Một số biện pháp về tổ chức nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại công ty dệt may hà nội - Pdf 12


Chuyên đề tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
--------*****---------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỀ TỔ CHỨC NHẰM ĐẨY MẠNH
TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI TỔNG CÔNG TY
DỆT MAY HÀ NỘI

Sinh viªn thực hiện : NGUYỄN THỊ LAN ANH
Giảng viªn hướng dẫn : PGS. TS ĐOÀN THỊ THU HÀ

Hµ néi, 5 - 2008
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46

Chuyên đề tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
--------*****---------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỀ TỔ CHỨC NHẰM ĐẨY MẠNH
TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI TỔNG CÔNG TY
DỆT MAY HÀ NỘI

Sinh viªn thực hiện : NGUYỄN THỊ LAN ANH
Chuyên ngành : KINH TẾ & QUẢN LÝ CÔNG
Lớp : KINH TẾ & QUẢN LÝ CÔNG 46
Khoá : 46

Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Mục đích của em khi nghiên cứu đề tài này là:
_ Đem lý thuyết áp dụng vào thực tiễn, làm sáng tỏ thực tiễn tình hình
mọi mặt hoạt động, quản lý của Tổng Công ty.
_ Phân tích hoạt động thực tiến của Tổng Công ty, từ đó đành giá
những vấn đề còn tồn tại và đề ra các giải pháp về măt tổ chức nhằm đẩy
mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Tổng Công ty Dệt May Hà Nội.
Giới hạn nghiên cứu:
Tổ chức là một thuật ngữ có rất nhiều cách hiểu khác nhau và quy mô
nghiên cứu khá rộng. Do điều kiện thời gian nghiên cứu, thực tập và năng lực
có hạn nên những biện pháp tổ chức mà em đưa ra trong chuyên đề thực tập
có giới hạn ý nghĩa chỉ dừng lại như một chức năng của quá trình quản lý.
Kết cấu của chuyên đề thực tập bao gồm ba chương:
Chương I : Những lý luận cơ bản về công tác tổ chức trong doanh
nghiệp.
Chương II : Thực trạng tiêu thụ sản phẩm của Tổng Công ty Dệt
May Hà Nội.
Chương III : Một số giải pháp về tổ chức nhằm đẩy mạnh hoạt động
tiêu thụ sản phẩm của Tổng Công ty.
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I : NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
I.NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC TRONG DOANH
NGHIỆP.
1.Khái niệm về tổ chức.
Tổ chức là một hệ thống kinh tế- xã hội gồm nhiểu người được tập hợp
với nhau cùng hoạt động vì một mục đích chung, cùng tồn tại trong những
hình thái cơ cấu nhất định và cùng được phân cho những chức năng, nhiệm

quan hệ giữa chúng.
_ Mỗi công việc được tiến hành ở đâu? thời gian tiến hành và những
phẩm chất, năng lực cần thiết để tiến hành công việc.
2.2. Xác định, phân chia tổ chức thành các bộ phận, xác định cơ sở và
quy mô của các bộ phận.
Khi số công việc được chuyên môn hoá tăng lên sẽ dẫn đến một điểm
không thể phối hợp được hiệu quả bởi một nhà quản lý duy nhất nữa buộc
phải ghép lại thành những nhóm nhỏ. Chúng ta cần hợp nhóm các công việc
có mối quan hệ gần gũi theo cách hợp lý nhất để tạo nên các bộ phận. Sau đó
xác định ra chức năng, nhiệm vụ, vai trò chung và quy mô của mỗi bộ phận.
Quy mô của mỗi bộ phận cũng gắn với độ đóng góp tương ứng của bộ phận
đó trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược của công ty.
Vấn đề quan trọng là sử dụng cơ sở nào để phân chia tổ chức thành các
bộ phận, phòng ban trực thuộc.
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Phân tích các
mục tiêu chiến
lược
Phân tích chức
năng hoạt động
Phân tích công
việc
Chuyên đề tốt nghiệp
* Cơ sở được sử dụng rộng rãi nhất là tổ chức theo chức năng. Những
chức năng cần thiết điển hình như là sản xuất, marketing, tài chính, kế toán,
và nhân sự…
* Một cơ sở được sử dụng phổ biến nữa là phân chia các phòng ban theo
sản phẩm. Tất cả những công việc gắn với việc sản xuất và bán một sản phẩm
hay một chủng loại sản phấm sẽ được đặt dưới sự chỉ đạo của một nhà quản
lý.

