1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN PHẠM MINH SANG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP THUẦN HÓA
LÊN ĐIỀU HÒA ION CỦA CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus)
ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP THUẦN HÓA
LÊN ĐIỀU HÒA ION CỦA CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG 3
LỜI CẢM ƠN 4
i
TÓM TẮT
Cá tra giống (Pangasanodon hypophthalmus) có trọng lượng trung bình 20-25g/con
được bố trí trong bể 200L, thể tích nước là 180L với mật độ 40con/bể. Thí nghiệm
gồm 6 nghiệm thức: tăng 1‰/ngày, 2‰/ngày, 3‰/ngày, 4‰/ngày, 5‰/ngày và
nghiệm thức đối chứng (0‰/ngày) cho đến khi đạt độ mặn khoảng 15-16‰ thì tiến
hành thu mẫu sau 3 giờ, 3 ngày, 6 ngày và 17 ngày. Kết quả, các yếu tố môi trường
như nhiệt độ (27,4-27,6ºC) và pH (8,1-8,6) đều nằm trong khoảng thích hợp cho cá.
ASTT giữa các nghiệm thức nước mặn tăng cao nhất ở lần thu mẫu sau 3 ngày
khoảng 320-340 mOsm/kg. Trong đó, nghiệm thức tăng 3‰/ngày (340 mOsm/kg)
cao hơn các nghiệm thức nước mặn còn lại nhưng khác biệt không ý nghĩa (p>0,05),
và các nghiệm thức nước mặn khác biệt có ý nghĩa với nghiệm thức đối chứng
(p<0,05). Ngày thứ 6 và 17, ASTT đều giảm giữa các nghiệm thức (p>0,05). Nồng
độ ion Na
+
, Cl
-
của các nghiệm thức đều tăng tại thời điểm 3 ngày, 6 ngày nhưng sau
đó giảm tại thời điểm 17 ngày. Các chỉ tiêu huyết học như hồng cầu có số lượng
giảm khi thu mẫu ở thời điểm 3 ngày và 6 ngày nhưng ổn định trở lại ở thời điểm 17
ngày và giữa các nghiệm thức ở thời điểm 17 ngày với nhau khác biệt không ý nghĩa
(p>0,05). Trong khi đó số lượng bạch cầu biến động không ổn định. Thí nghiệm
cũng cho thấy, tỷ sống của cá cao nhất ở nghiệm thức đối chứng (95,8%), các
nghiệm thuần hóa bằng cách tăng 1‰/ngày, 2‰/ngày, 3‰/ngày lần lượt là 79,2%,
2.1 Một số đặc điểm sinh học của cá tra……………………………………… 2
2.1.1 Phân loại………………………………………………………………2
2.1.2 Phân bố……………………………………………………………… 2
2.1.3 Đặc điểm hình thái và sinh thái……………………………………….2
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng…………………………………………………3
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng…………………………………………………3
2.1.6 Đặc điểm sinh sản……………………………………………………. 3
2.2 Sự điều hòa áp suất thẩm thấu…………………………………………… 4
2.2.1 Độ măn……………………………………………………………… 4
2.2.2 Thuần hóa…………………………………………………………… 4
2.2.3 Áp suất thẩm thấu…………………………………………………… .4
2.2.4 Hai phương thức điều hòa áp suất thẩm thấu chính………………… 6
2.2.5 Ứng dụng việc điều hòa áp suất thẩm thấu trong nuôi trồng thủy sản 6
2.3 Một số kết quả nghiên cứu liên quan đến độ mặn…………………………. 7
Chương 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu………………………………… 9
3.1 Thời gian và địa điểm…………………………………………………… 9
3.2 Vật liệu nghiên cứu……………………………………………………… 9
3.3 Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………. 9
3.3.1 Bố trí nghiệm thức………………………………………………… 9
3.3.2 Theo dõi và chăm sóc………………………………………………. 11 6
3.3.3 Phương pháp thu và xử lý mẫu…………………………………… 11
3.3.4 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu huyết học………………………12
3.4 Phương pháp xử lý số liệu……………………………………………… 14
Chương 4: Kết quả và thảo luận…………………………………………………. 15
4.1 Các yếu tố môi trương……………………………………………………. 15
4.2 Khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu…………………………………… 16
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Kết quả đo các yếu tố môi trường
Bảng 2: Kết quả đo áp suất thẩm thấu của các nghiệm thức
Bảng 3: Kết quả đo ion Na
+
(mmol/L) của các nghiệm thức
Bảng 4: Kết quả đo ion K
+
(mmol/L) của các nghiệm thức
Bảng 5: Kết quả đo ion Cl
-
(mmol/L) của các nghiệm thức
Bảng 6: Số lượng hồng cầu qua các đợt thu mẫu
Bảng 7: Biến động số lượng hồng cầu trong cùng nghiệm thức
Bảng 8: Số lượng bạch cầu qua các đợt thu mẫu
Bảng 9: Biến động số lượng bạch cầu trong cùng nghiệm thức
Bảng 10: Một số chỉ tiêu huyết học
9CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Cá tra là một trong những loài có giá trị kinh tế phổ biến ở đồng bằng Nam bộ Việt
Nam và một số nước Đông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Indonesia…) là một
trong các loài nuôi quan trọng của khu vực này.
