Một số biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của
công ty dệt may Hà Nội
3.1 . Cơ sở đa ra các giải pháp:
Theo số liệu thống kê và nhận xét của một số chuyên gia kinh tế thì nhu
cầu hàng dệt may ngày càng tăng ở hầu hết các nớc trên thế giới.Tổng giá trị
hàng dệt may chiếm phần lớn trong tỷ trọng cán cân thơng mại quốc tế chỉ sau
chế tạo điện tử và khoáng sản. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
công nghiệp sản xuất hàng dệt may ngày càng phát triển.
Theo đánh giá của Bộ công nghiệp nhẹ thì ngành dệt may đã có những
đóng góp không nhỏ vào sự phát triển chung của đất nớc. Mặc dù vậy ngành
công nghiệp dệt may vẫn còn nhiều yêú kém cần khắc phục.Thị trờng của
ngành rất rộng lớn cả xuất khẩu và nội địa nhng vẫn cha đợc chú trọng đúng
mức. Hàng năm nớc ta còn phải nhập khẩu một số lợng rất lớn cả vải và quần
áo may sẵn. Xu hớng này vẫn tiếp tục tăng trong khi đó các sản phẩm may của
chúng ta sản xuất vẫn tiêu thụ rất chậm. Nh vậy trong tơng lai khi nớc ta tham
gia vào khu vực mậu dịch tự do Đông Nam á (AFTA) thì khả năng cạnh tranh
của sản phẩm dệt may sẽ càng khó khăn phức tạp hơn.
Kể từ năm 1991 tới nay hàng năm kim ngạch xuất khẩu của nớc ta bình
quân tăng 20% trong đó kim ngạch hàng dệt may tăng khá nhanh đứng thứ hai
về xuất khẩu chỉ sau mặt hàng dầu thô.
Việc nớc ta ký hiệp định hàng dệt may với cộng đồng chung Châu Âu đã
tạo cho ngành dệt may một thị trờng xuất khẩu rộng lớn với dân số khoảng 400
triệu ngời, mức tiêu thụ vải bình quân hàng năm trên một đầu ngời là 17 kg.
Đây là một thị trờng lớn mà công ty cần chú trọng nghiên cứu để thâm nhập.
Bên cạnh đó thì thị trờng khổng lồ là Mỹ cũng cần phải xem xét hết sức nghiêm
túc sau khi hiệp định thơng mại Việt - Mỹ đã ký. Theo báo cáo của ngành thơng
mại Việt Nam thì ở Mỹ nhu cầu may mặc rất lớn nhng hầu hết là nhập khẩu.
Không có một nhà máy, xí nghiệp may nào đặt tại Mỹ, hàng năm nớc Mỹ nhập
- 1 -
khẩu khoảng 30 tỷ USD hàng may mặc, mức tiêu thụ vải bình quân theo đầu
ngời là 27 kg mỗi năm.
2010 tổ chức hệ thống thông tin thị trờng giúp các doanh nghiệp nắm bắt nhu
cầu thị trờng của khách hàng trong và ngoài nớc.
Định hớng phát triển đến năm 2005 của ngành dệt may Việt Nam là:
- Đa dạng hoá sản phẩm, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lợng
mẫu mã đạt tiêu chuẩn quốc tế tăng khả năng cạnh tranh.
- Chuyên môn hoá cao nhằm tạo ra sản phẩm có chất lợng cao.
- Hình thành các khu công nghiệp dệt may theo quy định của chính phủ
với mục tiêu:
+ Vải các loại: 1.500 triệu mét/ năm.
+ Khăn bông các loại: 40.000 tấn / năm.
+ Vải dệt kim : 70.000 tấn / năm, 720 triệu sản phẩm may / năm.
- Đầu t đổi mới công nghệ hiện đại đồng bộ hoá dây truyền công nghệ trong
một hoặc một nhóm công ty nhằm khai thác tối u năng lực thiết bị nâng cao
chất lợng sản phẩm và đa dạng hoá mặt hàng.
Thực hiện chủ trơng của tổng công ty dệt may Việt Nam về việc các doanh
nghiệp phải có các biện pháp phát triển sản xuất đảm bảo mức tăng trởng bình
quân là 10%.
- 3 -
Đơn vị tính : Triệu USD
Chỉ tiêu 2005 2010
Tổng kim ngạch xuất khẩu
Trong đó :
+ Hàng may
+ Hàng dệt
3.000
2.200
800
4.000
3.000
1.000
vấp phải những hạn chế thơng mại rất khác nhau. Hạn chế phổ biến nhất là biểu
thuế quan tức là thuế mà chính phủ nớc ngoài đánh vào những hàng hoá nhập
khẩu vào nớc minh. Ngoài ra công ty có thể vấp phải hạn ngạch nhập khẩu, môi
trờng chính trị, luật pháp, văn hoá... Sự khác biệt về văn hoá, lối sống, ngôn
ngữ, chính trị làm cho công tác nghiên cứu thị trờng nớc ngoài gặp nhiều khó
khăn hơn. Điều này đòi hỏi công ty phải có đội ngũ cán bộ có khả năng nghiệp
vụ ngoại thơng, ngoại ngữ giỏi để nghiên cứu thị trờng.
