Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở Công ty Da giầy Hà Nội - Pdf 73

Lời nói đầu
Trong những năm trở lại đây, kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trờng thì
nền kinh tế Việt Nam đã đạt đợc những thành quả đáng kể về mọi mặt. Hầu hết
các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong nớc đều có các biện
pháp tiền hành các hoạt động Marketing nhằm nâng cao khả năng thích ứng với
môi trờng kinh doanh, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, nâng cao thị phần của
doanh nghiệp trên thị trờng và để thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngời
tiêu dùng. Nhng trong thực tế các doanh nghiệp này cha khai thác đợc u điểm
và lợi thế của hoạt động Marketing trong kinh doanh hiện đại. Việc tiến hành
các hoạt động Marketing còn tồn tại nhiều hạn chế cần phải đợc khắc phục.
Nền kinh tế thị trờng đòi hỏi các nhà kinh doanh phải năng động và nhạy
bén trớc những biến động của môi trờng kinh doanh. Do vậy, hoạt động
Marketing ngày một trở nên cấp thiết và trở thành một chức năng quản lý có vị
trí quan trọng trong việc đóng góp tích cực đến hiệu quả của hoạt động sản xuất
kinh doanh và là hoạt động không thể thiếu đợc của mỗi doanh nghiệp. Các
hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trờng có những biến động lớn và khá
phức tạp vì thế buộc các cấp lãnh đạo cuả doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
cần phải có những thay đổi về cách quản lý doanh nghiệp cũng nh cách thức
thực hiện các hoạt động Marketing sao cho có thể thích ứng đợc với tình hình
mới và nắm bắt đợc những cơ hội kinh doanh trong thời gian tới.
Công ty Da giầy Hà Nội kể từ ngày thành lập đến nay công ty đã có
những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế Việt Nam, cung cấp cho ngời tiêu
dùng trong và ngoài nớc những sản phẩm có chất lợng mẫu mã phù hợp với nhu
cầu của khách hàng trong và ngoài nớc. sản phẩm của công ty có một vị trí
ngày càng vững chắc trên thị trờng về sản phẩm giầy da, giầy vải.... doanh thu
tiêu thụ hàng năm của công ty ngày càng tăng, làm ăn có lãi, thu nhập bình
quân của công nhân ngày một nâng cao, công ty luôn đầu t đổi mới trang thiết
1
bị phục vụ sản xuất nhằm đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng của khách hàng góp
phần đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Hiện nay trên thị trờng da giầy của Việt Nam đang bớc vào thời kỳ cạnh

hình thái hiện vật sạng hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển vốn sản xuất kinh
doanh đã hoàn thành. Quá trình tiêu thụ sản phẩm chỉ kết thúc khi quá trình
thanh toán giữa ngời mua và ngời bán diễn ra và chuyển sở hữu hàng hoá đợc
thay đổi. Sản phẩm hàng hoá đợc coi là tiêu thụ khi ngời bán đã nhận tiền. Việc
xác định sản lợng tiêu thụ trong năm phải căn cứ vào số lợng sản xuất hợp đồng
kinh tế ký kết với khách hàng. Nhu cầu thị trờng, khả năng đổi mới phơng thức
thanh toán và tình hình tiêu thụ năm trớc.
2. Vai trò của tiêu thụ:
Ta biết rằng tiêu thụ sản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu
dùng, là khâu cuối cùng của sản xuất hàng hoá.
3
Tiêu thụ sản phẩm là việc chuyển hoá hình thái giá trị của vốn từ hình thái vật
chất sang hình thái tiền tệ và kết thúc một vòng luân chuyển vốn, làm cho vốn
chuyển trở lại hình thái ban đầu là tiền tệ trớc khi nó bớc vào một chu kỳ sản
xuất mới. Nh vậy tiêu thụ sản phẩm là điều kiện và là khâu quan trọng nhất để
doanh nghiệp có thể tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng, nó là yếu tố quyết
định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp.
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển hoá thành hình thái giá trị của
hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu của ngời tiêu dùng và thu lợi nhuận. Quá trình
tiêu thụ sản phẩm đợc bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trờng, lựa chọn sản phẩm
thích hợp, xác định giá cả, tổ chức mạng lới bán hàng, hán hàng và phân phối
hàng hoá vào các kênh tiêu thụ, xúc tiến bán hàng, tổ chức quản lý và đánh giá
kết quả của công tác tiêu thụ. Kết quả của quá trình tiêu thụ là doanh nghiệp
thu hồi nguồn vốn chi phí ban đầu đã bỏ ra và thực hiện đợc giá trị lao động
thặng d, là nguồn quan trọng để doanh nghiệp nộp ngân sách và thành lập các
quỹ (quỹ phát triển, quỹ phúc lợi...)
3. ý nghĩa tiêu thụ:
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất nhng
nhiều khi là khâu quyết định các doanh nghiệp chỉ sau khi tiêu thụ đợc sản
phẩm mới có thể thu hồi vốn, để tiếp tục quá trình tái sản xuất kinh doanh.