Đồng Bằng Sông Cửu Long đã có truyền thống nuôi cá Tra phổ biến trong ao và bè.
Hiện nay, phương thức nuôi thâm canh cho năng suất rất cao, nuôi trong ao đạt tới
trên 300 tấn/ha, trong đăng quần tới 500 tấn/ha, trong bè đạt 100 – 150 kg/m
3
nước
bè nuôi (Bộ Thủy Sản, 2004).
Cá tra cũng hiện là đối tượng thủy sản xuất khẩu chủ lực, mang lại nguồn ngoại tệ
đáng kể cho đất nước và góp phần nâng cao đời sống người dân. Sau 10 tháng đầu
Loài Pangasiianodon hypophthalmus. (Sauvage 1978).
Hình 2.1: Hình dạng ngoài cá tra (Pangasiianodon hypophthamus)
2.1.2 Phân bố
Ngoài tự nhiên cá sống ở lưu vực sông Cửu Long (Thái Lan, Lào, Campuchia và
Việt Nam). Ở nước ta cá bột và cá giống vớt được chủ yếu trên sông Tiền, cá trưởng
thành chỉ thấy trong các ao nuôi, rất ít khi tìm thấy trong tự nhiên.
Cá có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều chất hữu cơ, oxy
hòa tan thấp và có thể nuôi với mật độ rất cao (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
2.1.3 Đặc điểm hình thái và sinh thái
11
Cá thân dài, không vẩy, màu sắc đen xám trên lưng, bụng hơi bạc, miệng rộng.Cá
sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước lợ có độ mặn dao động
10 – 14%o, có thể chịu đựng được nước phèn với pH lớn hơn hoặc bằng 4, ít chịu
đựng được nhiệt độ thấp dưới 15
o
C, chịu nóng tới 39
o
C (Phạm Văn Khánh. 2004).
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm, đã gặp cỡ cá trong tự nhiên 18 kg hoặc
có mẫu cá dài tới 1,8 m. Trong ao nuôi cá bố mẹ cho đẻ đạt tới 25 kg ở cá 10 tuổi.
Nuôi trong ao 1 năm cá đạt 1 – 1,5 kg/con (năm đầu tiên), những năm về sau cá tăng
2.2.1 Độ mặn
Độ mặn được định nghĩa là tổng các chất rắn hòa tan (TDS) trong nước. Độ mặn là
yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố, sinh sản, dinh dưỡng và di
cư của thủy sinh vật (Trương Quốc Phú, 2004). Những cá chỉ chịu các thay đổi nhỏ
về nồng độ các chất hòa tan ở môi trường ngoài được gọi là có tính hẹp muối, còn
những loài điều chỉnh được sự thẩm thấu theo biên độ rộng về độ mặn của môi
trường thì gọi là có tính rộng muối (Nguyễn Anh Tuấn và ctv, 1999).