Để công tác thu thập thông tin đạt hiệu quả công ty cần duy trì và tạo
những mối quan hệ công tác với các cơ quan thơng mại trong nớc và nớc ngoài
nh: Bộ thơng mại, Bộ ngoại giao, các tổ chức và cơ quan thơng mại qua đó công
ty sẽ thu thập đợc những thông tin hữu ích. Những thông tin có giá trị sẽ hết sức
cần thiết trong quá trình đàm phán ký hợp đồng với các đối tác để công ty
không bị thua thiệt.Thu thập thông tin đầy đủ chính xác giúp công ty nắm bắt
đợc các thông tin về các mặt của đối thủ cạnh tranh nh: hàng hoá, giá cả, phân
phối, khuyến mãi... Để từ đó đa ra chính sách phù hợp, cụ thể để chiến thắng
đối thủ cạnh tranh. Đồng thời thông qua đó công ty sẽ có nhiều lợi thế trong
việc nhập khẩu công nghệ mới và nguyên vật liệu.
Đối với thị trờng trong nớc công ty cần quan tâm nghiên cứu đến xu hớng
thẩm mỹ của ngời tiêu dùng. Bởi vì sự giao lu hội nhập của các nền văn hoá, đời
sống vật chất và tinh thần ngày càng đợc nâng cao, trình độ dân trí ảnh hởng
đến thị hiếu lối sống của ngời dân. Đây là vấn đề công ty cần nghiên cứu kỹ để
- 5 -
dự đoán, phát hiện trớc đạt đợc mục tiêu đặt ra giúp cho việc hoạch định chiến
lợc tiêu thụ sản phẩm.
Để công tác nghiên cứu thị trờng đạt kết quả cao thì công ty cần chia thị
trờng nội địa thành các khúc thị trờng nh: thành phố, nông thôn, đồng
bằng,miền núi. Đối với mỗi khúc thị trờng các cán bộ nghiên cứu thị trờng cần
phải nghiên cứu mức sống, phong tục tập quán để tung ra những sản phẩm phù
hợp.
Thông tin có thể thu thập thông qua các đại lý của công ty bằng các hình
với nớc ta.
+Tiến hành tiếp xúc giữa công ty với sứ quán hoặc cơ quan đại diện
thông qua đó công ty có thể thu nhận thêm thông tin về thị trờng, gửi tặng phẩm
chào hàng giới thiệu về công ty.Trên cơ sở đó công ty gây dựng đợc những
khách hàng trong tơng lai.
Để tiến hành đợc biện pháp này thì công ty nên thành lập phòng
marketing. Công ty cha có phòng marketing độc lập để đa thu thập xử lý thông
tin và đa ra các chính sách marketing thích hợp. Các thông tin về thị trờng chủ
yếu do các nhân viên thu thập từ các đại lý do họ phụ trách chuyển về phòng kế
hoạch thị trờng. Tuy nhiên các thông tin về các thị trờng này thờng rời rạc do
đó các chính sách đa ra thờng khá chậm cha đáp ứng đợc nhu cầu khách hàng.
Từ thực trạng trên đòi hỏi công ty phải thành lập phòng marketing chuyên làm
công tác nghiên cứu thị trờng, phân tích đánh giá thị trờng từ đó đa ra các chính
sách phù hợp. Hiện tại nên để phòng marketing nằm trong phòng kế hoạch thị
trờng để vừa gọn nhẹ vừa có sự trao đổi thị trờng nhanh chóng, có sự thống nhất
trong kinh doanh.
Để thành lập phòng marketing cần tuyển thêm 8 ngời trong đó 5 ngời bổ
xung thêm vào đội ngũ thu thập thông tin 3 ngời phụ trách xử lý thông tin thị tr-
ờng.
Chi phí khi tuyển thêm ngời là:
Công ty phải trả thêm lơng cho các nhân viên mới, cụ thể là: lơng tăng thêm 8
triệu đồng/ tháng.
Trong một năm lơng tăng thêm là 8 *12 =96 triệu đồng.
- 7 -
Chi phí mua thêm trang thiết bị:
-Tiền mua 3 máy tính : 3*7 =21 triệu đồng.
-Tiền mua bàn ghế là : 3 triệu đồng
Khấu hao trang thiết bị(dùng trong 5 năm): (24-1)/ 5 = 4,6 triệu đồng/năm
Tổng chi phí là : 96 + 4,6 = 100,6 triệu đồng.
3.3.2. Đa dạng hoá sản phẩm: