1
LUẬN VĂN
Những thuận lợi và khó khăn của công ty
Dệt May Hà Nội
S
nước, ngành công nghiệp Việt Nam giữ một vai trò quan trọng, là ngành
mũi nhọn được Chính phủ đặc biệt quan tâm. Chính vì vậy, Đại hội Đảng
VI đã khẳng định “Chúng ta phải Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất
nước”.
Công nghiệp Dệt-May là ngành có ý nghĩa trọng tâm trong giai đoạn
chuyển đổi của Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế thị trường, từ một hệ thống kinh tế chủ yếu dựa vào các doanh
nghiệp Nhà nước sang một hệ thống mà các doanh nghiệp được đối xử
bình đẳng hơn, không phân biệt hình thức sở hữu, không phân biệt loại
hình kinh doanh.Cơ chế thị trường tạo cho các doanh nghiệp một sân chơi
bình đẳng, hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, tự hạch toán
lỗ lãi, tạo ra lợi nhuận chính đáng, đóng góp vào ngân sách Nhà nước,
từng bước nâng cao mức sống dân cư, góp phần thực hiện mục tiêu toàn
Đảng, toàn dân ta : “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh “.
Trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá
đất nước, Dệt-May là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chính sách
hướng vào xuất khẩu của Đảng và Nhà nước ta và một cách chung hơn
trong các nỗ lực của Việt Nam để hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. Công
nghiệp Dệt-May tất yếu là một trong những ngành chế tác xuất khẩu trong
giai đoạn đầu phát triển của đất nước.
Công ty Dệt may Hà Nội là một đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc
ngành công nghiệp Việt nam nói chung và thuộc ngành công nghiệp Dệt-
May nói riêng. Từ khi đi vào hoạt động sản xuất đến nay, Công ty luôn là
một doanh nghiệp đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, sản phẩm của
Công ty luôn đạt chất lượng cao và được khách hàng trong nước cũng như
quốc tế ưa chuộng. Là một doanh nghiệp Nhà nước, Công ty luôn ý thức
được vai trò chủ đạo của mình nên luôn cố gắng cải tiến máy móc, thiết
bị… đưa Công ty ngày một phát triển vững mạnh để tạo niềm tin và làm
chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp khác cùng phát triển trong quá
trình vươn tới sự hội nhập của thế giới và khu vực.
hợp đồng xây dựng nhà máy được ký chính thức giữa Tổng Công ty nhập
khẩu thiết bị Việt Nam và hãng UNIOMATEX(CHLB Đức).
Tháng 2-1979, công trình được khởi công xây dựng và đến tháng1-
1982, công nhân, kỹ sư Việt nam cùng với các chuyên gia CHLB Đức,
Italia, Hàlan bắt đầu lắp đặt thiết bị công nghiệp và phụ trợ.
Ngày 21-11-1984 hoàn thành các hạng mục cơ bản, chính thức bàn giao
công trình cho nhà máy quản lý và điều hành với tên gọi: Nhà máy sợi Hà
Nội.
Tháng 10-1985, nhà máy thành lập thêm phân xưởng sản xuất phụ để
tận dụng bông phế liệu bị loại ra trong quá trình sản xuất chính để sản
xuất khăn bông với sản lượng 4.000 chiếc/năm.
Tháng 12-1987, nhà máy mở rộng quy mô đầu tư xây dựng dây chuyền
dệt kim số I và tới tháng 6-1990, dây chuyền được đưa vào sản xuất bao
gồm nhiều loại máy với chất lượng cao, có công suất 190.000 sản phẩm
quần áo các loại hàng năm và 300 tấn vải các loại. 4
Tháng 4-1990, Bộ Kinh tế Đối ngoại cho phép nhà máy được hoạt động
xuất nhập khẩu trực tiếp với tên giao dịch HANOSIMEX. Quyết định
này tạo điều kiện cho nhà máy mở rộng qan hệ thương mại với các bạn
hàng trên thế giới vì thế mà hoạt động sản xuất kinh doanh được tăng lên
rõ rệt.
Tháng 4-1991, Bộ Công Nghiệp Nhẹ quyết định tổ chức hoạt động của
nhà máy sợi Hà Nội thành: Xí nghiệp liên hiệp sợi-Dệt kim Hà Nội, tên
giao dịch đối ngoại là HANOSIMEX.
Tháng 6-1993, xây dựng dây chuyền dệt kim số II và tới tháng 3-1994
dây chuyền được đưa vào sản xuất.
Tháng 10-1993, Bộ Công Nghiệp Nhẹ quyết định sát nhập Nhà máy sợi
52.Những thuận lợi và khó khăn của công ty Dệt May Hà Nội
2.1 Thuận lợi của Công ty Dệt May Hà Nội
Trải qua gần 25 năm xây dựng và trưởng thành với bao không khí
thăng trầm cho đến nay Công ty Dệt May Hà Nội đã đạt được những
thành công nhất định, khẳng định được chỗ đứng của mình không chỉ tại
thị trường trong nước mà cả trên trường quốc tế. Để tạo được kết quả đó
là do sự đóng góp công sức của rất nhiều người từ ban lãnh đạo, cán bộ,
công nhân… đến cả những bạn hàng trong nước và trên thế giới. Bên cạnh
đó, kinh tế nước ta đang có đà hồi phục , Nhà nước tăng cường các hoạt
động đối ngoại mở rộng thị trường, ngành Dệt-May đã được Chính phủ
quan tâm phê duyệt chiến lược phát triển kèm theo các chính sách ưu đãi
tạo điều kiện vươn lên hội nhập với khu vực và thế giới…Nhờ sự quan
tâm của Đảng và Nhà nước đã tạo mọi điều kiện để Công ty có thể phát
triển vững mạnh như bây giờ.
2.2 Khó khăn cần giải quyết
Về lao động: trong những năm gần đây lực lượng lao động của Công ty
luôn biến động. Hàng năm có khoảng 300 công nhân thôi việc, hầu hết số
công nhân này đã thành thạo nghề. Điều này làm đảo lộn cơ cấu lao động
của Công ty. Để thay thế số lao động thiếu hụt đó, hàng năm buộc Công
ty phải tự đào tạo hoặc tuyển thêm công nhân, gây tốn kém nhiều thời
gian và tiền bạc mà chất lượng tay nghề công nhân lại thấp.
Về mặt kỹ thuật công nghệ: trong mấy năm gần đây, Công ty nhập
nhiều máy móc thiết bị hiện đại mà khi đó tay nghề của công nhân còn
thấp chưa thể sử dụng và hiểu hết tính năng của các thiết bị đó nên chưa
khai thác hết công suất của máy móc thiết bị.
công ty Dệt May Hà Nội là tối đa hoá lợi nhuận vì lợi nhuận sẽ phản ánh
thực chất tình hình kinh doanh cũng như chất lượng sản phẩm của công
ty.
Bên cạnh mục tiêu hàng đầu đó, công ty cũng đang cố gắng để tối thiểu
hoá chi phí sản xuất, chi phí kinh doanh nhằm giảm giá thành sản phẩm
để có thể phục vụ mọi nhu cầu dù là khắt khe nhất của khách hàng vì
trong kinh doanh công ty luôn tuân thủ tôn chỉ “khách hàng là thượng đế”.
Nhờ việc giảm giá thành công ty có thể đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản
phẩm, tăng số lượng hàng bán ra, tăng doang thu, từ đó sẽ tăng lợi nhuận
để từng bước cải thiện và nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên
toàn công ty, đảm bảo cho nguồn nhân lực của công ty không chỉ đầy đủ
về mặt vật chất mà còn dồi dào về mặt tinh thần.
Song song với các mục tiêu trên, công ty cũng không quên “đeo đuổi”
mục tiêu bảo vệ môi trường và an toàn lao động cho công nhân.
3.Quyền hạn của Công ty
Công ty Dệt May Hà Nội(tên giao dịch là HANOSIMEX) là thành viên
hạch toán độc lập. Công ty được tự chủ về mặt tài chính, có đầy đủ tư
cách pháp nhân, có trụ sở riêng, có con dấu riêng, có quan hệ đối nội, đối
ngoại, được mở tài khoản riêng ở các ngân hàng trong và ngoài nước theo
pháp lệnh của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Công ty
hoạt động theo luật Doanh nghiệp Nhà nước và các quy định của pháp
luật. Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty Dệt May Hà Nội được Chủ
tịch hội đồng quản trị Tổng Công ty Dệt May Việt Nam phê chuẩn.
