Chuyên đề thực tậpTN
1 Đề tài:
“Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
trong vận tải hàng hoá tại công ty VTHHĐS”
Chuyên đề thực tậpTN
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
ĐSVN Đường sắt Việt Nam
VTĐS Vận tải Đường sắt
HHĐS Hàng hoá Đường sắt
CTY Công ty
TCTĐSVN Tổng công ty Đường sắt Việt Nam
CTVTHHĐS Công ty vận tải hàng hoá Đường sắt
KHĐT Kế hoạch đầu tư
ĐMTX Đầu máy toa xe
KTNV Kỹ thuật nghiệp vụ
TKMT Thống kê máy tính
HCTH Hành chính tổng hợp
TCLĐ Tổ chức lao động
khẩu hàng hoá trong khu vực và quốc tế cũng tăng lên là một tất yếu khách quan.
Đây là cơ hội tốt và có tiềm năng rất lớn cho các ngành vận tải nói chung và
nghành Đường Sắt nói riêng, song nó cũng là một môi trường cạnh tranh khốc liệt
giữa các loại hình vận tải trong nước và quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp kinh
doanh vận tải phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để chiếm lĩnh thị trường và
thị phần với mục tiêu tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và tái đầu tư sản xuất mở rộng.
Với những kiến thức được họp tập ở trường KTQD và qua thời gian thực tập
thực tế tại Công ty Vận Tải Hàng Hoá Đường Sắt em mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong vận tải hàng hoá tại
công ty VTHHĐS ”.
Chuyên đề thực tậpTN
4
Em xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo CTVTHHĐS và các phòng
ĐMTX , KHĐT, KTNV, TKMT, HCTH cùng sự hướng dẫn hết sức tận tình của cô
giáo .PGS.TS Lê Thị Vân Anh đã giúp em hoàn thành đề tài này. Do trình độ lý
luận cũng như kiến thức thực tế còn hạn chế, thời gian thực tập thực tế tại công ty
chưa nhiều nên đề tài của em sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất
mong nhận được sự góp ý của CBCNV trong công ty và cô giáo hướng dẫn, để đề
tài của em được hoàn thiện hơn.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Khái quát hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về năng lực cạnh
tranh của CTVTHHĐS
Nêu lên một số kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành ĐS
Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty VTHHĐS.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
công ty vận tải HHĐS trong giai đoạn tới 2007-2010.
3.Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu , trong đó chủ yếu là
phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích tổng hợp, phân tích
trong nn kinh t th trng, chi phi bi quan h cung - cu, nhm ginh cỏc iu
kin sn xut, tiờu th v th trng cú li nht
Theo hai nh kinh t hc ngi M P.A. Samuelson v W.D. Nordhaus:
Cnh tranh(Competition) l s kỡnh ch gia cỏc doanh nghip cnh tranh vi
nhau ginh khỏch hng hoc th trng. Hai tỏc gi ny cho cnh tranh ng
ngha vi cnh tranh hon ho (PerjectCompetition)
Cỏc tỏ gi trong cun Cỏc vn phỏp lý v th ch v chớnh sỏch cnh
tranh v kim soỏt c quyn kinh doanh thuc d ỏn VIE/97/016 thỡ: Cnh
tranh cú th c hiu l s ganh ua gia cỏc doanh nghip trong vic ginh mt
s nhõn t sn sut hoc khỏch hng nhm nõng cao v th ca mỡnh trờn th
Chuyên đề thực tậpTN
6
trường, để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số
hoặc thị phần. Cạnh tranh trong môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua”
3
Theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng Thống Mỹ thì: “Cạnh tranh
đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và
công bằng , có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của
thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người
dân nước đó”.
Tại diễn đàn liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2002
thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là: “Khả năng của nước đó đạt
được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ
lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian”
Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra
các điểm hội tụ chung sau đây:
Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn, phần thắng về mình
của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất.giá cả cuối
cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên.
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc
vào quan hệ cung cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh
trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận
giá cao để mua được hàng hoá mà họ cần.
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc canh tranh nhằm
giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá giảm xuống và có lợi cho người
mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu
được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thi phần của mình cho các đối
thủ mạnh hơn.
b. Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế.