2.2.2 Thuần hóa
Là một quá trình liên quan đến những phản ứng về sinh lý và đặc tính của động vật
thủy sản đối với những thay đổi của môi trường. Thuần hóa sẽ giúp động vật thủy
sản thích nghi dần với những thay đổi bên ngoài của môi trường nhất là nhiệt độ và
độ mặn. Những thay đổi đột ngột sẽ làm rối loạn quá trình sinh lý bên trong cơ thể
của động vật thủy sản như quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu hay quá trình hấp
thu oxy nếu không thích ứng kịp với những thay đổi bất thường dẫn đến tử vong
hoặc ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng sau này (Đỗ Thị Thanh Hương, 2004).
2.2.3 Áp suất thẩm thấu
Áp suất thẩm thấu là áp suất tạo nên bởi sự chênh lệch nồng độ các chất hòa tan của
hai dung dịch đặt cách nhau và được ngăn cách bởi màng bán thấm. Ở trong cơ thể,
màng tế bào là màng bán thấm và sự chênh lệch nồng độ các chất hòa tan trong dịch
tế bào và dịch cơ thể tạo nên một áp suất thẩm thấu (Bùi Lai và ctv, 1985).
Các chất hòa tan trong nước sẽ được vận chuyển qua màng theo gradien nồng độ (từ
nơi nồng độ cao đến nơi nồng độ thấp – cơ chế khuếch tán). Nước thấm qua màng
theo gradien áp suất thẩm thấu (từ nơi có thế nước cao đến nơi có thế nước thấp –
theo dốc nồng độ) được gọi là sự thẩm thấu.
Các chất tan có được khuếch tán qua màng vào bên trong tế bào hay không còn tùy
thuộc vào sự chênh lệch về nồng độ của các chất tan giữa môi trường bên trong và
môi trường bên ngoài tế bào. Nếu môi trường bên ngoài một tế bào có nồng độ của
các chất tan lớn hơn nồng độ của các chất tan có trong tế bào thì môi trường đó được
gọi là môi trường ưu trương so với môi trường bên trong tế bào đó. Khi ấy chất tan
, trong đó muối NaCl chiếm từ 86
– 95% tổng số (Stroganov, 1962 trích dẫn bởi Bùi Lai và ctv, 1985). Đơn vị đo áp
suất thẩm thấu là OsMol, tương đương 22,4atm. Thường dùng là mOsMol là áp suất
thẩm thấu của 1/1000 Mol trong 1 lít nước. Áp suất thẩm thấu chủ yếu do Na
+
và Cl
-
quyết định, ngoài ra còn một số chất khác như: HCO
3
-
, K
+
, Ca
++
, PO
4
-
, glucose,
protein, ure…Áp suất thẩm thấu giữ nước ở vị trí cân bằng, thay đổi áp suất thẩm
thấu làm thay đổi hàm lượng H
2
O trong tế bào và gây ra rối loạn chức năng tế bào.
Alan.G. Heath (2000) cho rằng áp suất thẩm thấu của các dịch lỏng và nước trong cơ
thể sinh vật được giữ ở trạng thái cân bằng động. Áp suất thẩm thấu trong máu cá
chủ yếu là do muối vô cơ qui định, cá biển có hàm lượng muối trong máu cao hơn cá
nước ngọt. Mang cá có khả năng trao đổi nước cũng như các khí O
2
, CO
2
và Cl
-
điều được bom chủ động vào máu qua lớp biểu mô của mang.
Hypo- osmoregulation
Ngược lại với trường hợp trên, các cá xương biển mất nước qua mang nên phải uống
nước để duy trì sự cân bằng thẩm thấu qua việc hấp thụ các muối và nước qua
đường dạ dày – ruột. Phương thức này đưa NaCl vào máu, nên NaCl cần được đưa
tích cực ra ngoài qua mang và biểu mô của da, nơi có tính thấm thẩm thấu rất thấp.
Ở nước biển, điện thế qua mang lớn và dương, ưu tiên tiết cation (Na
+
), do đó Cl
-
, là
một ion chủ yếu được vận chuyển chủ động tại những nơi mà Na
+
được tiết ra bị
động. Ở cá xương biển, cầu thận lọc kém, thậm chí một số không có cầu thận, nên
lượng nước tiểu do thận lọc ra rất ít lượng nước tiểu đẳng trương giàu các muối kim
loại hóa trị II.