Công ty có quyền và nghĩa vụ quản lý, sử dụng có hiệu quả phát triển
vốn, bảo đảm về việc làm và đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công
nhân viên, bảo đảm trật tự an ninh, bảo đảm an toàn sản xuất. 7
mặt.
- Các phòng ban chia thành hai khối cơ bản đó là khối phòng ban
chức năng và khối các nhà máy sản xuất được thể hiện qua Sơ đồ 1
trang 9
2.Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban và các nhà máy
2.1 Khối phòng ban chức năng
Các phòng ban thuộc khối điều hành công ty sẽ làm công tác nghiệp vụ,
triển khai nhiệm vụ đã được TGĐ duyệt xuống các nhà máy và các đơn vị
liên quan, đồng thời làm công tác tham mưu, cố vấn cho TGĐ về mọi mặt
trong hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh giúp TGĐ ra các quyết 8
định nhanh chóng, chính xác để hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao.
Đồng thời các phòng ban trong công ty luôn có mối liên hệ chặt chẽ và
thống nhất với nhau để đảm bảo cho việc sản xuất được xuyên suốt và
thuận lợi.
Các phòng ban thuộc khối điều hành công ty gồm:
* Phòng Tổ chức hành chính
+Tham mưu cho TGĐ về lĩnh vực tổ chức đào tạo, sắp xếp nhân sự, lao
động tiền lương, chế độ chính sách…
* Phòng Kế toán tài chính
+Tham mưu giúp việc cho TGĐ trong công tác kế toán tài chính nhằm
sử dụng đồng vốn hợp lý đúng mục đích, đúng chế độ, đảm bảo cho quá
trình sản xuất kinh doanh được duy trì liên tục và đạt hiệu quả kinh tế cao.
* Phòng Kế hoạch thương mại :
+Tham mưu, giúp TGĐ về các lĩnh vực như : nghiên cứu, dự đoán sự
toàn Công ty, tổ chức tuần tra canh gác bảo vệ kho tàng, nhà xưởng…toàn
Công ty 24h/24h.
Ngoài ra còn có: Trung tâm y tế và trung tâm thí nghiệm - kiểm tra chất
lượng sản phẩm.
2.2 Khối các nhà máy sản xuất
Mỗi nhà máy thành viên là một đơn vị sản xuất cơ bản của công ty và
sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh. Trên cơ sở các dây chuyền sản xuất sản
phẩm, các nhà máy có chức năng sử dụng công nhân,tổ chức quản lý quá
trình sản xuất, thực hiện các định mức kinh tế-kỹ thuật, đảm bảo hiệu suất
sản xuất tối đa, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất làm việc
của dây chuyền. Tất cả các hoạt động trong quá trình sản xuất của cả nhà
máy đều đặt dưới sự chỉ đạo của Giám đốc(GĐ) nhà máy. Giúp việc cho
giám đốc nhà máy là hai Phó GĐ, tổ Nghiệp vụ, tổ kỹ thuật chuyên môn
cùng với các tổ trưởng tổ sản xuất.
Giám đốc các nhà máy thành viên chịu trách nhiệm trước TGĐ về toàn
bộ hoạt động của nhà máy mình quản lý. Phó GĐ có trách nhiệm thực
hiện những công việc được phân công và được GĐ uỷ quyền, tham mưu
cho GĐ những vấn đề quan trọng trong quá trình sản xuất, chịu trách
nhiệm trước GĐ về kết quả công việc được giao.
Công ty bao gồm các nhà máy trực thuộc đóng tại nhiều địa bàn khác
nhau:
- Nhà máy sợi Hà Nội ( đóng tại trụ sở chính của Công ty)
- Nhà máy sợi Vinh ( đóng tại thành phố Vinh – Nghệ An)
- Nhà máy dệt nhuộm được trang bị thiết bị dệt của Châu Âu.
- Nhà máy may 1 ( đóng tại trụ sở chính của Công ty).
- Nhà máy May 2 ( đóng tại trụ sở chính của Công ty ).
- Nhà máy May 3 (đóng tại trụ sở chính của Công ty ).
- Nhà máy may Đông Mỹ ( đóng tại Đông Mỹ – Thanh Trì Hà Nội).