hạn.
Việc trao quyền hạn là hết sức cần thiết cho những người đứng đầu các nhóm
để tiến hành quản lý các hoạt động, làm tăng tính cạnh tranh trong nội bộ tổ
chức từ đó giúp cho mọi người làm việc tốt hơn, cống hiến nhiều hơn cho tổ
chức. Tuy nhiên việc trao quyền hạn cũng có những hạn chế riêng của nó như
làm tăng các chi phí về hành chính, về tổ chức, gây ra tình trạng trùng lắp các
chức năng… Ngược lại với trao quyền hạn là sự tập trung hoá. Càng trao
nhiều quyền hạn cho các cấp bên dưới thì tổ chức đó càng ít tập trung hơn.
Ngược lại, càng trao ít quyền hạn, thì tổ chức đó càng tập trung hơn..
Một tổ chức giữ được cân bằng tốt nhất nếu có khả năng tập trung ở cấp
cao quyền ra các quyết định chiến lược và chính sách nhằm tạo khuôn khổ
thống nhất cho hoạt động của toàn tổ chức. Một khi các quyết định chiến lược
và chính sách đã được đề ra ở cấp cao nhất, các quyết định tác nghiệp sẽ được
trao quyền cho các bộ phận.
2.5. Đảm bảo nguồn lực cho hoạt động của tổ chức.
Đảm bảo nguồn lực, cung cấp các nguồn lực thực chất là một tiền đề
quan trọng để thực hiện có hiệu quả quá trình tổ chức. Mọi nỗ lực của các quá
trình trên sẽ không thể giúp gì nếu tổ chức không đảm bảo được những nguồn
lực tài chính, nhân sự và thời gian cần thiết để tiến hành công việc. Nguồn lực
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề tốt nghiệp
ở đây bao gồm nhân lực, tài lực, thông tin, kiến thức, kinh nghiệm và cơ sở
vật chất …. Trong đó nguồn lực chính và quan trọng nhất là con người.
Việc thu hút và phân bổ nguồn lực giữa các bộ phận, phân hệ trong tổ
chức là hết sức quan trọng. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nguồn lực luôn
luôn là có hạn, dù tổ chức có mạnh đến đâu. Vì vậy tuỳ theo mức độ ưu tiên,
nguồn lực cần phải được phân bổ một cách hợp lý để có thể tạo ra sự khác
biệt thực sự về việc chú trọng vào từng lĩnh vực cần cải tiến.
3.Các thuộc tính của cơ cấu tổ chức.
3.1. Chuyên môn hoá và phân chia tổ chức thành các bộ phận.

khó thích hợp với hoạt động nào khác ngoài marketing.
Mô hình tổ chức ma trận có ưu điểm đặc biệt là tính linh hoạt cao, giúp
tổ chức tập trung nguồn lực vào những khâu xung yếu. Tuy nhiên mô hình
cũng có những nhược điểm như là phức tạp, tính ổn định của cơ cấu là thấp.
Mô hình cơ cấu tổ chức này cũng có thể dẫn tới tình trạng lãng phí.
3.2. Quyền hạn và trách nhiệm.
Quyền hạn đó là quyền tự chủ trong quá trình quyết định và quyền đòi
hỏi sự tuân thủ quyết định gắn liền với một vị trí (hay chức vụ) quản lý nhất
định trong cơ cấu tổ chức. Đi liền với quyền hạn đó là trách nhiệm. Trách
nhiệm đó là bổn phận phải hoàn thành những hoạt động được phân công.
Quyền hạn và trách nhiệm đó là cơ sở để tiến hành mọi hoạt động trong tổ
chức và đó cũng là sợi dây liên kết các bộ phận với nhau.
Chủ yếu thường hay có ba loại quyền hạn sau, đó là quyền hạn trực
tuyến, quyền hạn tham mưu và quyền hạn chức năng.
Quyền hạn trực tuyến đó là quyền hạn cho phép người quản lý ra quyết
định và giám sát trực tiếp đối với cấp dưới.
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Quyền hạn tham mưu đó là quyền đưa ra lời khuyên. Chức năng của nó
là điều tra, khảo sát, nghiên cứu, phân tích, đưa ra những ý kiến tư vấn
Quyền hạn chức năng đó là quyền trao cho một cá nhân hay bộ phận
được ra quyết định và kiểm soát những hoạt động nhất định của các bộ phận
khác theo chế độ phi tập trung hóa.
3.3. Cấp quản lý và phạm vi kiểm soát.
Tầm kiểm soát hay phạm vi kiểm soát đó là số hữu hạn người và bộ phận
mà một nhà quản lý có thể quản lý hiệu quả. Nguyên nhân có các cấp quản lý
trong tổ chức là bởi giới hạn của tầm quản lý (hay tầm kiểm soát). Muốn xác
định tầm quản lý phù hợp, cần phải dựa trên các mối quan hệ cơ bản sau đây:
_ Tầm quản lý và trình độ của các cán bộ quản lý có quan hệ tỷ lệ thuận.
_ Tính phức tạp của hoạt động quản lý và tầm quản lý có quan hệ tỷ lệ