2.2.4 Ứng dụng việc điều hòa áp suất thẩm thấu trong nuôi trồng thuỷ sản
Di nhập thủy sinh vật
Cá biển di cư vào nước ngọt, do áp suất thẩm thấu của máu cá quá cao so với môi
trường nên nước xâm nhập vào cơ thể rất mạnh. Để khắc phục tình trạng này, cá
phải thải bớt một lượng muối nhất định để giảm bớt sự chênh lệch áp suất thẩm thấu
của máu cá với môi trường. Những cá thể ở giai đoạn này thích nghi thì sống được,
nếu không sẽ chết.
Thuần hóa thủy sinh vật
Tôm sú được coi là loài rộng muối, chúng có thể sống và phát triển trong phạm vi
nồng độ muối cao từ 0-45‰ (Phương, 2001 được trích bởi Nguyễn Thị Thu Hằng,
yếu tìm hiểu về sự tăng trưởng và nghiên cứu sự thay đổi sinh lý của chúng thì chưa
nhiều. Cá bóp (Rachycentron canadum), trọng lượng trung bình từ 6,0 – 6,7g được
nuôi trong bể 465 lít với độ mặn lần lượt là 5‰ và 15‰. Sau 8 tuần nuôi, hệ số thức
ăn là 1,05 (5‰) và 1,13 (15‰). Cá nuôi ở nồng độ muối 5‰ tăng trưởng bằng hoặc
16
tốt hơn cá nuôi ở nồng độ muối 15‰ (trọng lượng trung bình tăng 96,2-115,3g)
().
Saha, Bhattacharyya và Choudhury, đã làm thí nghiệm để so sánh, kết quả cho thấy:
Sự tăng trưởng của tôm sú giống trong môi trường nước lợ và tôm sú giống trong
môi trường nước mặn. Với mật độ là 10,5 con/m
2
, sản lượng thu hoạch sau 135 ngày
nuôi đạt 1563 kg/ha ở môi trường nước lợ và 1173 kg/ha ở môi trường nước mặn.
Cũng theo kết quả nghiên cứu, với mật độ thả nuôi là 16 con/m
2
đã thu được 2274
kg/ha với môi trường nước lợ và 1974 kg/ha với môi trường nước mặn
().
Thí nghiệm nuôi ghẹ xanh con (Portunus pelagicus) ở các độ mặn khác nhau:
5,10,15,20,25,35,40 và 45ppt được thực hiện trong 45 ngày. Tỷ lệ tử vong của ghẹ
xanh con cao (p<0,01) khi nuôi ở độ mặn nhỏ hơn hoặc bằng 15ppt và ở độ mặn
45ppt. Ở độ mặn 5ppt, ghẹ xanh con chết hoàn toàn sau 20 ngày nuôi. Tăng trưởng
và phát triển chậm khi nuôi ở 10ppt và ở 40ppt trở lên. Điểm đẳng áp là 1106
mOsm/kg tương đương với độ mặn khoảng 38ppt. Kết quả thí nghiệm chứng tỏ
khoảng độ mặn 25 – 35ppt thích hợp cho nuôi ghẹ xanh con (Portunus pelagicus)
()
Đỗ Thị Thanh Hương và ctv (2004) khảo sát sự thay đổi áp suất thẩm thấu và mức
độ tiêu hao oxy của tôm sú (Penaeus monodon) giống (PL
15
Nhiệt kế, máy đo độ mặn, cân
Hệ thống máy sục khí
Máy đo ASTT Osmometer Fiske One – Ten.
Máy đo ion Cl
-
(MKII Chloride Analyzer 926s).
Máy đo ion Na
+
, K
+
bằng máy đo Flame Photometer 420
Các dụng cụ khác như: Máy bơm, ống siphon, thau, xô, vợt…
Nguồn nước
Nước ngọt sử dụng là nước máy sinh hoạt và nguồn nước mặn lấy từ Vĩnh Châu
(70 – 100%o).