- Nhà máy dệt Denim (đóng tại trụ sở chính của Công ty).
- Nhà máy dệt Hà Đông (đóng tại Cầu Am – Thị xã Hà Đông).
1.2 Đặc điểm về nguyên vật liệu
Nguyên vật liêu chính của Công ty là bông và xơ tổng hợp. Có những
nguyên vật liệu trong nước có thể đáp ứng được nhu cầu của Công ty
nhưng lại không thể phục vụ cho sản xuất vì vậy buộc Công ty phải nhập
khẩu từ các nước khác. Các nước mà Công ty nhập khẩu nguyên vật liệu
chính thường là: Nga, Mỹ, Hàn Quốc và một số nước Châu Á. Đó là
nguyên nhân làm chi phí nguyên vật liệu luôn bị biến động, kéo theo giá
thành sản phẩm bị thay đổi do nguyên liệu chiếm tới 70% giá thành.
1.3 Đặc điểm về lao động
Lực lượng lao động trong công ty rất đông đảo, bao gồm nhiều loại lao
động khác nhau, trình độ tay nghề cũng khác nhau, bao gồm những người
đã tốt nghiệp đại học, những công nhân được đào tạo từ các trường trung
cấp, cao đẳng cho tới những người không được đào tạo qua trường lớp
như công nhân bốc vác, lao công.
Nguồn nhân lực trong Công ty được phản ánh qua bảng sau:
Biểu1: Cơ cấu lao động trong Công ty qua những năm gần đây:
Đơn vị: người
Tổng số Bộ phận Bộ phận Trình độ học vấn 11
Năm lao động Nam Nữ hành
chính
sản xuất
trực tiếp
Đại
2.Đặc điểm của sản phẩm
Các sản phẩm chính của Công ty bao gồm:
- Sợi các loại : bao gồm 100% cotton, T/C, CVC, 100% PE, sợi OE, với
công suất 15.000 tấn/năm
- Các sản phẩm dệt kim : được sản xuất trên các loại vải 100% cotton,
T/C, CVC, 100%PE với các kiểu dệt Single, Pique, Rib …Công suất:
6.000.000 sp/năm bao gồm quần áo thể thao, polo shirt, T-shirt
- Vải Denim có chun và không chun với các trọng lượng khác nhau,
công suất 6.500.000mét/năm.
- Các sản phẩm bằng vải Denim, công suất 1.250.000 sản phẩm/năm.
- Khăn mặt bông các loại và lều du lịch: với công suất 1000 tấn/năm.
- Mũ : Công suất 4.800.000 sản phẩm/năm.
Đây là những sản phẩm có đặc điểm dễ bảo quản, vận chuyển và sản
xuất theo mùa. Sản phẩm của Công ty đưa ra thị trường thuộc hai loại
hàng: hàng kỹ nghệ và hàng mua sắm.
Hàng kỹ nghệ là những món hàng do cá nhân hay tổ chức mua về để
gia công thêm hoặc dùng trong việc điều hành công việc.
Hàng mua sắm là loại hàng mà người khách trong quá trình lựa chọn
mua có so sánh về đặc tính của sản phẩm: độ phù hợp, chất lượng, giá cả,
kiếu dáng.
12
3.Kết quả sản xuất kinh doanh
Công ty Dệt May Hà Nội trước kia là một đơn vị sản xuất theo chỉ tiêu
kế hoạch ngành giao. Ngày nay khi chuyển đổi từ nến kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước,
Công ty đã nhanh chóng tiếp cận với thị trường, mở rộng mặt hàng sản
xuất kinh doanh của mình.
11.783
4.243
5.293
3 Lợi nhuận
Tr đ 1.058
1.211
1.302
1.437
1.544
4 TNBQ
nđ/ng/th 688
650
742
1.200
1.280Nguồn: Phòng Kế toán-Tài chính
rộng qua việc họ được quyền tham gia xây dựng phương án kinh doanh,
tham gia phân phối lợi nhuận, thanh tra, kiểm tra các hoạt động của Công
ty thông qua tổ chức công đoàn.
