Tài liệu HÌNH ẢNH TỔN THƯƠNG XOANG HANG - Pdf 10

HÌNH ẢNH TỔN THƯƠNG XOANG HANG
Mục đích của bài này là điểm lại những tổn thương xoang hang tương đối
thường gặp như u, viêm và bệnh lý mạch máu. Thường gặp nhất là các u
nguồn gốc thần kinh và u mạch hang. Các u vùng mũi hầu, đáy sọ và
xoang bướm có thể lan đến xoang hang như là các di căn theo đường máu
và quanh dây thần kinh. Các tổn thương viêm, nhiễm trùng và tạo mô hạt
cho thấy bắt thuốc dạng đường hoặc dạng nốt màng não xoang hang
nhưng thường có đặc điểm MRI không đặc hiệu. Trong nhiều trường hợp
này, có một tổn thương ở nơi nào khác gợi ý chẩn đoán. MRI nhạy trong
phát hiện các tổn thương mạch máu như dò động mạch cảnh xoang hang,
phình mạch và huyết khối.
Xoang hang chứa các cấu trúc mạch máu thần kinh sống có thể bị ảnh
hưởng bởi các tổn thương mạch máu, u, nhiễm trùng và thâm nhiễm xuất

bướm và tĩnh mạch Sylvien. Dòng ra khỏi xoang hang qua xoang đá trên
và xoang đá dưới Động mạch cảnh trong nằm phía trong cùng của xoang
hang và chứa ngã ba cảnh. Các dây thần kinh III, IV và nhánh 1, 2 của
thần kinh V (từ trên xuống dưới) nằm ở thành màng cứng phía ngoài của
xoang hang (được gọi là ngã ba vận nhãn). Thần kinh V chạy vào phần
trung tâm của xoang hang phía dưới ngoài động mạch cảnh trong. Ở bên
trong, xoang hang là một khoang nhiều vách, bắt thuốc tương phản mạnh
của máu tĩnh mạch chảy chậm hơn. Động mạch cảnh trong là cấu trúc có
tín hiệu trống. Đôi khi xoang hang chứa mỡ bình thường (hình 1). Vùng
mỡ này có thể nổi trội ở người béo phì, hoặc có hội chứng Cushing hoặc
điều trị steroid ngoại sinh.

Hình 1. Lắng đọng mỡ bình thường. Hình axial CT không cản quang thấy
lắng đọng mỡ bình thường được phát hiện tình cờ ở xoang hang phía sau.
Lắng đọng mỡ này có thể gặp ở người béo phì, dùng corticosteroid hoặc
hội chứng Cushing. Khi không có các tình trạng này, chúng không có ý
nghĩa.
Các tổn thương u
Schwannoma
Schwannoma dây V là tổn thương xoang hang thường gặp nhất. và trong
50% trường hợp có hình dáng “quả tạ” (dumbbell) điển hình với phần u to
ở khoang Meckel và bể trước cầu não và phần eo ở lỗ thần kinh sinh ba.
Ngược lại, nó có thể chỉ thấy trong khoang Meckel (hình 2). U có thể có
dạng đặc hoặc thành phần nang hoặc xuất huyết, đôi khi có mức dịch. Các
u nhỏ có khuynh hướng đồng nhất trong khi u lớn thường có hình ảnh
không đồng nhất. Schwannoma là khối tín hiệu thấp hoặc đồng tín hiệu
trên T1W, hầu hết tăng tín hiệu trên T2W và bắt thuốc. Manh mối chẩn
đoán là u đi theo đường đi của dây thần kinh từ chỗ xuất phát.
Schwannoma có thể xuất phát từ các dây thần kinh sọ khác trong xoang
hang, đặc biệt dây thần kinh III. Nhiều schwannoma xoang hang và thần

bám vào thành ngoài xoang hang, chẩn đoán có thể gợi ý khi lấp đầy dần
thuốc sau tiêm. Mặt khác, chúng cho thấy bắt thuốc mạnh không đồng
nhất hoặc đồng nhất không đặc hiệu (hình 4).