nhanh nhất nhằm đạt lợi nhuận cao.
Bây giờ chúng ta mới đề cập đến khái niệm của tiêu thụ sản phẩm.
Như ta đã biết, hàng hoá đưa đến người tiêu dùng chưa phải là tiêu thụ
xong nếu như khách hàng chưa trả tiền, chỉ khi nào người sản xuất (hoặc
người nhập khẩu) đã nhận được tiền đầy đủ (có thể là tiền mặt, tiền chuyển
khoản, ngân phiếu hoặc hàng hoá trao đổi…) mới xem là hàng hoá đã tiêu thụ
xong.
Vậy tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của
các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thông qua tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch
vụ… chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển
vốn của doanh nghiệp được hoàn thành.
2.Vai trò của tiêu thụ sản phẩm đối với các doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề tốt nghiệp
* Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh
doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp trên
thị trường. Tiêu thụ sản phẩm là nơi duy nhất thực hiện mục đích của sản xuất
hàng hoá, là nơi đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng và thu hồi
vốn cũng như lợi nhuận, doanh thu cho doanh nghiệp.
* Tiêu thụ sản phẩm chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu
dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó. Sức tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp thể hiện ở mức bán ra, uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sản
phẩm, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng và sự hoàn thiện của các hoạt
động dịch vụ.
* Công tác tiêu thụ sản phẩm cũng gắn người sản xuất với người tiêu
dùng. Từ đó có những định hướng chiến lược cho tổ chức mình trong quá
trình sản xuất, kinh doanh. Tiêu thụ sản phẩm không thể đặt ra khi đã sản xuất
xong sản phẩm, mà cần nghiên cứu và giải quyết trước khi tính toán sản xuất.
*Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân

thể, hàng hoá cụ thể có thể là con đuờng trực tiếp hoặc con đường gián tiếp,
có thể dài, có thể ngắn, có thể rộng, có thể hẹp.
3.2.Đặc điểm.
Kênh tiêu thụ có ba đặc điểm quan trọng sau:
_ Các kênh tiêu thụ đều có khởi điểm bắt đầu từ nhà sản xuất và kết
thúc ở những nơi tiêu thụ. Đặc trưng này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì nó
chỉ rõ ai là người phát ra động lực, tác động lên kênh tiêu thụ và ai là người
chịu lực.
_ Kênh tiêu thụ là một trong những yếu tố tổ hợp tạo nên thị trường tiêu
thụ. Tổ hợp sách lược thị trường tiêu thụ bao gồm bốn yếu tố cơ bản, thường
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề tốt nghiệp
được gọi là “4P”, tức là sản phẩm (product), giá cả (price), các kênh (place),
xúc tiến (promotion).
_ Trong quá trình lưu thông thông có ít nhất một lần phải chuyển giao
quyền sở hữu, nếu người sản xuất trực tiêp đưa hàng đến tay người tiêu dùng.
Nhưng phần lớn thì sự tham gia của các cơ cấu trung gian là không thể thiếu
Trong trường hợp này thì quyền sở hữu được chuyển giao nhiều lần.
3.3.Chức năng của kênh tiêu thụ.
Chức năng của kênh tiêu thụ thường bao gồm: tiêu thụ, mua, vận
chuyển, tồn trữ hàng, thu gom vốn, tiêu chuẩn hoá, chịu các rủi ro và xử lý
các thông tin thị trường… Tác dụng của các thành viên thuộc kênh tiêu thụ là
làm cho việc chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm từ người sản xuất đến
người tiêu dùng trở nên có hiệu quả và tiện lợi hơn. Đối với người quản lý, thì
sự quản lý kênh tiêu thụ là xúc tiến và thúc đẩy những chức năng lưu thông
trong quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng.
Bảng dưới đây là một cách phân loại chức năng của kênh tiêu thụ
Loại hoạt động Chức năng
Trao đổi Tiêu thụ, mua
Vận chuyển Vận tải, trữ hàng