2.Tình hình công tác kế hoạch hoá tài chính
2.1 Tình hình xây dựng kế hoạch tài chính
Việc xây dựng, đánh giá và lựa chọn các phương án kế hoạch kinh
doanh và dự án đầu tư do nhiều bộ phận trong doanh nghiệp cùng phối
hợp thực hiện. Hàng năm, Công ty lập kế hoạch thu-chi tài chính và các
khoản nộp ngân sách gửi về cơ quan cấp trên. Công ty luôn cố gắng thực
hiện các chỉ tiêu tài chính mà Tổng Công ty giao, đảm bảo chế độ pháp
luật của Nhà nước, đồng thời thực hiện nghiêm chế độ hạch toán kế toán
tài chính thống nhất do Nhà nước ban hành. Bên cạnh đó, Công ty cũng
luôn hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị thành viên thực hiện chế độ hạch
toán kế toán tài chính.
Nhờ việc lập kế hoạch thu-chi tài chính mà Công ty luôn kiểm soát
được khả năng tài chính của mình, nhờ đó có thể chủ động trong công
việc kinh doanh. Nếu gặp phải những sự cố (ngoài tầm kiểm soát do sự
biến động của thị trường) trong việc thanh toán do thiếu vốn lưu động, 14
trong thường hợp cần thiết, Công ty có thể lập phương án, làm thủ tục
thanh lý, nhượng bán, điều động tài sản cố định theo quy định của Nhà
nước để giải phóng vốn lưu động. Đối với các tài sản nếu không cần dùng
đến do quá cũ, lạc hậu hoặc đã khấu hao hết, Công ty có thể làm thủ tục
ký hợp đồng kinh tế để nhượng bán, thanh lý…
2.2 Tình hình tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính của Công ty
Đây là nội dung trọng tâm của công tác tổ chức tài chính trong
và dễ hiểu đối với công ty Dệt May Hà Nội do đặc điểm hoạt động của
công ty là sản xuất nên lượng vốn cố định công ty đã đầu tư vào việc mua
sắm tài sản cố định để phục vụ cho quá trình sản xuất tại các nhà máy. 15
Dựa vào những số liệu trên biểu có thể đánh giá chung tình hình quản
lý và sử dụng vốn kinh doanh trong năm là tốt. Vì doanh thu bán hàng
theo giá vốn tăng 108.443(tiệu đồng), tỷ lệ tăng 19,38%; lợi nhuận kinh
doanh tăng 181(triệu đồng), tỷ lệ tăng 11,72%; trong khi đó tổng vốn kinh
doanh chỉ tăng 37.069(triệu đồng), tỷ lệ 6,09%; tỷ lệ tăng vốn thấp hơn tỷ
lệ tăng doanh thu và lợi nhuận.
Biểu 3: Phân tích tổng hợp tình hình vốn của doanh nghiệp
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2001 Năm 2002 So sánh năm 2002-2001
Số tiền
TT(%) Số tiền TT(%) Số tiền
TL(%) TT(%)
1
2 3 4 5 6 7 8
TSLĐ&ĐTNH
332.713
54,70
645.284
100
37.069
6,09
0
DT bán hàng
559.506
0
667.949
0
108.443
19,38
0
Lợi nhuận KD
1.544
0
+ Vốn do ngân sách Nhà nước cấp.
+ Vốn từ các quỹ: quỹ khấu hao, quỹ đầu tư phát triển, lợi nhuận để lại
của Công ty.
+ Nguồn vốn vay của Ngân hàng.
+ Nguồn vốn phát hành chứng khoán. Đây là bộ phận vốn rất quan
trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. 16
+Nguồn vốn liên doanh, liên kết. VI.PHÂN TÍCH KẾT QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
Qua biểu 2 ở trên cho thấy, năm 1998 công ty đạt lợi nhuận cao nhất,
nguyên nhân do năm này công ty đã mở rộng thị trường của mình nhất là
các sản phẩm dệt kim đã có mặt ở nhiều nước như Hàn Quốc, Nhật Bản…
Năm 1999 công ty đạt mức lợi nhuận thấp nhất do năm này công ty mới
phải tiếp nhận nhà máy dệt Hà Đông là một nhà máy làm ăn thua lỗ, mất
uy tín với khách hàng, hơn nữa giá cả các yếu tố đầu vào cho sản xuất sợi
là bông, xơ có nhiều biến động, cho nên mặc dù doanh thu của năm này
so với năm 1996, 1997 vẫn tăng nhưng lợi nhuận thu được lại giảm.
