môc lôc
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà thực tiễn phát triển kinh tế của Việt
Nam đang dần hội nhập với thế giới, sự phát triển của thị trường tài chính là
một đòi hỏi tất yếu. Thị trường tài chính trực tiếp mà điển hình là thị trường
chứng khoán, những năm gần đây đã được cung cấp các yếu tố như môi
trường pháp lý , tổ chức trung gian hỗ trợ phát triển để tạo ra kênh huy động
vốn mới cho nền kinh tế. Nhưng nó vẫn cần có thời gian phát triển ổn định để
thực hiện chức năng này. Do vậy, nhiệm vụ hàng đầu mà nền kinh tế đặt ra là
huy động vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đang đặt
lên vai các ngân hàng thương mại (NHTM) - thị trường tài chính gián tiếp
điển hình nhât, với tư cách là kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế .
Sự ra đời của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài ra đời làm cho quá
trình cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng mạnh mẽ hơn bao giờ hết , trong đó
sự giành giật thị phần từ nguồn vốn huy động từ dân cư đang có xu hướng
giảm trong khối ngân hàng thương mại nhà nước so với các ngân hàng
khác.Ngân hàng NHNo chi nhánh Tây Hồ nằm trong khối chi nhánh của một
trong những ngân hàng thương mại nhà nước đứng ở tốp đầu nên vấn đề huy
động vốn trong dân cư cũng được chi nhánh đặc biệt quan tâm.
Vì những lý do trên, em đã chon đề tài: “Mở rộng huy động tiền gửi dân
cư ở ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn( NHNo) chi nhánh Tây
Hồ làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Hoạt động huy động vốn tiền gửi dân cư của ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng mở rộng huy động tiền gửi dân cư ở NHNo chi
nhánh Tây Hồ
Chương 3: Giải pháp tăng cường và một số kiến nghị về mở rộng huy
động vốn tiền gửi dân cư ở NHNo chi nhánh Tây Hồ
2
CHƯƠNG 1
riêng. Một ngân hàng cơ bản bao gồm các hoạt động sau: Hoạt động huy
động vốn, hoạt động tín dụng đầu tư, và các hoạt động khác .
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Để bắt đầu đi vào hoạt động các chủ ngân hàng phải có một lượng vốn
nhất định đó là vốn chủ sở hữu. Nhưng đây không phải là nguồn chủ yếu của
các ngân hàng mà là nguồn vốn huy động. Huy động vốn- hoạt động tạo
nguồn vốn cho ngân hàng thương mại, đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới
chất lượng hoạt động ngân hàng. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng
bao gồm:
- Huy động tiền gửi: là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM.
Khi một ngân hàng đi vào hoạt động thì nghiệp vụ đầu tiên là mở các
tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng
cách đó ngân hàng huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ
chức và của dân cư. Các NHTM có thể huy động tiền gửi dưới dạng
các tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, tổ
chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi các ngân hàng
khác.
- Hoạt động đi vay của các NHTM: Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất
với ngân hàng, tuy nhiên khi cần thiết ngân hàng thường vay mượn
thêm. Ở một số nước còn quy định tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tiền gửi
có thể là 1/13, 1/20, 1/80, ngân hàng nhà nước Việt Nam (NHNN)
quy định tỷ lệ này là 1/20. Vì vậy các ngân hàng vào những giai
đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả
năng huy động bị hạn chế. Các ngân hàng có thể đi vay NHNN, vay
các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường vốn.
4
- Các nguồn khác: Bên cạnh các hoạt động huy động vốn chủ yếu trên
ở ngân hàng còn huy động vốn từ nguồn ủy thác, nguồn trong thanh
toán. NHTM thực hiện các dịch vụ ủy thác như ủy thác cho vay, ủy
thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân… các hoạt động này
dịch vụ khác như: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, ủy
thác… Trong hoạt động của ngân hàng hiện đại thì tỉ trọng doanh thu từ các
hoạt động dịch vụ có xu hướng ngày càng tăng.
Do nhu cầu phát triển của nền kinh tế đặc biệt đối với các ngành dịch
vụ, gần đây các ngân hàng cũng đã cung cấp thêm các dịch vụ mới như: cho
vay tiêu dùng, tư vấn tài chính, quản lý tiền mặt, môi giới đầu tư chứng
khoán, bán các dịch vụ bảo hiểm. song để có chỗ đứng trên thị trường những
hoạt động truyền thống vẫn là mục tiêu quan tâm của các ngân hàng trong đó
có hoạt động huy động vốn mà cụ thể là huy động tiền gửi dân cư.
1.2. Huy động tiền gửi dân cư ở NHTM
Hoạt động huy động vốn phân loại theo đối tượng sẽ bao gồm: tiền gửi
của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, tiền gửi của dân cư , tiền gửi các
ngân hàng khác. Phần trình bày tiếp theo sẽ đi vào tìm hiểu hoạt động huy
động tiền gửi dân cư.
1.2.1. Khái niệm huy động tiền gửi dân cư ở NHTM
Dân cư là khu vực giàu tiềm năng nhất, là đối tượng huy động vốn của
NHTM. Trong phạm vi chuyên đề này “dân cư” được đề cập đến là đối tượng
huy động vốn của NHTM. Dân cư với tư cách là chủ thể của những nguồn tài
chính tạm thời nhàn rỗi và NHTM với vai trò là trung gian tài chính có quan
hệ với dân cư như là người đi vay và người cho vay. Vậy “ huy động tiền
gửi dân cư là quá trình các NHTM tìm đến nguồn tiến nhàn rỗi từ dân
cư bằng nhiều cách thức khác nhau với cam kết nắm giữ an toàn và hoàn
trả đủ gốc và lãi đúng thời hạn”. Huy động vốn từ dân cư chiếm tỉ trọng
6
lớn trong tổng nguồn huy động và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các
NHTM vì vậy họ thường tìm mọi cách để duy trì và thu hút nguồn vốn huy
động từ dân cư.
1.2.2. Vai trò huy động tiền gửi dân cư ở NHTM
1.2.2.1. Đặc điểm nguồn tiền gửi dân cư
Tiền gửi dân cư là nguồn có quy mô lớn trong tổng nguồn huy động của
điều kiện cho các tổ chức kinh tế có thể tiếp cận với các nguồn vốn ngân
hàng thúc đẩy kinh tế phát triển. Thông qua việc huy động tiền gửi dân cư sẽ
góp phần phát triển tài khoản tiền gửi thanh toán cá nhân từ đó phát triển các
hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm chi phí phát hành và lưu
thông tiền mặt trong nền kinh tế.
- Đối với khách hàng cá nhân
Khách hàng khi tham gia vào hoạt động huy động vốn của NHTM mà
cụ thể ở đây là huy động tiền gửi dân cư sẽ có được thu nhập từ tài khoản
sinh lợi của tài khoản tiền gửi ở ngân hàng. Nếu người dân không gửi tiền
vào NHTM mà thay vào đó là chi tiêu hay lựa chọn một hình thức đầu tư
khác họ sẽ bỏ qua cơ hội có được một khoản tích lũy lớn hơn trong tương lai.
So sánh chênh lệch về lợi ích, chi phí người dân sẽ đi đến kết luận lựa chọn
gửi tiền ở ngân hàng. Tại đây khách hàng được hưởng lãi và quan trọng hơn
được hưởng các dịch vụ và tiện ích mà ngân hàng mang lại.
- Đối với ngân hàng thương mại
Vì vốn là điều kiện tiền đề để ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh
của mình, cũng chính vì thế nếu không xét đến ảnh hưởng của các yếu tố
khác thì một ngân hàng càng thu hút được nguồn vốn dồi dào sẽ càng có
nhiều cơ hội kinh doanh. Vai trò này đối với ngân hàng là rõ nét hơn cả vì
đặc thù của ngân hàng là huy động để cho vay mà dân cư là đối tượng rộng
nhất và quan trọng nhất mà các ngân hàng hướng tới. Dân cư không chỉ là đối
8
tượng huy động vốn của NHTM mà còn là đội ngũ khách hàng tiềm năng mà
ngân hàng hướng tới. Khi có thu nhập thặng dư thì một bộ phận dân cư tiến
hành gửi khoản thặng dư của mình vào ngân hàng, trong khi một bộ phận
khác không có vốn sẽ tìm đến ngân hàng đề nghị được ngân hàng cấp số vốn
đó dưới dạng các khoản vay mượn. Như vậy hoạt động huy động tiền gửi dân
cư mang lại lợi ích cho cả ngân hàng ,dân cư và nền kinh tế.
1.2.3 Các hình thức huy động tiền gửi dân cư của ngân hàng thương
mại
tệ và ngoại tệ theo hướng lãi suất của ngoại tệ thấp hơn nội tệ.
c. Theo phương thức trả lãi
- Tiết kiệm trả lãi sau: Là hình thức tiết kiệm trả lãi khi đáo hạn. Vào
thời điểm đó nếu khách hàng không đến rút vốn và lãi thì số tiền lãi được
nhập vào vốn và coi là vốn của kỳ hạn tiếp theo.
- Tiết kiệm trả lãi trước
Là hình thức tiết kiệm trả lãi ngay khi khách hàng gửi tiền. Khi đến hạn
khách hàng sẽ được lĩnh phần gốc đúng như số tiền gửi trên sổ tiết kiệm hoặc
thẻ. Nếu khách hàng yêu cầu rút gốc trước hạn thì sẽ giải quyết theo quy định
của ngân hàng.
- Tiết kiệm trả lãi định kỳ
Là hình thức tiết kiệm trả lãi cho từng kỳ hạn mà khách hàng và ngân
hàng đã thỏa thuận. Đến kỳ tính lãi, khách hàng có thể rút phần lãi của kỳ đã
đăng ký vào bất cứ ngày làm việc nào của ngân hàng. Nếu khách hàng không
tính lãi theo kỳ hạn đã đăng ký thì ngân hàng chỉ thực hiện sao kê tính lãi, hết
kỳ tính lãi cuối cùng thì số lãi còn chưa lĩnh được nhập vào gốc.
d. Theo phương thức nộp gốc
- Tiết kiệm gửi một lần
Là loại hình tiết kiệm mà ngân hàng chỉ gửi vào đó một lần và từ thời
10
điểm đó đến khi đáo hạn. Với hình thức này ngân hàng không tốn nhiều chi
phí quản lý do số dư tài khoản của khách hàng không biến động. Chính vì
vậy mức lãi suất của loại tiền gửi này cao.
- Tiết kiệm gửi nhiều lần
Tiết kiệm gửi nhiều lần hay tiết kiệm gửi góp là hình thức tiết kiệm mà
định kỳ đã đăng ký với ngân hàng, khách hàng gửi vào ngân hàng một số
tiền, số tiền gửi từng lần có thể là cố định hoặc thay đổi theo khả năng của
khách hàng. Lãi suất của loại tiền này thấp hơn tiết kiệm thông thường và
ngoài việc phụ thuộc vào kỳ hạn gửi thì lãi suất tiết kiệm gửi góp còn phụ
thuộc vào khoảng cách giữa hai lần gửi, khoảng cách này càng nhỏ thì lãi
ý nghĩa quan trọng với xã hội, dân cư và bản thân ngân hàng, là đối tượng
huy động quan trọng của ngân hàng. Dưới đây em xin đề cập đến vấn đề mở
rộng huy động tiền gửi dân cư và những chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng
huy động tiền gửi dân cư của NHTM.
1.3. Mở rộng huy động tiền gửi dân cư ở NHTM
Tiền gửi dân cư là một trong những nguồn có chi phí thấp nhất mà ngân
hàng huy động được cùng với tính ổn định cao nhằm làm tăng khả năng sinh
lợi của ngân hàng vì vậy thu hút tiền gửi dân cư là mục tiêu mà các NHTM
luôn hướng tới trong các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau.
1.3.1. Khái niệm mở rộng huy động tiền gửi dân cư của NHTM
Trong ngôn ngữ hàng ngày nói chung cũng như trong hoạt động kinh tế
nói riêng ta thường bắt gặp các cụm từ: Nâng cao, kéo dài hay mở rộng. Nâng
cao hay được sử dụng để nói về sự phát triển hay kéo dài chỉ sự thay đổi về
thời gian. Bàn về khái niệm mở rộng ở đây có thể hiểu là: sự tác động bổ
sung lên một mặt nào đó của đối tượng đã có sẵn theo chiều hướng tăng lên
về mặt lượng so với trạng thái ban đầu. Khái niệm "mở rộng" có thể hiểu theo
nhiều cách khác nhau ở các góc độ khác nhau song điều quan trọng cần bàn
12
đến ở đây là mở rộng huy động tiền gửi dân cư. Với định nghĩa dân cư đã
trình bày ở trên thì mở rộng huy động tiền gửi dân cư là việc ngân hàng sử
dụng các phương tiện, cách thức để làm tăng lên về quy mô và phạm vi
của hoạt động huy động vốn hướng tới đối tượng là dân cư nhằm thực
hiện mục tiêu đề ra. Là một trong những hoạt động truyền thống và quan
trọng trong ngân hàng nên đánh giá việc huy động tiền gửi dân cư mà cụ thể
là đánh giá mức độ mở rộng huy động tiền gửi dân cư cũng cần có các chỉ
tiêu để đánh giá : Số lượng khách hàng, phượng tiện thanh toán, số lượng tài
khoản ở ngân hàng...