Hình 4. U mạch hang. A. Axial T1W sau tiêm thấy khối lớn bắt thuốc
mạnh đồng nhất xuất phát từ thành ngoài xoang hang trái. B, axial T1w
sau tiêm của u mạch hang khác, thấy bắt thuốc không đồng nhất, cũng
xuất phát từ thàn ngoài xoang hang, đẩy động mạch cảnh trong (mũi tên)
vào trong. Khi có một khối xuất phát từ thành ngoài xoang hang, chẩn
đoán phân biệt quan trọng là u mạch hang với u màng não.
U màng não
Hầu hết u màng não xoang hang xuất phát từ thành màng cứng phía ngoài,
nhưng đôi khi có ngoại lệ là nằm bên trong xoang hang. U màng não
thường giảm hoặc đồng tín hiệu so với chất xám trên tất cả các chuỗi xung
và bắt thuốc mạnh (hình 5A). Đuôi màng cứng thờng có thể thấy chạy ra
khỏi bờ u và thường đi vào lều tiểu não cùng bên. U màng não gây chít
hẹp lòng động mạch cảnh trong. U màng não có thể lan vào bên trong
xoang hang và khoang Meckel và đi qua lỗ dây thần kinh sinh ba vào bể
trước cầu não. Chúng có thể có hình ảnh tương tự schwannoma (hình 5B).

Hình 5. U màng não. A. Axial T2w thấy u màng não đồng tín hiệu với
chất trắng, liên quan xoang hang phải và lan từ khoang Meckel vào khe ổ
mắt trên. B, Axial T1W sau tiêm ở một bệnh nhân khác cho thấy phần lớn
khối choán chỗ bắt thuốc đồng nhất trong khoang Meckel nhưng lan qua
lỗ dây thần kinh sinh ba vào bể trước cầu não. Schwannoma cần xem xét
trong chẩn đoán phân biệt.
U tuyến yên
U tuyến yên có thể phát triển ra phía ngoài và xâm lấn xoang hang Dấu
hiệu xâm lấn xoang hang là bao bọc động mạch cảnh trong trong xoang
hang > 30% đường kính hoặc u lan ra phía ngoài đến đỉnh (12 giờ) của

B, axial T2W thấy phần đặc của khối tăng tín hiệu, dấu hiệu điển hình của
chodrosarcoma.
Carcinoma mũi hầu
Carcinoma mũi hầu là u ác tính ngoài sọ xâm lấn xoang hang thường gặp
nhất. Lan vào nội sọ có thể xảy ra trực tiếp qua mòn xương đáy sọ hoặc
lan quanh dây thần kinh qua các nhánh của thần kinh sinh ba (hình 7). U
có thể lan qua khớp bán động đá-chẩm và lỗ rách vào xoang hang dưới
hoặc qua ống cảnh để vào xoang hang mà không có phá hủy xương. Khi
xâm lấn xoang hang, hiện diện khối choán chỗ mũi hầu lớn. Nói chung u
giảm hoặc đồng tín hiệu (so với cơ) trên T1W, giảm tín hiệu trên T2W, bắt
thuốc tương phản từ trung bình đến mạnh.

Hình 7. Carcinoma tế bào vảy mũi hầu. Axial T2W cho thấy khối tương
đối giảm tín hiệu liên quan đến xoang hang trái và hố yên, lan vào khí bào
sàng sau. Nói chung khối xâm lấn giảm tín hiệu trên T2W hoặc là u hoặc
là nhiễm trùng do nấm.
U xơ mạch người trẻ (juvenile angiofibroma)
U xơ mạch người trẻ là một u giàu mạch máu ảnh hưởng hầu hết ở các bé
trai vị thành niên. Nó có thể lan vào đáy sọ và phần trước của xoang hang
qua lỗ tròn, ống chân bướm (vidian canal) hoặc lỗ rách. U có thể xâm lấn
xoang hang trực tiếp do mòn xương chân bướm. Tín hiệu trống đặc trưng
trên MRI, biểu hiện cấu trúc mạch máu lớn, điển hình cho u này (hình 8).

Hình 8. U xơ mạch người trẻ. Hình axial T1W sau tiêm cho thấy u rất lớn
liên quan cả hai xoang hang và bao quanh động mạch cảnh trong (mũi
tên). Khối lan vào hố yên, xoang cạnh mũi, hố sọ giữa phải và cả hai hốc
mắt. Ghi nhận tín hiệu dòng trống (đầu mũi tên) do mạch máu lớn.
Carcinoma xoang bướm
U ác tính xoang bướm gồm carcinoma tế bào vảy và adenocarcinoma.
Chúng có xu hướng hủy xương và lan trực tiếp đến xoang hang.