Trên đây là những kết quả mà công ty đã đạt được trong những
năm qua. Tuy nhiên, qua phân tích thực trạng tình hình tiêu thụ của công
ty, thấy rằng:
- Đối với xuất khẩu thì sản phẩm dệt kim là sản phẩm chiến lược
của Công Ty Dệt May Hà Nội, tạo nguồn thu ngoại tệ chính. Việc tăng
cường ký kết các hợp đồng sản xuất hàng dệt kim với nước ngoài làm cho
kim ngạch xuất khẩu mặt hàng dệt kim tăng mạnh qua các năm từ năm
1997 đến năm 1998. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này năm
174,2
44,1
2001 438,4
254,8
58,1Nguồn: Phòng Xuất nhập khẩu
Đối với thị trường trong nước, công ty cũng rất quan tâm. Tuy nhiên,
doanh thu chủ yếu ở thị trường trong nước là từ sợi. Vì xác định sợi là mặt
hàng chủ lực tiêu thụ trong nước nên công ty luôn tiến hành tìm hiểu nhu 17
cầu các bạn hàng và cố gắng thoả mãn các yêu cầu của họ một cách tốt
nhất do đó doanh thu không những được giữ ổn định mà còn có chiều
hướng tăng lên. Đối với sản phẩm dệt kim, khăn bông có dấu hiệu tiêu
thụ tốt tại thị trường trong nước, tuy nhiên nó chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong
tổng doanh thu.
VII.TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA, KIỂM SOÁT TÀI
CHÍNH
Theo khoản 3 Thông tư số 73 TC/TCDN ngày 12 tháng 11 năm 1996
của Bộ Tài Chính về việc “Hướng dẫn lập, công bố công khai và kiểm tra
báo cáo tài chính, kiểm tra kế toán các doanh nghiệp Nhà nước” quy định:
toán tập trung. Bộ máy kế toán của Công ty bao gồm nhiều phần hành kế
toán có quan hệ mật thiết với nhau và thực hiện chức năng nhiệm vụ dưới
sự phân công của kế toán trưởng.
2.Tổ chức bộ máy kế toán
2.1 Sơ đồ bộ máy kế toán
Sơ đồ 2: Bộ máy kế toán của Công ty Dệt May Hà Nội
2.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận kế toán
- Trưởng phòng kế toán tổ chức ( kiêm kế toán trưởng) tổ chức chỉ
đạo thực hiện toàn bộ công tác tổ chức thống kê thông tin kinh tế, hạch
toán ở Công ty đồng thời làm nhiệm vụ kiểm soát viên Nhà nước tại Công
ty. Kế toàn trưởng là người phân tích các kết quả kinh doanh và cùng với
phó TGĐ tài chính giúp TGĐ lựa chọn phương án kinh doanh và đầu tư
KT
TL
KT
TG
NH
KT
TM
KT
CN 19
để đạt hiệu quả cao. Kế toán trưởng sẽ phân công nhiệm vụ cho từng phần
hành kế toán để mỗi bộ phận tự chịu trách nhiệm với nhiệm vụ của mình
mà điều lệ tổ chức kế toán đã ban hành.
- Phó phòng kế toán - tài chính là người giúp việc cho trưởng phòng
trong lĩnh vực công việc được phân công, cùng với trưởng phòng tham gia
vào công tác tổ chức điều hành các phần hành kế toán cũng như khen
thưởng, kỷ luật, nâng lương cho cán bộ nhân viên trong phòng.
- Kế toán nguyên vật liệu bao gồm kế toán nguyên vật liệu chính và
nguyên vật liệu phụ, theo dõi trực tiếp việc nhập xuất nguyên vật liệu và
lập các chứng từ có liên quan như sổ chi tiết vật tư, bảng phân bổ số 2,
bảng kê số 3 đồng thời thực hiện hạch toán ngiệp vụ có liên quan đến
xuất-nhập-tồn bguyên vật liệu. Định kỳ, cùng với thủ kho kế toán nguyên
vật liệu tiến hành kiểm kê đối chiếu số liệu trên sổ sách và thực tế tại kho.
- Kế toán giá thành bao gồm kế toán sản phẩm sợi và kế toán giá
thành dệt kim. Kế toán giá thành căn cứ vào các bảng phân bổ chứng từ
có liên quan để tập hợp phân bổ chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm. Sau đó sẽ tiến hành lập bảng kê số 4, 5, 6 và nhật ký chứng từ sổ.
tiết và sổ cái,thực hiện quá trình hạch toán luân chuyển chứng từ.
- Hình thức nhật ký-chứng từ thích hợp với các doanh nghiệp lớn, số
lượng nghiệp vụ nhiều, dễ chuyên môn hoá cán bộ kế toán. Những sổ
sách kế toán chủ yếu được sử dụng gồm có:
Sổ Nhật ký – Chứng từ: Nhật ký – Chứng từ được mở hàng tháng
cho một hoặc một số tài khoản có nội dung kinh tế giống nhau và
có liên quan với nhau theo yêu cầu quản lý và lập các bảng tổng
hợp - cân đối. Nhật ký - Chứng từ được mở theo số phát sinh bên
Có của tài khoản đối ứng với bên Nợ các tài khoản liên quan, kết
hợp giữa ghi theo thời gian và theo hệ thống, giữa hạch toán tổng
hợp và hạch toán phân tích.
Sổ cái: Mở cho từng tài khoản tổng hợp và cho cả năm, chi tiết theo
từng tháng trong đó bao gồm số dư đầu kỳ, số phát sinh trong kỳ và
số dư cuối kỳ. Sổ cái được ghi theo số phát sinh bên Nợ của tài
khoản đối ứng với bên Có của các tài khoản liên quan, còn số phát
sinh bên Có của từng tài khoản chỉ ghi tổng số trên cơ sở tổng hợp
số liệu từ Nhật ký – Chứng từ có liên quan.
Bảng kê: Được sử dụng cho một số đối tượng cần bổ sung chi tiết
như bảng kê ghi Nợ TK 111, TK 112, bảng kê theo dõi hàng gửi
bán, bảng kê chi phí theo phân xưởng v.v…Trên cơ sở các số liệu
phản ánh ở bảng kê, cuối tháng ghi vào Nhật ký – Chứng từ có liên
quan.
Bảng phân bổ: Sử dụng với những khoản chi phí phát sinh thường
xuyên, có liên quan đến nhiều đối tượng cần phải phân bổ( tiền
lương, vật liệu, khấu hao…). Các chứng từ gốc trước hết tập trung
vào bảng phân bổ, cuối tháng, dựa vào bảng phân bổ chuyển vào
các bảng kê và NK-CT liên quan.
Sổ chi tiết: Dùng để theo dõi các đối tượng hạch toán cần hạch toán
chi tiết.
- Trình tự ghi sổ:
Hàng ngày: Ghi cuối tháng : Quan hệ đối chiếu
Ch
ứ
ng t
ừ
g
ố
c
B
ả
ng phân b
ổ
ế
toán
22
IX. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC PHẦN HÀNH KẾ TOÁN Ở CÔNG
TY DỆT MAY HÀ NỘI
1.Hạch toán tài sản bằng tiền và tiền vay
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty thường
phát sinh các mối quan hệ thanh toán với các tổ chức, cá nhân khác về
cung ứng vật tư hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm, với các ngân hàng và đối
tượng khác ngoài ngân hàng như các tổ chức kinh tế quốc doanh, tập thể,
các xí nghiệp tư nhân và cá nhân trong và ngoài nước về các khoản tiền
vay và thanh toán tiền vay; với cán bộ công nhân viên của Công ty về
lương, bảo hiểm xã hội… Tất cả cấc quan hệ thanh toán trên được thực
hiện chủ yếu bằng tiền. Vốn bằng tiền của Công ty đại bộ phận được gửi
tập trung ở ngân hàng, một phần nhỏ để lại ở Công ty để phục vụ nhu cầu
thanh toán lặt vặt phát sinh hàng ngày. Do vậy, việc hạch toán vốn bằng
tiền là việc quan trọng đối với công tác kế toán vì nhờ đó mà kế toán có
thể điều chỉnh kịp thời lượng vốn lưu chuyển để tăng khả năng sử dụng
vốn cho công ty đồng thời quản lý tốt hơn lượng vốn vay sao cho đạt hiệu
quả cao nhất.
Kế toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất là
đồng bạc Việt Nam. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải
quy đổi ra “ đồng “ ngân hàng Việt Nam.