năng. Sau đó là nghiên cứu tổng quan kết cấu địa lý, mặt hàng, phân bố dân
cư và sức mua, vị trí và sức hút. Tiếp theo là nghiên cứu động thái và xu thế
vận động của thị trường ngành, nhóm hàng, lĩnh vực kinh doanh (tăng trưởng,
bão hoà, đình trệ hay suy thoái).
_ Trong nội dung nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp cũng phải rất chú
ý đến công tác nghiên cứu khách hàng. Để nghiên cứu khách hàng, doanh
nghiệp cần xác định các thông số khái quát và phân loại khách hàng tiềm
năng, nghiên cứu tập tính và thói quen, cấu trúc logic lựa chọn khách hàng và
ảnh hưởng của trao đổi thông tin mua bán đến tiến trình mua hàng, nghiên
cứu động cơ mua sắm và hành vi ứng xử của khách hàng tiềm năng, nghiên
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề tốt nghiệp
cứu tâm lý khách hàng ở các độ tuổi khác nhau, ở các vị trí khu vực và các vị
thế xã hội khác nhau.
4.2. Chiến lược sản phẩm.
Nội dung của chiến lược sản phẩm là nhằm trả lời câu hỏi: Doanh
nghiệp sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ gì, bao nhiêu và cho ai? Cụ
thể hơn, nội dung của chiến lược sản phẩm gồm:
_ Lựa chọn sản phẩm thích ứng, thực hiện đơn đặt hàng và tiến hành tổ
chức sản xuất. Lựa chọn sản phẩm thích ứng có nghĩa phải tổ chức sản xuất
những sản phẩm thị trường đòi hỏi. Sản phẩm thích ứng bao hàm về lương,
chất lượng và giá cả.
_ Xác định kích thước của tập hợp sản phẩm trong chiến lược. Kích
thước của tập hợp sản phẩm là số loại sản phẩm cùng với số lượng chủng loại
mỗi loại và số mẫu mã của mỗi chủng loại doanh nghiệp chuẩn bị đưa ra thị
trường.
_ Nghiên cứu và thiết kế sản phẩm mới. Phát triển sản phẩm mới trở
thành yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
mọi doanh nghiệp.
4.3. Tổ chức các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại, đặt hàng cho

thị trường có thể coi là một thủ pháp tạm thời trong một số điều kiện nhất
định.
_ Chính sách giá thấp: Trong một số trường hợp, chính sách giá
thấp có thể là cách thức tạm thời tương đối hữu hiệu để phù hợp với các điều
kiện trong thị trường thường xuyên biến động. Chính sách giá thấp có xu
hướng mở rộng thị trường, thu hút sức cầu lớn và tạo cho người bán cơ hội để
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề tốt nghiệp
sử dụng hết năng lực sản xuất kinh doanh. Mặt khác, trong trường hợp sản
phẩm đang ở giai đoạn cuối của chu kỳ sống thì doanh nghiệp có thể bán phá
giá để thu hồi vốn chuyển sang kinh doanh các mặt hàng khác.
4.5. Xây dựng hệ thống kênh phân phối, tiêu thụ.
Doanh nghiệp cần xây dựng và lựa chọn được kênh phân phối phù hợp
với đặc điểm của sản phẩm và đặc điểm khách hàng của doanh nghiệp. Căn
cứ vào cấp bậc của kênh tiêu thụ có thể chia thành 4 loại kênh tiêu thụ như
sau: _ Kênh cấp 0: Là trường hợp sản phẩm được tiêu thụ trực tiếp từ nhà
sản xuất đến tay người tiêu dùng, mà không phải qua bất kỳ một kênh tiêu thụ
trung gian nào.
_ Kênh cấp I: Là kênh trong đó chỉ có một cấp trung gian tiêu thụ. Ơ
thị trường hàng tiêu dùng, cấp trung gian này thường là các cửa hàng bán lẻ.
_ Kênh cấp II: Là trong hệ thống tiêu thụ có bao gồm hai cơ cấu tiêu
thụ trung gian. Hai cơ cấu trung gian thường là nhà bán buôn và nhà bán lẻ.
_ Kênh cấp III: Kênh cấp III là kênh gồm có 3 cơ cấu tiêu dùng trung
gian.
Kênh cấp 0 còn được gọi là kênh tiêu thụ trực tiếp, các kênh tiêu thụ
còn lại, kênh cấp I, kênh cấp II, kênh cấp III đều được gọi chung là kênh tiêu
thụ gián tiếp.
4.6. Tổ chức hoạt động bán hàng.
Bán hàng là hành động nhà sản xuất chuyển giao quyền sở hữu cho
khách hàng và thực hiện nghiệp vụ thu tiền. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, để

