TRƯỜNG..........................
KHOA……………………
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI
Một số giải pháp thúc đẩy
tiêu thụ sản phẩm của Công
ty Dệt May Hà Nội
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
LỜI NÓI ĐẦU Đất nước ta sau hơn 20 năm đổi mới chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp
sang nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã có được
những thành công to lớn. Nền kinh tế thị trường buộc các doanh nghiệp phải
luôn phấn đấu nỗ lực không ngừng thì mới có tồn tại trong môi trường cạnh
tranh khốc liệt. Đặc biệt với những doanh nghiệp sản xuất có tồn tại được hay
không còn phải phụ thuộc vào khâu tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm của mình,
đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Song công tác thúc đẩy tiêu thụ sản
phẩm, đưa sản phẩm đến từng khu vực thị trường chưa được coi trọng đúng mức
trong các doanh nghiệp này. Việt Nam đang từng bước mở cửa thị trường và hội
nhập với các nước trong khu vực và thế giới điều đó làm cho mức độ cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước sẽ ngày càng khốc liệt hơn. Điều này
buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến công tác thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm.
PHAN THU HIỀN. Phan Thu HiÒn
2
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI
I. LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ HỆ THỐNG BỘ MÁY CỦA CÔNG TY:
1.1
Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
1.1.1 Giới thiệu chung về công ty:
Công ty Dệt - May Hà Nội trước đây là Nhà Máy Sợi Hà Nội được thành
6/1990, đưa vào sản xuất.
-Tháng 4/1990, Bộ Kinh Tế Đối Ngoại cho phép xí nghiệp được kinh
doanh xuất khẩu trực tiếp (tên giao dịch viết tắt là HANOSIMEX)
-Tháng 4/1991, Bộ Công Nghiệp Nhẹ quyết định chuyển tổ chức và
Nhà Máy Sợi Hà Nội thành Xí Nghiệp Liên Hợp Sợi Dệt Kim Hà Nội .
-Tháng 6/1993, xây dựng dây chuyền dệt kim số 2, tháng 3/1994 đưa
vào sản xuất.
-Ngày 19/5/1994, khánh thành nhà máy dệt kim (cả hai dây chuyền 1
và 2)
-Tháng 10/1994, Bộ Công Nghiệp Nhẹ quyết định sáp nhập nhà máy
sợi Vinh (tỉnh Nghệ An) vào xí nghiệp liên hợp.
-Tháng 1/1995, khởi công xây dựng Nhà máy Thêu Đông Mỹ.
-Tháng 3/1995, Bộ Công Nghiệp Nhẹ quyết định sáp nhập Công ty Dệt
Hà Đông vào xí nghiệp liên hợp.
Phan Thu HiÒn
4
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
-Năm 2000, công ty đổi tên thành Công ty Dệt May Hà Nội
(Hanosimex)
Cho đến nay, Công ty Dệt May Hà Nội bao gồm các thành viên :
+ Tại quận Hoàng Mai, Hà Nội: Nhà máy Sợi, Nhà máy Dệt Nhuộm,
Nhà máy May, Nhà máy Cơ Điện
+ Tại huyện Thanh Trì, Hà Nội: Nhà máy May Đông Mỹ.
+ Tại thị xã Hà Đông, Hà Tây: Nhà máy Dệt Hà Đông.
+ Tại thành phố Vinh, Nghệ An: Nhà máy Sợi Vinh.
+ Cửa hàng thương mại dịch vụ: các đơn vị dịch vụ khác.
1.2. Hệ thống tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của công ty.
1.2.1
.
ngừng như vậy hiện nay công ty được tổ chức theo mô hình sau:
Phòng kế toán
Phòng kỹ
thuật đầu tư
Phòng
thương mại
Phòng tổ chức
HC
Phòng kế
hoạch TT
Giám đốc điều
hnh sợi
Phó TGĐ điều
hnh may
GĐ điều hnh
dệt nhuộm
GĐ ĐH quản trị
hnh chính
Tổng
giám
đốc
Phan Thu HiÒn
6
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
công tác xây dựng và điều hành thực hiện kế hoạch sản xuất, công tác cung ứng
vật tư sản xuất và quản lý vật tư, sản phẩm; công tác Marketing tiêu thụ sản
phẩm, khảo sát thị trường, mở rộng thị trường tiêu thụ, quản lý quá trình tiêu thụ
sản phẩm của công ty.
1.2.3. Hệ thống tổ chức sản xuất.
Hanosimex là một trong những công ty có chỗ đứng trong ngành Dệt May
Việt Nam, với việc không ngừng mở rộng sản xuất, hiện nay công ty có các đơn
vị thành viên sau:
Công ty Dệt May H Nội
Nh
máy
Sợi 1 Nh
máy
Sợi 2 Nh
Nh máy
Động lực Xí nghiệp
dịch vụ Sơ đồ 2: Các đơn vị thành viên của công ty Dệt May Hà Nội
Nhà máy Sợi I, Sợi II, Sợi Vinh sản xuất các nguyên liệu bông xơ thành
sợi.
Nhà máy Dệt- Nhuộm là Nhà máy sản xuất từ nguyên liệu sợi dệt thành
vải dệt kim và nhuộm vải.
Nhà máy May và nhà máy May thêu Đông Mỹ dùng vải dệt kim để sản
xuất quần áo dệt kim.
Nhà máy dệt Hà Đông dệt khăn.
Phan Thu HiÒn
8
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
Nhà máy cơ khí: gia công các phụ tùng thiết bị, sửa chữa các loại máy móc
bị hỏng hóc trong toàn bộ dây chuyền sản xuất của công ty, sản xuất ống giấy,
túi PE, vành chống bẹp cho sợi, bao bì...
Nhà máy Động lực cung cấp điện nước, khí nén, nước lạnh, lò hơi, lò dầu
cho các đơn vị thành viên của công ty.
Xí nghiệp kinh doanh dịch vụ.
Mỗi nhà máy là một đơn vị sản xuất cơ bản, mỗi nhà máy có trách nhiệm
sản xuất một loại sản phẩm hoàn chỉnh. Giám đốc các nhà máy thành viên do
Tổng Giám Đốc chỉ định. Các Giám đốc chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc
công ty về toàn bộ hoạt động của nhà máy như hoạt động sản xuất, kỹ thuật,
hạch toán... theo phân cấp quản lý của công ty.
mới chào hàng mà dựa trên các đơn đặt hàng để đáp ứng các nhu cầu khách
hàng, mặt hàng áo T- Shirt và Poloshirt do công ty sản xuất đã được khách hàng
nhiều nước ưa chuộng.
Mặt hàng khăn bông: tuy mới đưa vào sản xuất từ năm 1995 nhưng đã
chiếm lĩnh được thị trường và lòng tin của nhiều khách hàng trên thế giới như:
Nhật Bản, Đức, Đài Loan.... Kết quả này có được nhờ sự cố gắng của toàn bộ
cán bộ công nhân viên trong công ty trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và
làm tốt công tác Marketing trong quá trình tiêu thụ sản phẩm.
2.2. Đặc điểm thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty .
Sản phẩm của công ty không chỉ được tiêu thụ tại thị trường nội địa mà còn
xuất khẩu sang các nước khác như: Mỹ, Canada, Nhật, Anh, Đan Mạch, Đức, áo,
Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Đài Loan, Li Băng, Nga, Nam Phi, úc, Trung Quốc, các
nước Asian, Thụy Sỹ, Bỉ, Hà Lan, Pháp, Séc, ấn Độ. Trong số đó có ba thị
trường chính chiếm phần lớn lượng hàng xuất khẩu của công ty là thị trường các
nước Châu Âu, Nhật và Mỹ.
Tại thị trường trong nước công ty chủ yếu cung cấp sản phẩm sợi cho thị
trường miền Nam, tuy chi phí vận chuyển lớn và quãng đường vận chuyển dài
nhưng đây lại là thị trường tiêu thụ lớn sản phẩm sợi của công ty; còn ở thị
Phan Thu HiÒn
10
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
trường miền Bắc số lượng tiêu thụ không đáng kể. Tuy nhiên hiện nay nhu cầu
về sợi ở miền Bắc đang tăng lên đáng kể do số lượng các doanh nghiệp dệt may
ngày càng tăng, đây sẽ là thị trường đầy tiềm năng cho công ty khai thác trong
những năm tới. Mặt hàng dệt kim cũng được bán tại thị trường nội địa, công ty
đã đưa ra thị trường áo Poloshirt, áo T.shirt, Hineck phù hợp với thị hiếu của
người tiêu dùng về mẫu mã giá cả tuy nhiên với mặt hàng này công ty không
chú trọng ở thị trường trong nước mà chủ yếu là để xuất khẩu. Sản phẩm khăn
tiêu thụ ở trong nước là rất ít chủ yếu là để xuất khẩu. Nhưng trong vài năm gần
đây do mẫu mã được cải tiến chất lượng sợi tốt hơn nên sản phẩm khăn được
11
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
7 Thô Peco ( Ne60) 385,7 289,3 75
8 Thô Peco 83/17 ( Ne45 ) 660,3 462,2 70
9 Thô Peco 65/35 ( Ne45) 637,3 465,2 73
10 Thô Peco 100% ( Ne 40,45 ) 623,6 436,5 70
11 Thô Cotton CK ( Ne 40,36 ) 440,8 321,8 73
12 Thô Cotton CT ( Ne 36,32) 600 426 71
13 Sợi con Peco CK 65/35và 83/17(Ne60 ) 26,8 25 93
14 Sợi con Peco CK 65/35 và83/17(Ne30) 71,56 64,4 90
15 Sợi con PE 100% (Ne 45 ) 41,8 39,1 94
16 Sợi con ( Ne 40) 45,8 41,7 91
17 Sợi con Cotton CK ( Ne 30 ) 68,8 60,4 88
18 Máy ống không USTEP-PE
(Ne60)kg/cọc
33088 2449 74
19 Máy ống không USTEP Cotton 50373 3123 62
Nguồn: Phòng kỹ thuật đầu tư.
Nền kinh tế nước ta hiện nay là một nền kinh tế phát triển chậm, điều này ảnh
hưởng không nhỏ tới các doanh nghiệp trong việc nhận chuyển giao công nghệ
và tiếp cận với các loại máy móc thiết bị hiện đại của nước ngoài. Do đó nó làm
hạn chế năng lực sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất của nước ta.
Ngành Dệt May có đặc điểm là sử dụng nhiều loại máy móc thiết bị khác
nhau trong sản xuất một loại sản phẩm. Những năm trước đây tình hình máy
móc thiết bị của ngành Dệt May nước ta tương đối lạc hậu, tiếp nhận các loại
máy móc thiết bị cũ của Tây Đức và một số nước Đông Âu cho nên sản phẩm
làm ra chỉ đáp ứng được thị trường trong nước. Nhưng trong những năm gần đây
ngành Dệt May của chúng ta đã đầu tư tương đối lớn để thay thế máy móc thiết
+ Hệ thống khí nén cung cấp khí nén cho xí nghiệp Dệt.
Tất cả hệ thống máy móc được sử dụng liên tục cho nên vấn đề đảm bảo
yêu cầu kỹ thuật an toàn của thiết bị phải được đặt lên hàng đầu.
Như vậy, trong thời gian gần đây hệ thống máy móc thiết bị của công ty
đã được cải thiện đáng kể. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc duy trì
và mở rộng thị trường tiêu thụ và cho phép công ty đưa ra những chính sách hữu
hiệu về sản phẩm về giá cả và phân phối. Máy móc thiết bị hiện đại cho phép sản
xuất ra những chủng loại sản phẩm mới có mẫu mã kiểu dáng đa dạng phong
phú phù hợp với thị hiếu của khách hàng đặc biệt là với thị trường xuất khẩu là
những thị trường rất khó tính. Năng lực sản xuất của công ty cũng được nâng
Phan Thu HiÒn
13
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
cao đáng kể có thể đáp ứng được những đơn đặt hàng lớn. Với những dây
chuyền sản xuất với công nghệ hiện đại là chìa khóa cho việc giảm chi phí sản
xuất và hạ giá thành sản phẩm. Nhờ việc mạnh dạn đổi mới các dây chuyền công
nghệ hiện đại cho nên công ty đã tạo cho sản phẩm của mình khả năng cạnh
tranh trên thị trường đồng thời hoạt động phân phối tiêu thụ hàng hoá cũng gặp
nhiều thuận lợi hơn. Nhờ đó, công ty cũng mạnh dạn hơn trong việc đưa ra
những chính sách quảng cáo, xúc tiến với qui mô lớn hơn.
2.3.2. Những đặc điểm về quy trình công nghệ.
Quy trình công nghệ, kết cấu sản xuất:
Sơ đồ 3: Dây chuyền sản xuất sợi thô.
Máy
bóng
Máy trải
chế
Máy ống Máy chải
thô
Máy ghép
Máy cợi
con không
cọc
Máy ốngSơ đồ 6: Dây chuyền sản xuất dệt kim Sợi Vải Vải thành Quần áo
Mộc phẩm dệt kim
Máy dệt
kimXử lý
hon tất
Cắt
May
mộc
Hanosimex là một tổ hợp sản xuất kinh doanh bao gồm các nhà máy và
các đơn vị thành viên có quan hệ mật thiết với nhau về công việc, tổ chức sản
xuất, sử dụng nguyên vật liệu và các hoạt động dịch vụ để sản xuất ra các sản
phẩm dệt kim, sợi, khăn đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, phục vụ tiêu dùng
trong nước cũng như xuất khẩu.
Do đặc điểm của công ty nên các quy trình công nghệ rất phức tạp. Trong
quá trình sản xuất các phân xưởng, nhà máy có liên quan chặt chẽ với nhau và
ảnh hưởng lẫn nhau. Vì vậy quy trình công nghệ nào bị gián đoạn không đảm
bảo được kế hoạch sản lượng hoặc chất lượng sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả sản
xuất của công đoạn sau. Việc đình trệ trong quá trình sản xuất sẽ ảnh hưởng tới
kết quả sản xuất tiêu thụ của công ty đặc biệt là việc thực hiện các đơn hàng theo
thời điểm giao hàng. Do đó đi đôi với việc tổ chức sản xuất khoa học phải kết
hợp với việc điều hành nhịp nhàng và đồng thời phải nhanh chóng giải quyết các
sự cố để giảm thiểu việc ảnh hưởng tới kết quả sản xuất kinh doanh của công ty,
thường xuyên theo dõi kiểm tra việc thực hiện quy trình công nghệ.
Quy trình công nghệ của Hanosimex rất phức tạp để tạo ra sản phẩm phải
qua nhiều khâu, nhiều công đoạn sản xuất. Do đó vấn đề thay đổi mẫu mã sản
phẩm, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm cũng như việc đảm bảo
đúng tiến độ giao hàng gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ sản
phẩm trong điều kiện môi trường cạnh tranh như hiện nay.
Máy
thnh
phẩm
Máy xẻ
IV. Theo giới tính
1. Lao động nữ 3634 73,83 3496 73,53 3473 73,02
2. Lao động nam 1288 26,14 1258 26,47 1283 26,98
V. Phân theo khu vực
1. Khu vực Hà Nội 3154 64,07 3148 66,20 3224 67,79
2. Khu vực Vinh 730 14,83 661 13,90 570 11,98
3. Khu vực Hà Đông 721 14,65 664 13,97 676 14,21
4. Khu vực Đông Mỹ 317 6,45 280 5,93 286 6,02
Qua đó ta thấy số lượng lao động năm 2004 tăng hơn so với năm 2003.
Việc tăng lao động là do công ty nhận được nhiều đơn đặt hàng lớn do đó cần
thêm công nhân để hoàn thành các đơn hàng đúng thời gian. Việc tuyển thêm
lao động vừa để đáp ứng yêu cầu công việc vừa bù đắp lượng lao động thiếu hụt
do việc thuyên chuyển công tác, xin thôi việc, nghỉ việc vì hết tuổi lao động của
người lao động. Do đặc thù riêng của ngành dệt may nên đòi hỏi lao động nữ và
lao động trực tiếp lớn hơn so với lao động nam và lao động gián tiếp.
