNN phù hợp để giáo dục cho sinh viên sư
phạm, trước hết là sinh viên sư phạm tiểu học (SVSPTH).
2. Về khái niệm giá trị nghề nghiệp giáo viên tiểu học
Giá trị là phạm trù cơ bản của triết học, giờ đây được sử dụng rộng rãi trong đời sống
hàng ngày cũng như trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Thông thường, khi nói
đến giá trị là nói đến tính ích lợi, tính có ý nghĩa của các đối tượng trong hiện thực khách
quan đối với cuộc sống của cá nhân, của nhóm và xã hội. Tính ích lợi, tính có ý nghĩa của
đối tượng có thể bao hàm cả mặt tích cực và tiêu cực. Song, quan niệm chung về giá trị
vẫn luôn khẳng định mặt chính diện, tính có ý nghĩa tích cực, đáng quý, có ích của các đối
tượng đối với chủ thể. Nhà xã hội học J. H. Fichter cho rằng: “Tất cả cái gì có ích lợi,
đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân, hoặc xã hội đều có một giá trị” [5; tr
173-174]. Như vậy, khái niệm giá trị cần được hiểu một cách tường minh bao gồm cả
kinh nghiệm, tri thức, vốn sống, kỹ thuật, kỹ năng và công cụ lao động. Giá trị là cái dùng
để chỉ các phẩm chất và đức tính cao quý của con người, là cái được đa số người trong xã
hội ao ước và cùng nhau chia sẻ. Giá trị gắn liền với cái hay, cái đẹp, cái đúng, cái tốt, cái
có khả năng thôi thúc con người nỗ lực hành động để vươn tới lý tưởng chân, thiện, mỹ.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
89
Nguồn gốc của giá trị nằm trong hiện thực khách quan, nó vốn là đặc tính của một đối
tượng nhất định. Đặc tính này trở thành giá trị khi nó được chủ thể phát hiện, đánh giá và
chấp nhận. Nhà giáo dục học Nhật Bản T. Makiguchi đã khẳng định: “ Giá trị là sự thể
muốn đạt được.
− Các yếu tố quy định mục đích lao động sư phạm của người GVTH cũng như các
yếu tố mà người GVTH cần có để đạt được mục đích lao động sư phạm của
mình.
− Các yếu tố tạo nên văn hóa sư phạm GVTH, chúng có tác dụng giáo dục ý thức
nghề nghiệp và làm phát triển nhân cách sư phạm của người GVTH.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
90
3. Xác định các GTNN cần giáo dục cho SVSPTH ở nước ta hiện nay
Xác định các giá trị để giáo dục cho học sinh, sinh viên là một công việc phức
tạp, bởi những giá trị cần giáo dục là vô số, trong khi yêu cầu của giáo dục lại đòi hỏi
phải lựa chọn một số giá trị cơ bản, tối thiểu, vừa đáp ứng yêu cầu xã hội, vừa phù hợp
với đối tượng giáo dục. SVSPTH là một đối tượng đặc biệt, họ đang được đào tạo để trở
thành nhà giáo dục. Vì thế, việc xác định các giá trị để giáo dục cho SVSPTH cần phải
dựa vào Mục đích giáo dục và Mục tiêu đào tạo cử nhân giáo dục tiểu học. Bởi lẽ, trong
Mục đích giáo dục có các yếu tố quy định mục đích lao động sư phạm của người
GVTH, còn trong Mục tiêu đào tạo cử nhân giáo dục tiểu học lại hàm chứa các yếu tố
mà người GVTH cần có để đạt được mục đích lao động của mình.