Cạnh tranh được phân thành hai loại:
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành : Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ. Kết quả
của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển.
Chuyên đề thực tậpTN
8
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá
trình này, có sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kết quả là
hình thành tỷ xuất lợi nhuận bình quân.
c. Căn cứ vào tính chất cạnh tranh.
Cạnh tranh được phân thành 3 loại:
- Cạnh tranh hoàn hảo (Perject Competition): Là hình thức cạnh tranh giữa
nhiều người bán trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế
giá cả thị trường. Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng nhất, tức
là không khác nhau về quy cách, phẩm chất, mẫu mã.
của doanh nghiệp là năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị
phần của mình một cách vững chắc hay năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản
phẩm bền, đẹp, rẻ của doanh nghiệp.
Theo dự án VIE 01/025. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo
bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần ,thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong
môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước.
Những quan niệm trên cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa
trên hai tiêu chí chủ yếu là thị phần và lợi nhuận. Năng lực cạnh tranh được xem là
một mômen động lực phản ánh và lượng hoá tổng hợp thế lực, cường độ và động
thái vận hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong mối quan hệ tương tác
với đối thủ cạnh tranh trực tiếp trên thị trường mục tiêu xác định và trong khoảng
thời gian xác định.
Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh
tranh quốc gia. Một đất nước có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều
doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp
có năng lực cạnh tranh thì môi truờng kinh doanh phải thuận lợi, các chính sách
kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được; kinh tế phải ổn định; bộ máy nhà
nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả…
2.2.Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh được đánh giá một cách tổng thể nhất thông qua các chỉ
tiêu sau:
* Sản lượng, doanh thu: Đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp thể
hiện năng lực đầu ra của doanh nghiệp. sản lượng tiêu thụ sản phẩm tăng cao,
Chuyên đề thực tậpTN
10
doanh thu tăng trưởng cao và ổn định qua các năm chứng tỏ khả năng duy trì và
giữ vững thị phần của doanh nghiệp
* Thị phần: Đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch vụ, cho biết khả
chính quốc gia ổn định, ổn định tiền tệ, lạm phát ở mức kiểm soát được. Kinh tế
phát triển thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung tư bản, tăng nguồn vốn đầu tư phát
triển…Sự phát triển kinh tế xã hội kéo theo khả năng thanh toán và nhu cầu tiêu
dùng của người dân tăng lên, đây là một yếu tố thúc đẩy sự phát triển của doanh
nghiệp. Ngược lại, một nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái, nền tài chính
quốc gia sẽ không ổn định, đồng tiền mất giá, tỷ lệ lạm phát cao, sức mua giảm
sút. Trong điều kiện như vậy doanh nghiệp sẽ phải đối phó với nhiều khó khăn để
đứng vững và vượt qua, canh tranh trên thị trường sẽ khốc liệt hơn.
b.Nhân tố môi trường chính trị - pháp lý.
Hệ thống pháp luật và chính sách là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp hoạt
động sản xuất kinh doanh trên thị trường. Nó tạo ra khuôn khổ hoạt động cho
doanh nghiệp, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng. Vì vậy, tính
ổn định và chặt chẽ của nó tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Môi trường pháp lý sẽ tạo ra một số thuận lợi cho một số doanh nghiệp
này nhưng tạo ra bất lợi cho doanh nghiệp khác. Việc nắm bắt kịp thời những thay
đổi của các chính sách để có những điều chỉnh nhằm thích nghi với điều kiện mới
là một yếu tố để doanh nghiệp thành công.
c. Các xu hướng phát triển trên thế giới có ảnh hướng đến lĩnh vực kinh
doanh của doanh nghiệp.
Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá tác động đến tất cả các lĩnh vực của
các nước trên thế giới. Nó vừa thúc đẩy sự phát triển nhưng cũng vừa đem lại
nhiều thách thức và sức ép cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
Xu hướng tự do hoá thương mại sẽ thúc đẩy cạnh tranh trong kinh doanh
ngày càng mạnh mẽ hơn. Xu hướng này làm cho thị trường có nhiều biến động
dẫn đến nhiều sự thay đổi trong tổ chức quản lý, cơ cấu đầu tư…
Xu hướng phát triển khoa học công nghệ trên thế giới cũng như trong khuôn
khổ quốc gia đều ảnh hưởng mạnh mẽ tới năng lực của doanh nghiệp. Hoạt động
trong những ngành có tốc độ phát triển về công nghệ cao thì công nghệ chính là
nguồn lực tạo ra sức mạnh cạnh tranh, là vũ khí cạnh tranh của doanh nghiệp. Do
tài chính. Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện sức mạnh của doanh
nghiệp trong cạnh tranh. Vốn là một trong những điều kiện cần để doanh nghiệp
duy trì và mở rộng hoạt động của mình. Do vậy khả năng huy động vốn và sử
dụng vốn hiệu quả sẽ làm cho năng lực tài chính của doanh nghiệp mạnh lên.
Chuyên đề thực tậpTN
13
b. Năng lực sản xuất.
- Khả năng tạo ra sản phẩm có chất lượng cao. Giá thành rẻ và quy mô sản
xuất đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Chỉ có như vậy mới tạo ra sức cạnh
tranh lớn cho doanh nghiệp .
- Trình độ công nghệ. Công nghệ trên thế giới hiện nay đã trải qua quá trình
phát triển nhanh chóng.việc lựa chọn công nghệ nào cho doang nghiệp có ý nghĩa
quyết định đến khả năng cạnh tranh của DN. Công nghệ được lựa chọn phải phù
hợp với nguồn lực của DN, phải phù hợp với điều kiện, môi trường kinh doanh.
Trong điều kiện kinh doanh hiện tại và tương lai công nghệ đó phát huy như thế
nào, phải làm cho DN có ưu thế hơn đối thủ.
c. Nguồn nhân lực.
Con người là yếu tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại, phát triển của DN.
Trình độ, chất lượng của đội ngũ lao động ảnh hưởng đến chất lượng của sản
phẩm dịch vụ mà DN đang cung cấp. Con người phải có trình độ, cùng với lòng
hăng say làm việc thì mới tiếp cận, vận hành được những máy móc thiết bị công
nghệ cao. Đó là cơ sở để tạo nên sức mạnh cạnh tranh cho DN.
d. Maketing.
Hệ thống bán hàng và các hoạt động maketing đưa sản phẩm đến với khách
hàng, thoả mãn nhu cầu tốt nhất của khách hàng. Sức mạnh cạnh tranh được tạo ra
bởi hoạt động maketing và bán hàng hết sức to lớn. Chất lượng lao động phục vụ
khách hàng góp phần không nhỏ tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.
nó xây dựng hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp trong lòng khách hàng, giữ khách
- Chiến lược khác biệt hoá.
- Chiến lược tiêu điểm.
Miller và Mintzberg đã phát triển từ mô hình chiến lược cạnh tranh chung
của M.Porter và đưa ra năm mô hình chiến lược cạnh tranh bằng khác biệt hoá như
sau:
- Sự khác biệt sáng tạo .
- Sự khác biệt về tiếp thị.
- Dẫn đầu về chi phí.
Chuyên đề thực tậpTN
15
- Khác biệt về chất lượng.
- Khác biệt về dịch vụ khách hàng.
Tiếp cận tổng thể các môi trường bên ngoài(vĩ mô, vi mô) và môi trường
bên trong của doanh nghiệp, MC.kinsey đã xây dựng ma trận vị thế của doanh
nghiệp như sau:
B¶ng 1: Ma trận vị thế của DN
Khả năng cạnh tranh
Cao Trung bình Thấp
4 3 2 1
Nhiều cơ hội
ít nguy cơ
Phát triển Phát triển Ổn định
Trung bình
Phát triển Ổn định Rút lui
Nhiều nguy cơ
ít cơ hội
- Tốc độ vận chuyển hàng hoá nhanh.
- Vận tải Đường sắt có tính chất liên tục quanh năm ít phụ thuộc vào điều
kiện thời tiết khí hậu…
- Giá thành vận chuyển tương đối thấp so với các phương tiện vận tải khác.
- An toàn cao đây là ưu thế của ngành vận tải Đường sắt.
- Đảm bảo được sự liên hệ hợp tác giữa thành thị và nông thôn, giữa công
nghiệp với nông nghiệp, giữa các vùng kinh tế với nhau thông qua sự đi lại của
con người.
- Góp phần vào việc phân bố sức lao động trong cả nước điều hoà lao động
giữa các vùng kinh tế, các khu vực trong cả nước.
- Đảm bảo sự đi lại cho mọi hoạt động chính trị, văn hoá khoa học…Góp
phần làm cầu nối giữa các dân tộc trên thế giới.
Chuyên đề thực tậpTN
17
2. Đặc điểm của ngành vận tải Đường sắt.
Vận tải là quá trình thay đổi vị trí của hàng hoá và hành khách nhằm thoả
mãn nhu cầu về kinh tế, quốc phòng giao lưu văn hoá, phục đời sống vật chất và
tinh thần cho toàn xã hội. Là một phương tiện giao thông vận tải chủ yếu trong nền
kinh tế quốc dân, vận tải Đường sắt có đầy đủ đặc điểm chung của ngành giao
thông vận tải T-Km và HK-Km. Sản phẩm này không thể tích luỹ, do đó phải
thường xuyên dự trữ về phương tiện vận tải và năng lực chuyên chở phòng khi
khối lượng vận tải tăng đột xuất như các dịp lễ tết, hè…
Phạm vi hoạt động vận tải Đường sắt trên địa bàn rộng lớn, ở nước ta ngành
vận tải Đường sắt phân bố dọc triều dài đất nước từ Bắc tới Nam, nối liền ba miền
đất nước.
Trên mạng lưới Đường sắt các bộ phận đầu máy, toa xe, cầu đường thông
tin tín hiệu… là những bộ phận khác nhau nhưng đòi hỏi phải hoạt động thường
xuyên, liên tục ăn khớp chính xác, chặt chẽ với nhau theo một quy trình tác nghiệp
Giá cước và giá vé trong vận tải đóng vai trò rất quan trọng trong việc tồn
tại và phát triển của ngành. Trong quá trình thực hiện công việc sản xuất kinh
doanh, doanh nghiệp nào cũng mong muốn sản phẩm của mình bán được giá cao,
nhưng khi cạnh tranh với các nhà sản xuất khác thì cần có giá cả hợp lý. Nếu đặt
giá cao thì sẽ khó tiêu thụ các sản phẩn của mình. Muốn không giảm lượng tiêu
thụ thì cần phải có giá hợp lý được thị trường chấp nhận.
Khi đặt giá mỗi doanh nghiệp vận tải phải căn cứ vào:
- Chí phí sản xuất.
- Quan hệ cung cầu trên thị trường vận tải.
- Sự cạnh tranh trên thị trường.
- Sự điều tiết của nhà nước.
4. Cạnh tranh giữa đường sắt với các loại phương tiện vận tải khác:
Ngành Đường sắt tham gia vào công tác vận chuyển cùng với tất cả các loại
phương tiện vận chuyển khác. Tuy trong quá trình vận chuyển mỗi bên đều có
những ưu thế riêng và phạm vi riêng để phát huy sở trường của mình nhưng không
vì thế mà sự cạnh tranh ở đây không phức tạp. Muốn hiểu những điểm mạnh, điểm
yếu của ngành đường sắt chúng ta hãy xét những đặc điểm của từng loại phương
tiện vận tải.
Hiện nay tham gia vào công tác vận chuyển ở nước ta có các loại hình
phương tiện Đường sắt, đường thuỷ, đường bộ và đường hàng không.
Chuyên đề thực tậpTN
19
Các loại phương tiện vận tải trên đều có những ưu và nhược điểm trong quá
trình khai thác. Sau đây là những đặc điểm cơ bản của các loại phương tiện vận tải.
*Đường hàng không:
Là phương tiện vận tải có tốc độ cao nhưng phụ thuộc nhiều vào thời tiết.
Trong những ngày nhiều sương mù các chuyến bay phải đình chỉ. Giá vé cao, giá
cước vận chuyển đắt, hành khách đi máy bay không được mang theo nhiều hành
nhất. Tuy nhiên phương tiện ô tô chuyên chở được ít người, tải trọng thấp, không
thuận tiện khi đi đường dài, mặt khác do giới hạn bởi khuôn khổ của phương tiện
nên không đáp ứng những tiện nghi cần thiết cho hành khách. Hiện nay ở những
nước tiên tiến đã chế tạo những ô tô chở khách loại lớn hai tầng có trang bị ghế
ngồi, nằm nhưng đó mới chỉ tạo được sự thoải hơn những ô tô thông thường.
Những yêu cầu như ăn, ngủ và giải trí chủ yếu phải tiến hành ở những trạm nghỉ
dọc đường. Giá thành vận chuyển khá cao. Gần đây nền kinh tế thị trường đã làm
xuất hiện những doanh nghiệp vận tải ô tô tư nhân. Các doanh nghiệp này rất
mạnh ở điểm cơ động, linh hoạt trong sản xuất. Ngành ô tô là một đối thủ lớn cạnh
tranh với Đường sắt khi vận chuyển hàng hoá và hành khách trên cự ly ngắn và
khối lượng vận chuyển nhỏ.
* Đường sắt:
Ngành đường sắt có ưu thế trong vận chuyển đường dài, khối lượng vận
chuyển lớn và có giá thành tương đối thấp so với các loại phương tiện vận tải
khác. Ngành đường sắt với những toa xe hiện đại có đầy đủ các tiện nghi sinh hoạt
và giải trí, đoàn tàu có thể chở hàng ngàn hành khách đi hàng vạn km qua nhiều
nước trong nhiều ngày đêm liên tục và hành khách không phải nghỉ lại dọc đường.
Độ an toàn cao, có thể ngắm nhìn phong cảnh, cảm giác dễ chịu hơn khi sử dụng
phương tiện vận tải khác.
Tàu Đường sắt với những đặc điểm của nó phù hợp với việc đi lại của nhiều
loại hành khách khác nhau, nên đã trở thành loại phương tiện phổ biến được nhiều
người sử dụng. Thực tế cho thấy trong mấy năm qua ngành Đường sắt có ưu thế
rất lớn so với các loại phương tiện khác trong vận chuyển hành khách đường dài.
Về hàng hoá cũng vậy và đặc biệt là các loại hàng hoá siêu trường, siêu trọng.
Trước những thách thức và cạnh tranh gay gắt của các loại phương tiện vận
chuyển khác, để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình, ngành vận tải Đường
sắt phải gấp rút có những biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng phục vụ đáp ứng
được những đòi hỏi của xã hội.
Chuyờn thc tpTN
Chuyên đề thực tậpTN
22
Đường sắt khu vực I có những phương tiện thiết bị vận chuyển an toàn, đội ngũ
CBCNV nhiệt tình, chu đáo, là đầu mối tổ chức vận tải hành khách và hàng hóa đi
các Ga trên toàn mạng lưới Đường sắt Việt Nam. Qua 15 năm hình thành và phát
triển, Xí nghiệp Liên Hợp vận tải Đường sắt khu vực I đã có nhiều đóng góp quan
trọng trong công tác vận chuyển hành khách và hàng hóa, trong việc cải tiến và
nâng cấp đầu máy, toa xe trở thành một đơn vị có uy tín trong ngành Đường sắt nói
riêng và ngành giao thông vận tải nói chung. Tuy nhiên, đứng trước những khó
khăn của nền kinh tế thị trường và để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của
khách hàng và chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật hội nhập
với Đường sắt khu vực và Đường sắt quốc tế mô hình Xí nghiệp liên hợp vận tải
Đường sắt khu vực không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Để đáp ứng
yêu cầu đổi mới về cơ cấu tổ chức, hoàn thiện bộ máy quản lý của ngành Đường
sắt Việt Nam, ngày 07/7/2003 hội đồng quản trị tổng công ty đường sắt Việt Nam
đã ban hành quyết định số 02 QĐ/ ĐS-TCCB-LĐ về việc thành lập Công ty vận tải
hàng hoá Đường sắt trên cơ sở tổ chức lại 3 xí nghiệp Liên Hợp vận tải Đường sắt
khu vực1,2 và3 và chính thức đi vào hoạt động.
Công ty vận tải hàng hoá Đường sắt là doanh nghiệp nhà nước hạch toán
phụ thuộc Tổng công ty đường sắt Việt Nam. Có quyền tự chủ hoạt động kinh
doanh theo phân cấp, có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự theo
luật định. Tự chịu trách nhiệm về hoạt động khai thác kinh doanh vận tải, có con
dấu và được mở tài khoản riêng. Công ty có trách nhiệm bảo toàn và phát triển
nguồn vốn kinh doanh, thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động tài chính trong
toàn Công ty. Các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc theo phân cấp đảm bảo
nguyên tắc quản lý thống nhất tập trung trong toàn Công ty và Tổng công ty
Đường sắt Việt Nam.
- Tên giao dịch: Công ty vận tải hàng hoá Đường sắt
Tổng công ty Đường sắt Việt Nam; được quyền quyết định mức lương, thưởng cho
người lao động trên cơ sở các đơn giá tiền lương trên đơn vị sản phẩm công đoạn
hoặc chi phí dịch vụ và hiệu quả hoạt động của Công ty.
- Được sử dụng vốn và các quỹ của Công ty để phục vụ kịp thời các nhu cầu
trong sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và có hoàn trả.
- Tự huy động vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không thay đổi
hình thức sở hữu; được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản
Chuyên đề thực tậpTN
24
thuộc quyền quản lý của Công ty tại các Ngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh
doanh theo quy định của pháp luật hoặc vay vốn kinh doanh tại các Ngân hàng
Việt Nam trên cơ sở có bảo lãnh của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.
- Được lập và sử dụng quỹ khấu hao cơ bản, quỹ đầu tư và phát triển, và các
quỹ khác của Công ty để đầu tư, phát triển và nâng cao đời sống cán bộ công nhân
viên theo quy định của pháp luật và phân cấp của Tổng công ty Đường sắt Việt
Nam.
- Được hưởng các chế độ ưu đãi của nhà nước khi thực hiện các nhiệm vụ
sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ phục vụ an ninh quốc phòng, phòng chống thiên
tai; hoạt động công ích hoặc cung cấp sản phẩm dịch vụ đột xuất mà Nhà nước
giao.
- Được hưởng các chế độ ưu đãi đầu tư hoặc tái đầu tư theo quy định của
Nhà nước.
1.2 Nhiệm vụ
- Thực hiện nhiệm vụ khai thác kinh doanh vận tải hành khách, hành lý, bao
gửi; tham gia vận tải hàng hóa, vận tải đa phương thức trong nước và liên vận quốc
tế; bảo dưỡng, chỉnh bị, sửa chữa đầu máy, toa xe, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ
thuật, trang thiết bị vận tải; tổ chức quản lý công tác nghiệp vụ chạy tàu trong khu
vực; cung cấp đầu máy theo kế hoạch của Tổng công ty; tổ chức triển khai và phối
hợp chặt chẽ với các đơn vị hữu quan trong và ngoài ngành Đường sắt để thực hiện
định về thanh tra của cơ quan tài chính cũng như của cơ quan thuế Nhà nước và
của các cơ quan Nhà nước khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Công ty có nghĩa vụ thực hiện đúng chế độ thu chi tái chính theo chế độ
của Nhà nước quy định như quản lý vốn, tài sản, về kế toán, hạch toán, chế độ
kiểm tra và các chế độ khác do Nhà nước quy định.
- Công ty có nghĩa vụ công bố công khai báo cáo tài chính như ba tháng sáu
tháng, chín tháng và một năm, các thông tin đánh giá đúng đắn và khách quan về
hoạt động của Công ty theo quy định của Nhà nước.
2.Tình hình tổ chức bộ máy quản lý.
Từ khi chuyển đổi đến nay Công ty đã đi vào hoạt động một cách có hiệu
quả , Công ty vận tải hàng hoá Đường sắt đã và đang tiếp tục vươn lên để hoàn
thành nhiệm vụ; Công ty vận tải hàng hoá được kế thừa các cơ sở vật chất sẵn có
của 3 Xí nghiệp Liên Hợp chuyển giao từ đó phát triển và xây dựng lại bộ máy