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức và một nghiệm thức đối chứng, mỗi nghiệm thức lập
lại 3 lần được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên. Độ mặn sẽ được tăng từ 0‰ lên 16‰.
Nghiệm thức đối chứng: nghiệm thức 0‰.
Nghiệm thức 1: tăng 1‰/ngày
Nghiệm thức 2: tăng 2‰/ngày
Nghiệm thức 3: tăng 3‰/ngày
18
Nghiệm thức 4: tăng 4‰/ngày
Nghiệm thức 5: tăng 5‰/ngày
Cá được bố trí vào bể 200 L với mật độ 40 con/bể. Thể tích nước trong bể khoảng
180 L Sau khi thả cá vào bể, trữ khoảng 2 ngày cho cá ổn định rồi tiến hành nâng độ
mặn.
Trong đó: C
1
: Độ mặn thay
V
0
: Thể tích bể ban đầu
C
0
: Độ mặn cần đạt tới
V
2
: Thể tích nước còn lại trong bể
C
2
: Độ mặn hiện tại trong bể
19
V
1
: Thể tích thay nước
3.3.2 Theo dõi và chăm sóc
Cho cá ăn thức ăn viên khoảng 30% đạm, kích cỡ 2 mm, mỗi ngày cho ăn 3-5%
khối lượng thân. Cá được cho ăn 2 lần/ngày (8 giờ và 16 giờ).
3.3.3 Phương pháp thu và xử lý mẫu
Môi trường
Đo nhiệt độ, pH mỗi ngày 2 lần (8
h
và 14
h
C cho đến khi phân tích.
3.3.4 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu huyết học
Phương pháp đếm hồng cầu
Hồng cầu được đếm bằng buồng đếm Neubauer. Dung dịch Natt Herrick dùng để
đếm hồng cầu được chuẩn bị bằng cách hòa tan: NaCl (3,88g), Na
2
SO
4
(2,5g),
Na
2
PO
4
.12H
2
O (2,91g), KH
2
PO
4
(0,25g), 7,5 ml formol (37%), Methyl violet (0,2g)
pha thành 1000ml, dung dịch được để qua đêm sau đó đem lọc qua giấy lọc và
chuẩn ở pH=7,3 trước khi sử dụng.
Cho 5 l máu vào trong ống ependorf có chứa 995 l Natt Herrick sau đó trộn đều,
dùng pipet cho dung dịch vào buồng đếm Neubauer. Đếm số lượng hồng cầu có
trong 5 ô (mỗi ô có 16 ô nhỏ) trong tổng số 25 ô có trong buồng đếm.
Số lượng hồng cầu được tính như sau:
A (tb/mm
3
) = a*(200/0,02)
của dung dịch ở bước sóng 540 nm, nhiệt độ 20-25
0
C. Số lượng huyết sắc tố được
tính theo công thức:
- Số lượng huyết sắc tố mmol/l (A) = (0,019 + 37,74 x a) x 0,621
(a: mức độ hấp thụ ánh sáng)
- Số lượng huyết sắc tố g/100ml = A x 1,6125
Hình 3.2: Máy ly tâm lạnh (trái) và máy so màu quang phổ (phải).
Xác định tỷ lệ huyết cầu (Hematorit) (%)
Máu thu được cho vào ống thủy tinh (Hematocrit tube) để đo tỷ lệ huyết cầu. Ly tâm
bằng máy ly tâm chuyên biệt trong 6 phút với tốc độ 12.000 vòng/phút. Dùng thước
đo có chia vạch để xác định tỷ lệ huyết cầu.
- Thể tích hồng cầu
MCV (
3
m) = (Tỷ lệ huyết cầu (%)/Số lượng hồng cầu (10
6
/mm
3
) x 10
- Khối lượng trung bình của huyết cầu trong hồng cầu
MCH (pg/tb) = Huyết sắc tố (g/100 ml)/Số lượng hồng cầu (10
6
/mm
3
) x 10
- Nồng độ huyết cầu trong hồng cầu
MCHC (%) = (Huyết sắc tố (g/100 ml)/Tỷ lệ huyết cầu (%)) x 100
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các yếu tố môi trường
Nhiệt độ
Những tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến điều hòa áp suất thẩm thấu phải kể đến là
nhiệt độ, sinh sản và đói. Khi thay đổi nhiệt độ, làm vi phạm cân bằng ion (Bùi Lai
và ctv, 1985).