Phan Thu HiÒn
17
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
Từ bảng ta cũng thấy được đội ngũ cán bộ quản lý của công ty phần lớn
đều có trình độ đại học và đội ngũ công nhân thì có bậc thợ cao. Đây là điều
kiện để công ty đáp ứng được yêu cầu mới trong nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
của mình. Tuy nhiên công ty cần tạo điều kiện cho công nhân viên của mình có
thêm cơ hội học tập và nghiên cứu để nâng cao hơn nữa kiến thức của bản thân
cũng như để đáp ứng yêu cầu công việc.
2.5. Đặc điểm về tài chính của công ty.
Công ty Dệt May Hà Nội là một doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước do
đó công ty có hình thức sở vốn là quốc doanh. Vốn của công ty phần lớn là do
Nhà nước cấp. Nguồn vốn kinh doanh của công ty năm 2004 là 154.330.519.126
đồng, trong đó có 121.780.812.575 đồng là vốn ngân sách nhà nước cấp.
6
41
24.409.560.34
9
11
II. Nợ dài hạn
180.278.438.87
8
33
195.592.134.21
4
33
15.313.695.36
0
8
III. Nợ khác
B. Nguồn vốn CSH
155.337.918.60
5
28
155.901.462.67
9
26 563.544.074 0,36
I. Nguồn vốn quỹ
155.238.950.18
3
27,9
9
157.772.094.25
7
năng thanh toán nhanh là từ 1-1,5 lần. Cả hai hệ số này đều cho thấy khả năng
thanh toán của công ty ở mức rất không an toàn vì trong các tài sản ngắn hạn
khoản phải thu và tồn kho là chính, khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ
cấu nợ ngắn hạn. Nói tóm lại khả năng tài chính của công ty chưa thật vững
vàng, thiếu tính độc lập tự chủ. Vì công ty hoạt động sản xuất kinh doanh chủ
yếu bằng nguồn vốn vay.
2.6. Đặc điểm về nguyên vật liệu của công ty.
Nguyên vật liệu của công ty hầu hết đều nhập từ nước ngoài. Bông tự nhiên
nhập từ Nga, Thailand, Singapore, Mexico, Mỹ, Trung Quốc... Xơ hoá học
polieste gồm các loại xơ chung sinh, kanchơ nhập từ Đài Loan, Nhật Bản, ấn
Độ.... Như vậy công ty phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập và
hầu như không có nguồn nguyên liệu trong nước để thay thế.
Biểu 4: Nhu cầu vật tư cho sản xuất sợi năm 2004.
Phan Thu HiÒn
19
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
Chủng loại vật tư Đơn vị Nhu cầu tiêu hao Giá trị ( triệu đồng)
Bông cotton ( tấn) Tấn 4.826 96.520
Xơ polieste ( tấn ) Tấn 5.950 59.501
Điện (triệu KW) KW 63.500 48.895
Vật tư khác .... 20.627
Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường.
Chất lượng của sản phẩm cuối cùng xuất ra khỏi công ty như các loại sợi
thành phẩm với các chỉ số khác nhau, các loại khăn bông, vải dệt kim, quần áo
dệt kim,... đều phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nguyên vật liệu. Các loại nguyên
vật liệu này chất lượng cao nhưng giá bán khá đắt. Công ty lại không tự chủ
trong việc nhập nguyên vật liệu này. Tuy nhiên, do những cố gắng của phòng
xuất nhập khẩu cho nên công tác hậu cần về nguyên vật liệu của công ty trong
Quốc.
2.7. Đặc điểm về môi trường kinh doanh của công ty.