3.1. Xác định các giá trị có trong Mục đích giáo dục
Mục đích giáo dục là sản phẩm dự kiến của quá trình giáo dục, là mẫu hình lý
tưởng về nhân cách con người mà xã hội mong muốn đào tạo nên. Mục đích giáo dục ở
nước ta hiện nay là đào tạo ra lớp người có đủ phẩm chất và năng lực để đáp ứng những
yêu cầu xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế. Đó là những con người mà trong nhân cách của họ phải bao gồm một hệ thống
các giá trị vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa mang tính hiện đại. Hệ thống giá trị này đã
được nêu trong nhiều văn kiện của Đảng và nhà nước ta. Đặc biệt, trong Văn kiện Hội
nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, hệ thống giá trị này được cụ
thể hóa như sau:
− Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH,
có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân
nay. Việc giáo dục các giá trị này cho học sinh, sinh viên là trách nhiệm của đội ngũ
giáo viên trong các nhà trường ở mọi cấp học, bậc học, ngành học. Ở bậc tiểu học,
người giáo viên càng có trách nhiệm to lớn hơn, bởi ở bậc học này, giáo viên là ông
thầy tổng thể, là người giáo dục học sinh một cách toàn diện về mọi mặt. Trách nhiệm
đó đòi hỏi mỗi người GVTH, ngay từ khi còn là sinh viên trong nhà trường sư phạm,
phải lĩnh hội được một cách đầy đủ và sâu sắc các giá trị căn bản làm nền tảng cho nhân
cách con người Việt Nam. Vì thế, các giá trị nêu trên chính là một bộ phận không thể
thiếu trong hệ thống các GTNN mà nhà trường cần phải giáo dục cho SVSPTH.
3.2. Xác định các giá trị có trong Mục tiêu đào tạo cử nhân giáo dục tiểu học
Cùng với Mục đích giáo dục, Mục tiêu đào tạo cử nhân giáo dục tiểu học cũng là
một căn cứ quan trọng để xác định các GTNN cần giáo dục cho SVSPTH. Ở nước ta,
Mục tiêu đào tạo cử nhân giáo dục tiểu học được nêu trong Chương trình khung giáo
dục đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2006 [2]. Nội dung của Bản Mục
tiêu quy định những yêu cầu về phẩm chất đạo đức, kiến thức và kỹ năng sư phạm mà
mỗi người SVSPTH cần phải đạt được khi tốt nghiệp ra trường. Những yêu cầu đó
chính là sự cụ thể hóa các giá trị trong nhân cách nghề nghiệp của người GVTH. Vì thế,
nếu khái quát các yêu cầu này sẽ giúp chỉ ra hệ thống GTNN cần giáo dục cho
SVSPTH. Dưới đây là hệ thống giá trị đã xác định được bằng cách khái quát hóa các
yêu cầu nêu trong Mục tiêu đào tạo cử nhân giáo dục tiểu học.
Bảng 1: Xác định các GTNN từ Mục tiêu đào tạo cử nhân tiểu học
TT Nội dung Mục tiêu đào tạo cử nhân giáo dục tiểu học Giá trị tương ứng
1 Yêu cầu (YC) 1.2.1: yêu nước, yêu CNXH Yêu nước, yêu CNXH
2 YC 1.2.1: là công dân tốt, chấp hành các chủ trương chính
sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước
Trách nhiệm công dân
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
92
3 YC 1.2.1: Yêu nghề dạy học, thương yêu, tôn trọng, chăm
sóc, đối xử công bằng với mọi học sinh (HS), được HS tin
Tự nhiên-Xã hội, hoặc 1 môn chuyên sâu, tạo điều kiện để
sinh viên tốt nghiệp có thể học tiếp lên các trình độ cao hơn;
Có kiến thức cơ bản về Tâm lý học, Giáo dục h
ọc, Phương
pháp dạy học, về đánh giá kết quả học tập ở tiểu học, bước
đầu biết vận dụng các kiến thức này vào thực tiễn dạy học,
giáo dục HS ở trường tiểu học
Trình độ chuyên môn
vững vàng
10 YC 1.2.2: Có kiến thức cơ bản về Chủ nghĩa Mác-
Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh; Hiểu biết những chính sách, chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã
hội, giáo dục, văn hóa c
ủa đất nước. Có hiểu biết về Quản lý
hành chính nhà nước và Quản lý ngành.