hướng đến việc tiếp tục duy trì thông tin, mối liên hệ với khách hàng như
thường xuyên cung cấp các thông tin mới về sản phẩm, các chương trình
khuyến mại, ưu đãi từ phía công ty đến khách hàng…
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề tốt nghiệp
III.MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
TIÊU THỤ SẢN PHẨM.
1.Tổ chức là một công tác tất yếu, tao nền tảng cơ bản để tiến
hành hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm muốn tiến hành được thì phải có được đầy
đủ các nguồn lực, các bộ phận cần thiết và các mối quan hệ về quyền hạn,
chức năng, nhiệm vụ để gắn bó các hoạt động rời rạc lại với nhau, tạo thành
một khối thống nhất cùng thực hiện những mục tiêu chung của công tác tiêu
thụ sản phẩm. Tất cả các cơ sở tiền đề đó đều phải thông qua công tác tổ chức
mới có được.
Muốn tạo cơ sở cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm, vấn đề đầu tiên ta phải
giả quyết đó là ai sẽ tiến hành các hoạt động trong khâu tiêu thụ sản phẩm.
Như vậy ta phải xác định bộ phận chức năng , các cá nhân trong các bộ phận
đó tức ta phải tổ chức thì hoạt động tiêu thụ sản phẩm mới được tiến hành.
Không thông qua tổ chức ta sẽ không có con người và bộ phận để thực hiện
hoạt động quan trọng này.
Tiêu thụ sản phẩm tự bản thân nó là một lĩnh vực hoạt động có rất nhiều
quy mô. Trong tiêu thụ sản phẩm có thể chỉ là vài công việc, nghiệp vụ rất
đơn giản nếu tổ chưc đó là nhỏ, tuy nhiên khối lượng công việc cũng như
cách thức thực hiện công việc tiêu thụ sản phẩm sẽ phức tạp lên rất nhiều nếu
tổ chức có quy mô tương đối lớn. Như vậy vấn đề đặt ra không phải là chúng
ta cứ muốn tiêu thụ sản phẩm là chúng ta làm luôn được. Chúng ta cần phải
tự xác định công việc mà mình cần thực hiện trong công tác tiêu thụ sản
phẩm. Các công việc đó có cần thiết hay không hay công việc nào còn thiếu
sót mà chúng ta phải bổ sung. Tóm lại để tiến hành hoạt động tiêu thụ sản

Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề tốt nghiệp
được một khoản chi phí không nhỏ từ việc thành lập các phòng ban, bộ phân,
tiền lương cho nhân viên và các chi phí vô hình khác. Từ đó cùng với ngân
quỹ như vậy cho việc tiến hành hoạt động tiêu thụ sản phẩm những công ty sẽ
đầu tư hiệu quả hơn vào các hoạt động khác nhằm phát triển thị trường như
đầu tư thăm dò các khu vực, địa bàn tỉnh, thành phố, đầu tư vào các chiến
dịch quảng cáo, đầu tư cho phát triển hệ thống kênh phân phối… Bên cạnh đó
lại nâng cao được năng suất tiêu thụ do sự gọn nhẹ vừa phải của các bộ phận
phòng ban, tạo ra sự dễ phối hợp, các quyết định kịp thời cũng như sự linh
hoạt trong hoạt động của quá trình tiêu thụ sản phẩm. Với công ty có trình độ
cũng như năng lực sản xuất lớn, cũng cần thông qua hoạt động tổ chức để xác
định các bộ phận có quy mô, công suất làm việc lớn hơn cùng với trình độ
quản lý cao hơn. Trong các công ty này thì công tác tổ chức càng có ý nghĩa
quan trọng trong việc giữ vững và phát triển hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Nhờ có tổ chức tốt, hoạt động tiêu thụ sản phẩm sẽ không bị rối loạn và giữ
vững hiệu quả trong mọi tình huống phức tạp.
Thông qua quá trình tổ chức, con người sẽ không ngừng thực hiện các
công việc của mình theo các chức năng nhiệm vụ đã đề ra trong quá trình tổ
chức, từ đó thúc đẩy hoạt động tiêu thụ phát triển theo các hướng, mục tiêu
xác định. Khi tổ chức được thực hiện tốt, sự phân công công việc, trách nhiệm
và vai trò giữa các cá nhân, bộ phận trong tổ chức sẽ được minh bạch, cụ thể,
rõ ràng. Điều này sẽ tạo ra cơ sở tốt để quản lý con người hiệu quả, dẫn dắt họ
luôn thực hiện tốt bổn phận của mình. Như vậy chính việc tổ chức tốt đã giúp
cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm được tiến hành trôi chảy do kiểm soát tốt
những con người làm việc trong lĩnh vực hoạt động đó. Bên cạnh đó, với môi
trường được tổ chức tốt, chế độ khen thưởng rõ ràng, minh bạch, vô tư sẽ kích
thích các cá nhân làm việc cạnh tranh lành mạnh, cống hiến sức sáng tạo phát
triển thị trường, phát triển thị trường, phát triển khách hàng, phát triển doanh
thu… Tất cả những điều trên là sự phát triển hoạt động tiêu thụ sản phẩm.

thực hiện những hoạt động dựa trên sự quan hệ với các chức năng hoạt động
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Chuyên đề tốt nghiệp
cơ bản khác. Công tác tổ chức gắn kết hoạt động tiêu thụ sản phẩm với hoạt
động sản xuất. Đây là mối liên hệ quan trọng nhất. Sản xuất bao nhiêu thì tiêu
thụ mới có cơ sở để xác định được quy mô tiêu thụ, công suất tiêu thụ mỗi
loại sản phẩm và tìm kiếm thị trường phù hợp với sản phẩm đã sản xuất ra.
Ngược lại hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng cung cấp cho công ty những
thông tin quan trọng để sản xuất các loại sản phẩm phù hợp với nhu cầu của
thị trường. Thông qua sơ đồ cơ cấu tổ chức, thông qua việc quy định mối
quan hệ giữa các bộ phận của khối tiêu thụ sản phẩm với các bộ phận của
khối sản xuất, hai chức năng quan trọng này đã gắn kết, phối hợp được với
nhau hiệu quả nhằm không ngừng nâng cao cả sản lượng và cả công năng tiêu
thụ của công ty.
Tương tự như vậy, hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng được phối hợp chặt
chẽ với các hoạt động của các chức năng quan trọng khác như tài chính, khoa
học công nghệ, quản trị nguồn nhân lực,…thông qua một loạt các biện pháp
về tổ chức, phối hợp sắp xếp phòng ban nhân sự, cơ cấu nguồn lực… Từ đó
hoạt động tiêu thụ sản phẩm mới có các cơ sở để tiến hành chức năng, nhiệm
vụ của mình.
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA
TỔNG CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46

Trích đoạn Những hạn chế cũn tồn tại và nguyờn nhõn Một số biện phỏp về sắp xếp, hoàn thiện lại cơ cấu tổ chức bộ mỏy quản lý hoạt động Xỏc định lại quy mụ, nhiệm vụ, chức năng của cỏc phũng ban, tổ chức phụ thuộc Tăng cường thờm cơ sở vật chất kỹ thuật cho hệ thống nhằm đẩy mạnh hoạt động Một số kiến nghị đối với Tổng Cụng ty Dệt May Hà Nội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status