2.7.1. Môi trường vĩ mô:
• Môi trường quốc tế:
- Việt Nam chưa gia nhập WTO, một bất lợi lớn cho ngành Dệt May
Việt Nam khi chế độ hạn ngạch với dệt may chính thức được bãi bỏ kể
từ ngày 1/1/2005, theo quy định của Hiệp định Dệt may ATC đã ký kết
giữa các thành viên WTO. Việt Nam chưa là thành viên WTO nên
chưa được hưởng quyền lợi trong hiệp định này.
- Liên minh Châu âu và Canada tuyên bố bãi bỏ hạn ngạch cho hàng dệt
may Việt Nam kể từ ngày 1/1/2005. Đây cũng là những thị trường
quan trọng của công ty, điều này mang lại cơ hội lớn cho công ty, đặc
biệt là mở rộng hơn nữa kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU- một
thị trường nhiều tiềm năng, hiện chiếm 15% tổng kim ngạch của công
ty.
Phan Thu HiÒn
21
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
- Mỹ, một thị trường tiêu thụ lớn nhất của công ty, vẫn áp đặt hạn ngạch
với hàng dệt may Việt Nam. Khi các nước thành viên WTO không còn
bị ràng buộc bởi hạn ngạch thì giá sản phẩm của các nước này giảm từ
20-40%. Đây là một thử thách cho các doanh nghiệp Việt Nam nói
chung và của Hanosimex nói riêng khi mà cạnh tranh về giá cả sẽ trở
nên gay gắt hơn.
- Thị trường nhập khẩu (phi hạn ngạch) đầy tiềm năng - Nhật Bản: hiện
việc sản xuất quần áo nội địa của nước này đã giảm sút mạnh cả về số
lượng và giá trị. Trong khi đó, hàng may mặc nhập khẩu Việt Nam,
Indonesia và các nước ASEAN khác hiện chiếm thị phần khá nhỏ ở
Nhật Bản. Đây cũng là một cơ hội cho công ty mở rộng thị trường tiêu
thụ của mình ở Nhật, hiện số lượng sản phẩm xuất sang Nhật chỉ
hạn.
- Bộ Tài Chính ban hành quyết định xoá lệ phí hạn ngạch sang 2 thị
trường EU, Canada vào đầu tháng 2/2005. Theo đó, nó tạo ra thế cạnh
tranh giá cả cân bằng giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các nước
khác, đặc biệt là các thành viên WTO.
- Hiệp hội Dệt May Việt Nam và Bộ Công nghiệp đã mở cuộc vận động
các nhà đầu tư nước ngoài đưa máy móc thiết bị sản xuất vải, nhuộm
vào làm ăn tại Việt Nam, góp phần tăng nguồn cung cấp nguyên phụ
liệu dệt may trong nước. Công ty có thể tận dụng ưu đãi này để giảm
kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị của mình, tiết kiệm được các
khoản chi phí đáng kể.
- Năm 2005 dự kiến năng suất bông chỉ đạt 50% sẽ gây ảnh hưởng lớn
đến việc cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành dệt may trong nước.
- Hiệp hội Dệt May Việt Nam tăng cường công tác thông tin, hỗ trợ xúc
tiến thương mại để doanh nghiệp tham gia các hội chợ đầu mối của
ngành dệt may quốc tế, hoàn chỉnh cổng giao tiếp điện tử của ngành
dệt may để doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm trên mạng Internet. Hiệp
Phan Thu HiÒn
23
B¸o c¸o chuyªn ®Ò
hội cũng sẽ tổ chức hai trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu ngành dệt
may tại Hà Nội và TP HCM. Hiện tại, công ty cũng đã xây dựng trang
Web giới thiệu sản phẩm bằng tiếng Anh nhưng vẫn còn nghèo nàn và
không hấp dẫn; có sự hỗ trợ từ phía hiệp hội sẽ là cơ hội tốt hơn cho
công ty thực hiện giao dịch đối với các đối tác quốc tế.
2.7.2. Môi trường vi mô:
• Khách hàng: gồm người tiêu dùng các nhân và khách hàng công nghiệp.
Khách hàng quốc tế chính hiện nay là Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài
Loan... đây là những khách hàng đầy tiềm năng nhưng khó tính, đòi hỏi sản
phẩm chất lượng cao, mẫu mã hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với