nghiệp. Thị trờng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá, muốn tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá cần phải có thị trờng. Sản lợng sản phẩm hàng hoá tiêu
thụ của thị trờng đợc biểu hiện ở những mặt sau:
Nhờ có thị trờng mà ngơì bán mới biết đợc nhu cầu của ngời mua, từ đó
có những biện pháp thích hợp để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của ngời tiêu dùng,
thông qua đó thu đợc lợi nhuận lớn nhất.
Thị trờng có vai trò quan trọng tgrong quá trình tái sản xuất hàng hoá.
Tái sản xuất hàng hoá gồm bốn khâu: sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng.
Nh vậy, thị trờng nằm trong khâu lu thông và giữ vị trí trung tâm của tái sản
5
xuất hàng hoá. Nói cách khác, thị trờng là một khâu tất yếu của quá trình tái sản
xuất, nó tồn tại không phụ thuộc vào bất kỳ chế độ chính trị nào. Vì thị trờng là
cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, để tái sản xuất thì doanh nghiệp phải bỏ ra
nhiều loại chi phí khách nhau, thị trờng chính là nơi kiểm nghiệm những chi phí
đó là nơi đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Thị trờng không những là nơi diễn ra hoạt động mua bán mà còn là nơi
thể hiện mối quan hệ giữa hàng hoá và tiền tệ, nên t chính là môi trờng kinh
doanh. Các doanh nghiệp không có khả năng thay đổi thị trờng mà họ phải h-
ớng các hoạt động của mình cho phù hợop với thị trờng.
II. Các hình thức tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp thơng mại nói
riêng có hai hình thức tiêu thụ sản phẩm cơ bản đợc áp dụng là bán buôn và bán
lẻ.
1. Bán lẻ:
Bán lẻ là bán hàng trực tiếp cho ngời tiêu dùng để thoả mãn nhu cầu cá
nhân và tập thể.
Hoạt động bán lẻ có các đặc điểm sau:
- Khối lợng bán hàng nhỏ, đơn chiếc, sản phẩm thờng phong phú đa dạng
cả về chủng loại mẫu mã.
- Khi bán lẻ kết thúc thì sản phẩm sẽ ra khỏi lĩnh vực lu thông và bắt đầu

Bán buôn là để bán cho những ngời trung gian để họ tiếp tục chuyển bán
hoặc bán cho ngời sản xuất để tiếp tục sản xuất ra sản phẩm.
- Khối lợng sản phẩm của bán buôn thờng rất lớn và bán theo giá bán
buôn. Giá bán buôn phải đảm bảo bù đắp phí khâu sản xuất, chi phí lu thông và
đảm bảo có lãi, sản phẩm bán buôn thờng không phong phú đa dạng.
- Sản phẩm sau khi bán vẫn còn nằm trong lu thông hoặc sản phẩm cha
đến tay ngời tiêu dùng cuối cùng, chính vì vậy bán buôn không phải là khâu
cuối cùng của lu thông, do đó giá trị cha đợc thực hiện hoàn toàn, giá trị sử
dụng cha đợc xã hội thừa nhận.
- Hình thức thanh toán thờng bằng séc hoặc chuyển khoản
Từ những đặc điểm trên đây bán buôn có u điểm là:
- Thời hạn thu hồi vốn nhanh
- Có điều kiện nhanh chóng đổi mới hoạt động kinh doanh.
- Đẩy nhanh vòng quay vốn
- Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Nhợc điểm cơ bản của bán buôn:
- Do cách biệt với ngời tiêu dùng nên chậm nắm bắt những diễn biến nhu
cầu thị trờng dẫn tới khả năng có thể bị tồn đọng hoặc tiêu thu chậm sản phẩm.
Các hình thức bán buôn bao gồm:
+ Mua đứt bán đoạn: Bên bán chủ động bán hàng, chào hàng, phát giá,
bên mua căn cứ vào khả năng tiêu thụ, giá bán tính toán các khoản chi phí rủi
ro. Nếu không mua đợc sẽ thoả thuận với ngời bán để ký kết hợp đồng mua
bán. Hình thức này có thể tạo điều kiện cho các nhà sản xuất có thể sản xuất
8
theo một kế hoạch ổn định, có hiệu quả. Bên mua hoàn toàn chủ động trong
việc ổn định giá bán và số lợng bán ra.
+ Mua bán theo hình thức đại lý, ký gửi: đây là hình thức có ý nghĩa bổ
xung cho hình thức mua đứt bán đoạn, trong trờng hợp vì lý do nào đó không
thể áp dụng đợc hình thức trên. Với hình thức này hai bên sẽ thống nhất với
nhau về giá cả và chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ cũng nh phần lợi mà