Lymphoma và leukemia
Như di căn, lymphoma và leukemia đến xoang hang bằng cách lan trực
tiếp từ tổn thương nguyên phát hoặc lan theo đường máu. MRI cho thấy
tổn thương thâm nhiễm đáy sọ xâm lấn xoang hang mà không làm hẹp
động mạch. Lymphoma và leukemia có thể gây lớn xoang hang lan tỏa và
bắt thuốc xoang hang tương tự như hình ảnh di căn. Mặc dù chúng có xu
hướng giảm tín hiệu trên T2W, hầu hết không có dấu hiệu MRI đặc hiệu,
nhưng chẩn đoán có thể gợi ý do kết quả lâm sàng.
Các rối loạn tăng trưởng lympho sau ghép tạng
Rối loạn tăng trưởng lympho sau ghép tạng là một biến chứng ghép tạng
và suy giảm miễn dịch mạn tính biến thiên từ tăng sản tế bào B đến
lymphoma non-Hodgkin. Nó có thể biểu hiện hạch cổ, các khối choán chỗ
khu trú liên quan vòng bạch huyết Waldeyer và hiếm khi có tổn thương
xoang hang. Các tăng trưởng dạng lympho này thường có hình ảnh đồng
hoặc giảm tín hiệu trên T1W và T2W vì mật độ té bào thưa và giống
lymphoma. Đặc điểm hình ảnh không đặc hiệu và chẩn đoán dựa vào lâm
sàng.
Các nang bì (dermoid) và thượng bì (epidermoid)
Nang thượng bì có thể có nguồn gốc ngoài xoang hang và lan vào xoang
hang, bắt nguồn ở thành bên xoang hang (nang giữa màng cứng) hoặc là
tổn thương trong xoang hang thực sự. Khối giảm/đồng tín hiệu trên T1W
và tăng tín hiệu trên T2W. Trên FLAIR và các hình T2W phân giải cao
cho thấy tín hiệu không đồing nhất. Nang này không bắt thuốc. Nang
thượng bì có khuếch tán hạn chế với tín hiệu cao hơn dịch não tủy trên
hình khuếch tán (hình 11).

Hình 11. Epidermoid. A, axial T1W thấy khối lớn (E) trong khoang
Meckel phải. Khối này không bắt thuốc và gần như đồng tín hiệu với dịch
não tủy. B, axial T2W ở bệnh nhân này cho thấy khối (E) gần nhu đồng tín
hiệu vời dịch não tủy. Mặc dù kích thước khối lớn nhưng dâu hiệu lâm

sáng hoặc tối trên T2W, bắt thuốc kèm hẹp khu trú động mạch cảnh trong
(hình 12).

Hình 12. Hội chứng Tolosa-Hunt. A, axial T2w thấy mô mềm giảm tín
hiệu khắp xoang hang phải và lan vào khe ổ mắt trên. B, coronal T1W sau
tiêm thấy bắt thuốc mạnh và lan tỏa, liên quan khoang Meckel.
U nguyên bào sợi cơ dạng viêm (inflammatory myofibroblastic tumor)
U nguyên bào sợi cơ dạng viêm là một bệnh hiếm ảnh hưởng đến hốc mắt
và lan vào xoang hang ở 10% bệnh nhân. Bệnh có đặc điểm là thâm nhiễm
tế bào viêm và đáp ứng xơ khác nhau. Đặc điểm MRI điển hình là lớn khu
trú cơ ngoài hốc mắt và tổn thương mô mềm thay thế mô mỡ, có thể lan
vào xoang hang. Tổn thương giảm hoặc đồng tín hiệu trên T2W, phụ
thuộc vào lượng mô xơ và tế bào, bắt thuốc. U này có thể không phân biệt
được với viêm giả u vô căn trên hình ảnh (hình 13).

Hình 13. U nguyên bào sợi cơ dạng viêm. Axial T1W sau tiêm thấy dày
và thâm nhiễm cơ ngoài ổ mắt, nhiều hơn ở cơ thẳng trong (R) và lan vào
xoang hang cùng bên (mũi tên). Có bắt thuốc nổi bất các cơ này và mỡ sau
hốc mắt.
Viêm dày màng não phì đại vô căn
Viêm dày màng não phì đại vô căn là bệnh viêm hiếm gặp với tổn thương
màng cứng lan tỏa, có thể lan vào xoang hang. MRI thấy dày màng cứng
và bắt thuốc, có thể lan rộng hoặc khu trú hơn (hình 14). Khi liềm não và
lều tiểu não bí tổn thương, thường thấy lan vào xoang hang. Bệnh này có
thể dẫn đến huyết khối xoang hang, phù chất trắng và não úng thủy do
tăng áp lực tĩnh mạch.