1.1 Sổ kế toán:
ngày và lập báo cáo quỹ chuyển cho phòng kế toán kèm theo tất cả các
chứng từ thu, chi để làm cơ sở ghi sổ kế toán. Tất cả các nghiệp vụ thu,
chi quỹ đều hạch toán vào Tài khoản 111 trong NKCT số 1 và bảng kê số
1. Cơ sở để ghi vào Nhật ký số 1 ( ghi Có Tài khoản 111 ) và Bảng kê số
1 ( ghi Nợ Tài khoản 111 ) là báo cáo quỹ kèm theo các chứng từ gốc(
phiếu thu, phiếu chi, hoá đơn … ). Mỗi báo cáo quỹ được ghi một dòng
trên NKCT số 1 và Bảng kê số 1 theo thứ tự thời gian.Đầu tháng, khi mở
Bảng kê số 1 căn cứ vào số dư cuối tháng trước của Tài khoản 111 để ghi
vào phần số dư đầu tháng này. Số dư cuối ngày được tính bằng số dư cuối
ngày hôm trước cộng (+) với số phát sinh Nợ trong ngày trên Bảng kê số
1 và trừ (-) đi số phát sinh bên Có trên NKCT số 1. Cách tính số dư cuối
tháng trên Bảng kê số 1 cũng tương tự cách tính số dư cuối ngày. Tổng số
phát sinh Có và phát sinh Nợ TK111 đối ứng Nợ và Có với các tài khoản
có liên quan phản ánh trong NKCT số 1 và Bảng kê số 1 sau khi đối chiếu
khớp hàng ngang cột dọc được kiểm tra đối chiếu với các nhật ký chứng
từ có liên quan. Cuối tháng số liệu tổng cộng của NKCT số 1 được sử
dụng để ghi sổ cái .
1.3.2: Hạch toán tiền gửi ngân hàng
Hàng ngày, sau khi nhận được các bản sao kê kèm các giấy báo Nợ-Có
kế toán phải kiểm tra lại toàn bộ căn cứ để định khoản, sau khi tổng hợp
định khoản trên bảng sao kê được sử dụng để ghi vào NKCT số 2 và bảng
kê số 2.
- Phát sinh Có TK112 đối ứng Nợ các tài khoản liên quan ghi NKCT số 2
- Phát sinh Có TK112 đối ứng Có các tài khoản liên quan ghi Bảng kê số
2
Trên bảng kê số 2 còn phản ánh số dư đầu tháng cuối tháng, cuối ngày.
Cách tính số dư tài khoản 112 BK2 cũng giống tài khoản 111 trên BK1.
Cuối tháng sau khi phản ánh toàn bộ số phát sinh Nợ và Có vào NKCT và
bảng kê, kế toán tiến hành đối chiếu khớp với các NKCT và bảng kê có
liên quan.
25
3. Nộp tiền mặt vào ngân hàng 36.000, chưa báo Có
4.Khách hàng trả nợ 45.000 bằng ngân phiếu và thu được các
khoản phải thu khác 8.000 bằng tiền mặt, đã nhập quỹ đủ
5.Nhận được giấy báo Có của ngân hàng số tiền nộp ở nghiệp vụ 3
Các nghiệp vụ trên được định khoản như sau:(1.000đ)
1. Nợ TK 111(1111) : 25.000
Có TK 112(1121) : 25.000
2. Nợ TK 111(1111) : 19.800
Có TK 511 : 18.000
Có TK 3331(33311) : 1.800
Nợ Tài khoản 632 : 15.000
Có Tài khoản 156 : 15.000
3. Nợ TK 113(1131) : 36.000
Có TK 111(1111) : 36.000
4. Nợ TK 111(1111) : 53.000
Có TK 131 : 45.000
Có TK 138(1388) : 8.000
5. Nợ TK 112(1121) : 36.000
Có TK 113(1131) : 36.000
2.Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với người bán và mua hàng
2.1 Sổ kế toán
Hạch toán thanh toán với người cung cấp và mua hàng được thực hiện:
- NKCT số 5, 6, 7
- SCT số 2
- Sổ chi tiết thanh toán với người cung cấp
2.2 Tài khoản sử dụng
- TK 331 : “Phải trả cho người cung cấp”
- TK 151 : “Hàng mua đang đi đường”