thế các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu đối thủ cạnh tranh để có thể khẳng
định đợc vị trí của mình trên thị trờng. Từ đó xây dựng chiến lợc cạnh tranh
đúng đắn, các phơng thức cạnh tranh có lợi nhất để thu đợc kết quả kinh doanh
cao nhất, tăng lợi nhận cho doanh nghiệp.
1.3. Các nhân tố về tiêu dùng
Quy mô và cơ cấu tiêu dùng ảnh hởng tới mức bán ra của doanh nghiệp,
nhu cầu tiêu dùng càng lớn thì mức bán ra càng lớn, đặc biệt là khả năng thanh
toán cao ảnh hởng tích cực tới hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp và ngợc lại.
- Điều kiện sinh hoạt của tầng lớp dân c, thu thập quỹ tiêu dùng của dân
c trên địa bàn hoạt động của doanh nghiệp, bất kỳ sự thay đổi nào về thu nhập
của ngời tiêu dùng ảnh hởng tới cách thức chấp nhận sản phẩm cuả ngời tiêu
dùng. Thu nhập của ngời tiêu dùng cao thì họ sẽ tiêu dùng nhiều, lúc đó doanh
nghiệp có điều kiện mở rộng doanh số tiêu thụ và làm tăng lợi nhuận.
- Tập quán tiêu dùng, đặc điểm địa lý dân c, kết cấu, lứa tuổi, giới tính
cũng là nhân tố quan trọng ảnh hởng trực tiếp đến quyết định mua của ngời tiêu
dùng và do đó ảnh hởng đến hoạt động bán ra của doanh nghiệp.
- Trình độ dân trí cũng ảnh hởng đén cách thức mua sắm của ngời tiêu
dùng. Do trình độ văn hoá, hiểu biết của ngời tiêu dùng và do đó ảnh hởng đến
hoạt động bán ra của doanh nghiệp .
10
- Trình độ dân trí cũng ảnh hởng đến cách thức mua sắm của ngời tiêu
dùng. Do trình độ văn hoá, hiểu biết của ngời tiêu dùng tăng lên làm dịch vụ
chu chuyển nhu cầu tiêu dùng đối với nhiều loại sản phẩm dịch vụ. Nên doanh
nghiệp không đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ thất
bại trong cạnh tranh cũng nh trong hoạt động kinh doanh.
1.4. Nhân tố thị trờng
Thị trờng cũng là một nhân tố ảnh hởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp. Trên thị trờng, cung cầu sản phẩm nào đó có thể lên xuống
do nhiều nguyên nhân làm cho giá cả sản phẩm cũng biến động và ảnh hởng
trực tiếp đến khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá

- Nghiên cứu giá cả hàng hoá cùng loại trên thị trờng.
- Nghiên cứu cung cầu và thị hiếu khách hàng để có quyết định về giá
hợp lý.
- Chính sách bù lỗ.
- Bán phá giá.
- Điều chỉnh giá theo sự biến động của thị trờng.
* Phân phối (P3): gồm các hoạt động nhằm đa ra sản phẩm đến tay ngời
tiêu dùng. Nội dung nghiên cứu về chính sách phân phối trong Marketing.
- Thiết kế và lựa chọn kênh phân phối hàng hoá.
- Mạng lới phân phối.
- Vận chuyển và dự trữ hàng hoá.
- Tổ chức hoạt động bán hàng.
12
- Các dịch vụ sau khi bán hàng (Lắp đặt, bảo hành, cung cấp phụ tùng...)
- Trả lơng cho nhân viên bán hàng.
- Trng bày và giới thiệu hàng hoá.
* Xúc tiến bán hàng (p4): Các hoạt động để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm
và dịch vụ. Nội dung nghiên cứu chính sách xúc tiến bán hàng gồm:
- Quảng cáo.
- Các hình thức khuyến mãi.
- Bán hàng cá nhân.
- Marketing trực tiếp.
- Tuyên truyền, cổ động và mở rộng quan hệ với công chúng.
Xây dựng một chiến lợc Marketing Mix đúng đắn sẽ tăng cờng đợc
sức mạnh của doanh nghiệp trên thị trờng. Nó giúp cho doanh nghiệp nắm bắt
nhanh hơn những yếu tố biến động của môi trờng kinh doanh, từ đó sớm đa ra
những đối sách cụ thể trong quá trình thích ứng với điều kiện kinh doanh mới.
Ngoài ra còn giúp cho doanh nghiệp bán sát đợc nghiên cứu tiêu dùng trên từng
phân đoạn thị trờng, đồng thời chỉ ra cách thức để doanh nghiệp có thể tổ chức
thực hiện nhằm ngày càng thoả mãn hơn nữa nhu cầu của ngời tiêu dùng. Đáp

+ Chính sách ổn định giá: là chính sách duy trì cho đợc mức giá hiện
đang bán.

+ Chính sách tăng giá: Là chính sách đa giá lên cao hơn các mức giá
đang bán của doanh nghiệp.
+ Chính sách giảm giá: là chính sách hạ thấp các mức giá đang bán của
doanh nghiệp.
14
+ Chính sách giá thấp: một số doanh nghiệp theo đuổi chính sách giá bán
nhỏ hơn giá của đối thủ cạnh tranh. Trong một số trờng hợp, chính sách giá thấp
có thể là hình thức tạm thời tơng đối hữu hiệu để phù hợp với các thị trờng th-
ờng xuyên biến động. Chính sách giá thấp cho thấy xu hớng mở rộng thị trờng
tiêu thụ, thu hút sức cầu lớn và tạo cho ngời bán cơ hội để sử dụng hết tăng lực
sản xuất kinh doanh của mình. Mặt khác, trong trờng hợp sản phẩm của doanh
nghiệp đang ở pha cuối của chu kỳ sống (pha suy thoái) thì doanh nghiệp bán
phá giá để thu hồi vốn chuyển sang kinh doanh mặt hàng khác. Tuy nhiên, áp
dụng chính sách giá thấp gây ra tâm lý nghi ngờ của ngời tiêu dùng về chất lợng
sản phẩm. Mặt khác bán giá thấp gây bất lợi cho doanh nghiệp khi tăng giá
trong dài hạn.
+ Chính sách giá cao: thông thờng chính sách này sử dụng khi doanh
nghiệp kiểm soát đợc thị trờng, lúc này doanh nghiệp cần bán với giá cao để thu
lợi nhuận độc quyền. Bán ở mức giá tơng đối cao so với thị trờng có thể coi là
một thủ pháp tạm thời trong một số điều kiện nhất định.
2.4. Chính sách phân phối
Nội dung của chiến lợc phân phối đề cập tới 3 vấn đề chính: một là mục
tiêu của chiến lợc phân phối, hai là những căn cứ xây dựng chiến lợc phân phối
và ba là lựa chọn kênh phân phối.
- Xác định mục tiêu của chiến lợc phân phối:
Chính sách phân phối có nhiều mục tiêu khác nhau, nhng có bốn mục
tiêu chính là: bảo đảm phân phối nhanh chóng, tiêu thụ đợc khối lợng lớn sản

theo phơng thức khách hàng đến mua hàng tại nơi cung ứng.
+ Chính sách phân phối theo hình thức bán buôn: là chính sách phân phối
sản phẩm cho ngời mua để bán lại.
16
+ Chính sách phân phối độc lập: là chiến lợc phân phối mà kênh phân
phối gồm một nhà sản xuất độc lập với những ngời bán buôn và bán lẻ. Họ là
những thực thể riêng biệt tìm cách thu đợc lợi nhuận bằng chiến lợc kinh doanh
của mình.
2.5. Chính sách xúc tiến bán hàng.
Mặc dù có nhiều loại quảng cáo khác nhau nhng chúng đều có nội dung
chung. Khi xây dựng chính sách cần phải triệt, đó là:
+ Xác định mục tiêu chính sách, xác định đối tợng nội dung, phơng tiện
và ngân sách cho chiến lợc.
+ Xác định mục tiêu chính sách giao tiếp và khuyếch trơng là: mạnh bán
hàng tuy nhiên có thể chia làm 3 nhóm mục tiêu:
- Tạo thói quen mua hàng.
- Kích thích lôi kéo khách hàng thờ ơ.
- Tạo sức mua ban đầu
Xác định đối tợng nội dung, loại hình, phơng tiện và ngân chi chiến lợc
giao tiếp và khuyếch trơng.
Những nội dung này của chiến lợc nhằm trả lời sáu câu hỏi sau:
+ Đối tợng này nhằm vào ai?
+ Nội dung chủ yếu là cái gì?
+ Chọn loại hình nào?
+ Bằng phơng tiện gì?
+ Tiến hành vào thời điểm nào?
+ Chi phí là bao nhiêu?
17
* Một số nội dung cụ thể của các loại hình chiến lợc giao tiếp khuyếch
trơng:

Giai đoạn từ 1958-1987
Đầu những năm 1960, với chủ trơng quốc hữu hoá toàn bộ nền kinh tế,
Công ty đợc quốc hữu hoá chính thức trở thành xí nghiệp công nghiệp quốc
19
doanh có tên Nhà máy da Thuỵ Khuê trực thuộc Công ty Tạp phẩm của Bộ
công nghiệp nhẹ (nay là Bộ công nghiệp).
Trong giai đoạn này, với sự hỗ trợ từ phía nhà nớc, từ một nhà máy có qui
mô SX nhỏ, SX thủ công chủ yếu, nhà máy đã đầu t cải tạo, mở rộng SX, đổi
mới phơng pháp SX đa sản lợng tăng lên. Đây là thời kì phát triển rực rỡ nhất
của Công ty. Do trong thời gian này, trong nớc chỉ có 2 nhà máy: Nhà máy da
Thuỵ Khuê và Nhà máy da Sài Gòn. Công ty có một thị trờng lớn bao tiêu sản
phẩm, đó là thị trờng các nớc XHCN. Mặc khác giá đầu vào và đầu ra của Công
ty đợc u đãi, hoàn toàn do Công ty tự lập kế hoạch và trình Nhà nớc phê duyệt
chứ không bị phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trờng.
Do vậy, Công ty có một sự phát triển nhảy vọt. Số lợng công nhân lúc
này lên tới 410 ngời, sản lợng tăng vọt, doanh thu tăng từ 4,7 tỷ năm 1986 lên
6,1 tỷ năm 1987.
Công ty luôn hoàn thành vợt kế hoạch từ 5%-31%/năm.
Giai đoạn từ 1987-1990
Nhận thấy ngành da giầy có những nét đặc trng riêng và có triển vọng.
Nhà nớc cho phép nhà máy da Thuỵ Khuê tách ra khỏi Công ty Tạp phẩm và
sau đó sát nhập vào Liên hiệp da giầy do Nhà nớc mới thành lập, với nhiệm vụ
cung cấp đầy đủ nguyên vật liệu cho các Công ty SX giầy, SX thêm các mặt
hàng tiêu thụ bán ra trên thị truờng.
Giai đoạn từ 1990-1993
Cùng với sự thay đổi của cơ chế quản lý kinh tế Nhà nớc, mô hình Liên
hiệp không còn thích hợp nữa. Nhà nớc cho phép tất cả các doanh nghiệp thuộc
Liên hiệp tách ra hoạt động độc lập trong đó có nhà máy da Thuỵ Khuê. Đến
tháng 12/1992 nhà máy da Thuỵ Khuê đợc đổi tên thành Công ty Da giầy
theo quyết định số 1310/CNN TCLĐ ngày 17/12/1992 của Bộ trỏng Bộ công