YC 1.2.2: Có kiến thức phổ thông về môi trường, dân số
, an
ninh - qu
ốc phòng, an toàn giao thông, về quyền trẻ em, y tế
học đường để có thể thực hiện giáo dục tích hợp
Hiểu biết rộng
11 YC 1.2.2: Có hiểu biết về tình hình kinh tế - văn hóa -
xã
hội, đời sống, phong tục tập quán của địa phương để có thể
hoà nhập và góp phần phát triển cộng đồng
Gắn bó với cộng đồng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
93
tập thể đoàn kết, tự quản. Bi
ết lập sổ sách, xây dựng và lưu
trữ hồ sơ về quá trình học tập rèn luyện đạo đức của HS
Biết cách quản lý học
sinh
3.3. Hệ thống hóa các giá trị nghề nghiệp cần giáo dục cho sinh viên sư phạm tiểu học
Ở trên, việc phân tích Mục đích giáo dục đã chỉ ra được các giá trị cơ bản trong
mẫu hình nhân cách con người Việt Nam và cũng là các giá trị mà người GVTH phải
nhuần nhuyễn để giáo dục cho học sinh của mình. Các giá trị này mang tính chất lý
tưởng và có tác dụng định hướng cho toàn bộ hoạt động giáo dục thế hệ trẻ, chúng quy
định mục đích hoạt động sư phạm của người GVTH nên được gọi là các giá trị mục
đích. Bên cạnh đó, việc khái quát hóa Mục tiêu đào tạo cử nhân giáo dục tiểu học cũng
đã rút ra các giá trị cơ bản mà người SVSPTH cần phải lĩnh hội được để tạo dựng nền
tảng cho nhân cách nghề nghiệp của bản thân. Trong giáo dục, nhân cách người giáo
viên là công cụ lao động của họ nên các giá trị này được gọi là các giá trị công cụ.
Như vậy, có thể xác định một hệ thống giá trị cần giáo dục cho SVSPTH gồm
hai nhóm, đó là: nhóm các giá trị mục đích và nhóm các giá trị công cụ. Hệ thống
GTNN được thể hiện ở bảng 2.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
94
Bảng 2: Hệ thống các GTNN cần giáo dục cho SVSPTH
Các giá trị mục đích Các giá trị công cụ
1. Tinh thần yêu nước, yêu CNXH
2. Độc lập dân tộc
3. Hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội
4. Tinh thần tập thể
5. Lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh
6. Cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa
7. Tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ư
thông.
Để giáo dục GTNN cho SVSPTH, trước hết phải xác định được một hệ thống
các giá trị phù hợp. Ở đây, một hệ thống GTNN phù hợp có nghĩa là hệ thống đó phải
bao gồm các giá trị quy định mục đích lao động sư phạm của người sinh viên ở nhà
trường tiểu học sau này và các giá trị mà người sinh viên cần có để đạt được mục đích
ấy. Các giá trị này chỉ có thể tìm thấy được trong Mục đích giáo dục và Mục tiêu đào
tạo cử nhân giáo dục tiểu học. Trên cơ sở phân tích Mục đích giáo dục và khái quát hóa
Mục tiêu đào tạo cử nhân giáo dục tiểu học, chúng tôi đã xác định được một hệ thống
các GTNN để giáo dục cho SVSPTH nước ta hiện nay. Đây là các giá trị cơ bản nhất
trong nhân cách người GVTH. Việc lĩnh hội được các giá trị này không chỉ giúp
SVSPTH có đủ khả năng để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình ngay sau khi
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
95
ra trường mà còn có được tiền đề quan trọng để tiếp tục lĩnh hội các GTNN khác, tự
hoàn thiện nhân cách nghề nghiệp của bản thân, không ngừng vươn lên đáp ứng yêu cầu
của sự phát triển giáo dục trong thời đại mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung
ương khóa VIII, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình khung giáo dục đại học - Ban hành theo
quyết định số 39/ 2006/ QĐ-BGDĐT, ngày 02. 10. 2006, của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục & Đào tạo.
[3] Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
[4] Phạm Minh Hạc (chủ biên), Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO
PI-R cải biên, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007.
[5] Joseph. H. Fichter, Xã hội học nhập môn, Bản dịch của Trần Văn Đĩnh, Sài gòn,
1974.