Hình 14. Viêm dày màng não vô căn. Hình coronal T1w sau tiêm thấy dày
không đặc hiệu xoang hang phải ngang mức lỗ bầu dục. Có lẽ có dày nhẹ
thành ngoài màng cứng ở xoang hang đối bên.

xoang bướm phải kèm khối mô mềm bắt thuốc ở xoang hang đồng bên
(bao gồm khoang Meckel), với hẹp động mạch cảnh trong và dày thành rõ
rệt.
Bệnh u hạt Wegener (Wegener granulomatosis)
Bệnh u hạt Wegener là bệnh hiếm nguyên nhân không rõ liên quan với u
hạt hoại tử ở các xoang cạnh mũi, hốc mũi và/hoặc hốc mắt. Tổn thương
xoang hang hiếm gặp. MRI thấy dày và bắt thuốc màng não lan đến xoang
hang. Xoang hang có tín hiệu thấp do sự hiện diện của mô xơ và bắt thuốc
mạnh đồng nhất. Trong hầu hết các bệnh nhân, chẩn đoán được xác định
trước khi có bất kỳ một khảo sát hình ảnh nào.
Sarcoidosis
Tổn thương màng cứng có thể gặp trong sarcoidosis và lan đến xoang
hang. Sự hiện diện của nhiều tổn thương dựa vào màng cứng, viêm dày
màng não hoặc bắt thuốc màng mềm, dày các dây thần kinh sọ, dày hạ đồi,
nhiều tổn thương não rải rác và tổn thương chất trắng đa ổ quanh não thất
có thể đưa ra khả năgn chẩn đoán sarcoidosis. Hình ảnh tổn thương không
đặc hiệu, nhưng tổn thương có xu hướng tối trên T2W và có thể kèm phù
não kế cận.
Các tổn thương mạch máu
Dò động mạch cảnh xoang hang
Dò động mạch cảnh xoang hang là sự thông nối bất thường giữa hệ động
mạch cảnh và xoang hang, có thể chia thành 4 kiểu. Dò động mạch cảnh
xoang hang trực tiếp (kiểu A) là thông nối dòng chảy cao giữa động mạch
cảnh và xoang hang xảy ra sau chấn thương hoặc do vỡ phình động mạch
cảnh trong xoang hang. Các tổn thương này cấp tính với lồi mắt theo mạch
đập, phù kết mạc và hội chứng xoang hang. Dò động mạch cảnh xoang
hang màng cứng (kiểu B-D) là dò dòng chảy thấp xảy ra giữa các nhánh
màng não của động mạch cảnh và xoang hang, xu hướng có triệu chứng
nhẹ hơn dò trực tiếp. Các dấu hiệu MRI của dò động mạch cảnh xoang
hang gồm dãn xoang hang với nhiều cấu trúc tín hiệu trống kèm lồi mắt và

hang. Mặc dầu huyết khối bán cấp bộc lộ tín hiệu cao trên tất cả các chuỗi
xung và dễ nhận thấy, huyết khối cấp có thể đồng tín hiệu và khó chẩn
đoán. Bắt thuốc viền ngoại vi của xoang hang lớn có thể gợi ý cục máu
đông bên trong. Các dấu hiệu gián tiếp có thể giúp gợi ý chẩn đoán là dãn
tĩnh mạch mắt trên, lồi mắt và tăng bắt thuốc màng cứng dọc theo bờ
ngoài của xoang hang và liều tiểu não cùng bên (hình 18). Sự hiện diện
viêm xoang và các triệu chứng lâm sàng phù hợp khẳng định chẩn đoán.

Hình 18. Huyết khối xoang hang. A, Coronal T1W sau tiêm thấy lớn và
bắt thuốc không đồng nhất xoang hang phải, chứa các vùng tín hiệu thấp
(mũi tên) tương ứng cục máu đông. B, coronal T1W sau tiêm ở bệnh nhân
khác thấy cục máu đông lớn không bắt thuốc gây phình lớn xoang hang
trái. Động mạch cảnh trong cùng bên bị hẹp nhẹ.
CAO THIÊN TƯỢNG
Nguồn
Imaging Lesions of the Cavernous Sinus
A.A.K. Abdel Razek
a
and M. Castillo
b

a
Department of Diagnostic Radiology, Masnoura Faculty of Medicine,
Mansoura, Egypt
b
Department of Radiology, University of North Carolina, Chapel Hill, NC
American Journal of Neuroradiology 30:444-452, March 2009


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status