Bảng số liệu trên cho thấy, nhiệt độ trung bình giữa các nghiệm thức dao động
không lớn, nhiệt độ thấp nhất là 24°C ở nghiệm thức đối chứng (tăng 0‰/ngày) và
nghiệm thức 2 (tăng 1‰/ngày). Nhiệt độ cao nhất là ở nghiệm thức 3 (tăng
2‰/ngày) nhưng cũng vào khoảng 27°C. Do được bố trí trong cùng điều kiện thí
nghiệm, nên nhiệt độ giữa các nghiệm thức hầu như tương đương nhau và khoảng
nhiệt độ này tương đối thích hợp. Theo Trương Quốc Phú (2006), tôm cá có thể chịu
đựng được nhiệt từ 20 - 35◦C, nhưng nhiệt độ thích hợp cho tôm cá là 25 - 32◦C.
pH
Khi pH môi trường quá cao hay quá thấp đều không thuận lợi cho quá trình phát
triển của thủy sinh vật. Tác động chủ yếu của pH quá cao hay quá thấp là làm thay
đổi độ thẩm thấu của màng tế bào dẫn đến làm rối loạn quá trình trao đổi muối-nước
giữa cơ thể và môi trường ngoài (Trương Quốc Phú, 2006). Nhìn vào bảng số liệu
trên cho thấy, pH giữa các nghiệm thức dao động từ 8,1-8,6. Các giá trị pH này
tương đối cao do nguồn nước ngọt được sử dụng để thay nước cho cá có pH thường
ở mức cao (pH>9). Nghiệm thức đối chứng là nghiệm thức nước ngọt hoàn toàn nên
pH cao nhất (pH=8,6). Nhìn chung, các giá trị pH của các nghiệm thức hơi cao
nhưng vẫn nằm trong khoảng thích hợp và không ảnh hưởng đến quá trình sinh lý
24
27,4
8,1 ± 0,32
8,1
Chi
ều
27,7 ± 0,66
8,1 ± 0,32
NT2
Sáng
27,3 ± 0,48
27,7
8,2 ± 0,31
8,2
Chi
ều
28,1 ± 0,55
8,1 ± 0,26
NT3
Sáng
Sáng
27,2 ± 0,48
27,6
8,3 ± 0,26
8,3
Chi
ều
28 ± 0,59
8,2 ± 0,354.2 Khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu.
4.2.1 Sự thay đổi ASTT trong cùng thời điểm bằng các phương pháp thuần hóa
khác nhau.
Kết quả đo áp suất thẩm thấu của các nghiệm thức được trình bày ở bảng 2.
Bảng 2: Kết quả đo áp suất thẩm thấu của các nghiệm thức
ASTT (mOsm/kg)
Nghiệm thức Nước 0 giờ 3 giờ 3 ngày 6 ngày 17 ngày
0‰/ngày (I) 0 213±43A
a
246±18A
a
250±19A
a
280±29B
b
295±14BC
b
3‰/ngày (IV)
313
213±8A
a
285±40B
bc
340±33C
b
293±26B
bc
322±35BC
b
4‰/ngày (V)
320
229±35A
a
302±18B
c
328±51B
b
324±37B
c
256±29A
có sự khác biệt (p>0,05). Giữa các nghiệm thức tăng 1, 2, 3, 4‰/ngày thì không
khác biệt nhau. Do quá trình thuần hóa mới kết thúc khoảng 3 giờ, muối bên ngoài
chưa xâm nhập nhiều vào cơ thể nên ASTT của các nghiệm thức nước mặn thấp hơn
môi trường nước (Hình 4.1).
150
200
250
300
350
400
1‰/ngày
2‰/ngày
3‰/ngày
4‰/ngày
5‰/ngày
(m Osm/kg)
Nước
Máu
150
200
250
300
350
400
1‰/ngày
2‰/ngày
3‰/ngày
4‰/ngày
5‰/ngày
(mOsm/kg)
Nước
Máu