của Công ty đợc chuyển toàn bộ cho Công ty Da Vinh). Do vậy, Công ty có tên
21
giao dịch quốc tế là HANSHOES (Hanoi Leather and Shoes Company). Để đáp
ứng với nhiệm vụ SXKD mới, năm 1998, Công ty đã đầu t 2 dây chuyền sản
xuất giầy vải và một dây chuyền sản xuất giầy da.
Tháng 12/1998, Liên doanh tại 151 Thuỵ Khuê chính thức đợc thành lập
lấy tên là Công ty liên doanh Hà Việt TungShing . Đây là liên doanh giữa
3 đơn vị là Công ty Da giầy Hà Nội, Công ty may Việt Tiến và Công ty
TungShing(Hongkong) nhằm xây dựng khu nhà ở cao cấp, khu văn phòng cho
thuê và khu vui chơi giải trí.
Hiện nay, số lợng cán bộ công nhân viên của Công ty đã lên tới 1050 ng-
ời. Trong đó nhiều ngời có trình độ trên ĐH, ĐH đợc đào tạo trong và ngoài nớc
cùng với đội ngũ công nhân có tay nghề cao, có tâm huyết với Công ty.
Mặc dù mới chuyển sang SXKD giầy dép vả lại trong bối cảnh cạnh
tranh gay gắt trên thị trờng thế giới, khu vực và trong nớc nhng trong những
năm qua toàn thể cán bộ công nhân viên Công ty Da giầy Hà Nội đã có nhiều
cố gắng vơn lên tự khẳng định mình trong cơ chế thị trờnghiện nay.
2 Chức năng và nhiệm vụ của Doanh nghiệp
2.1. Các lĩnh vực kinh doanh:
Công ty có nhiệm vụ SXKD các loại giầy dép, các sản phẩm chế biến từ
da và giả da, các loại vật t, hoá chất phục vụ nghành da giầy và một số nghành
khác. Đồng thời kinh doanh các nguyên phụ liệu, máy móc, thiết bị, làm đại lý
cho các doanh nghiệp trong và ngoài nớc về sản phẩm,nguyên phụ liệu, thiết bị
nghành giầy.
2.2 Các loại hàng hoá, dịch vụ chủ yếu mà hiện tại doanh nghiệp đang
kinh doanh
Công ty Da giầy Hà Nội SXKD các sản phẩm da giầy. Các sản phẩm chủ
yếu của Công ty gồm: giầy vải, giầy da nam nữ, giầy thể thao, xăng đan, dép đi
trong nhà... chủ yếu để xuất khẩu ngoài ra phục vụ thị trờng nội địa.
3. Công nghệ sản xuất của một số hàng hoá chủ yếu

mũi, gò hông, gò gót bằng máy gò chuyên dụng. Sau đó lắp đế dồi ép đế bằng
máy ép thuỷ lực. Tiếp theo là hoạ định vị, sấy khô bằng dây chuyền. Lu lại toàn
bộ giầy rồi cho vào hấp lu hoá. Cuối cùng là tháo giầy để đúng đôi, đúng màu
sắc và giao nộp sản phẩm.
4 Hình thức tổ chức sản xuất và kết cấu của doanh nghiệp
4.1 Hình thức tổ chức sản xuất ở doanh nghiệp
Công ty tổ chức thành thành 3 xí nghiệp sản xuất chính, 1 phân xởng sản
xuất phụ trợ và 1 trung tâm kỹ thuật mẫu. Cụ thể nh sau:
- Xí nghiệp giầy vải: có nhiệm vụ sản xuất ra các loại giầy vải. Xí nghiệp có
2 dây chuyền sản xuất giầy vải và đợc tổ chức thành 4 phân xởng, trong các
phân xởng lại đợc chia thành các tổ sản xuất nh sau:
+ Phân xởng chặt: có nhiệm vụ cán, ép, chặt vải và các lớp độn theo mẫu
quy định. Sản phẩm dở dang của phân xởng chặt sẽ đợc chuyển qua phân xởng
may để tiếp tục quá trình chế tạo sản phẩm.
+ Phân xởng may: đảm nhiệm việc may ghép các mảnh vải đã đợc chặt ở
phân xởng chặt lại với nhau, tạo thành khuôn của giầy.
+ Phân xởng gò: Nhận sản phẩm dở dang từ phân xởng may, phân xởng
gò thực hiện việc gò mũi giầy, gót giầy và lắp ghép các bộ phận của nó lại với
nhau.
+ Phân xởng hoàn tất: thực hiện một số khâu cuối cùng của dây chuyền
sản xuất, kiểm tra sản phẩm và đóng gói sản phẩm.
- Xí nghiệp giầy da: có nhiệm vụ sản xuất ra các loại giầy da và đợc tổ
chức thành 3 phân xởng:
+ Phân xởng chặt: có nhiệm vụ chặt da theo mẫu, sau đó chuyển cho
phân xởng may
24
+ Phân xởng may: thực hiện việc may, ghép các mảnh da đã đợc chặt
+ Phân xởng lắp ráp: thực hiện công việc: gò, chỉnh lý và hoàn tất.
-Xí nghiệp cao su: có nhiệm vụ tiếp nhận cao su nguyên vật liệu và các hoá
chất để chế biến thành đế cao su, ép thành các loại đế giầy và các viền thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status