1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ mở rộng huy động tiền gửi dân
cư
♦Số lượng khách hàng tăng lên
vẫn là ưu tiên hàng đầu, trường hợp này mối tương quan thuận giữa tài khoản
giao dịch và việc mở rộng huy động tiền gửi từ dân chúng của NHTM không
phải là hoàn toàn đúng.
♦Phương tiện thanh toán đa dạng và hiện đại
Một trong ba chức năng cơ bản của ngân hàng là tạo phương tiện thanh
toán. Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận: thứ
nhất là tiền giấy trong lưu thông, thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao
dịch của khách hàng tại ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền
gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn. Trong xu hướng mà tài khoản tiền gửi
giao dịch không chỉ dành cho các tổ chức kinh tế mà còn hướng về cả bộ
phận dân cư là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện thanh toán qua ngân
hàng thay thế cho thói quen sử dụng tiền mặt của đại bộ phận dân cư ỏ một số
nền kinh tế đang phát triển hiện nay. Do đó việc mở rộng huy động tiền gửi
dân cư theo cả hình thức mở tài khoản cá nhân hay tiền gửi tiết kiệm đều có
chức năng tạo phương tiện thanh toán một trong những chức năng cơ bản của
14
ngân hàng. Có thể nói đây là chỉ tiêu mang tính vĩ mô và khó định lượng
song nó lại đánh giá được mức độ gia tăng huy động tiền gửi dân cư ở các
NHTM.
♦Sự tăng lên về lượng tiền gửi từ dân cư: Mục tiêu của việc mở rộng
huy động tiền gửi dân cư cuối cùng là làm sao để ngân hàng có thể cải
thiện được nguồn vốn này, việc mở rộng thành công hay thất bại phản
ánh qua lượng tiền gửi có tăng lên không, có đủ đáp ứng cho nhu cầu
sử dụng vốn của ngân hàng hay không.
♦Loại tiền huy động tăng lên: Khi nền kinh tế phát triển ở một mức độ
nào đó thì sự du nhập của các đồng tiền nước ngoài vào là điều có thể
hiểu. Nắm bắt được điều này nên trong hoạt động huy động vốn đặc
biệt là từ khu vực dân cư các NHTM cũng dần châp nhận việc khách
hàng gửi bằng các ngoại tệ mạnh , kết quả của việc mở rộng huy động
sẽ được phản ánh một phần qua số chủng loại ngoại tệ mà ngân hàng
tiền gửi ngoài xã hội thì lúc đó NHTM thu hút vốn dễ dàng hơn. Khi nhà
nước có chính sách khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất thì ngân hàng khó
huy động vốn vì người có tiền bỏ vào sản xuất có lợi hơn khi gửi vào ngân
hàng.
- Việc sử dụng công cụ chính sách tiền tệ
Trong việc vận hành các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của
NHTW, mỗi công cụ đều tác động đến nghiệp vụ tạo vốn nói chung cũng như
hoạt động huy động tiền gửi dân cư của ngân hàng thương mại nói riêng. Hai
công cụ chính đó là lãi suất chiết khấu và dự trữ bắt buộc.
- Chính sách đầu tư của nhà nước
Chính sách đầu tư của nhà nước hợp lý hay không hợp lý đều ảnh hưởng
đến chính sách huy động vốn của ngân hàng. Bởi vì trên thực tế, những chính
sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường kinh doanh không chỉ đối với
16
khách hàng mà còn đối với cả ngân hàng.
• Tình hình kinh tế xã hội trong và ngoài nước
Nền kinh tế ở vào thời kỳ tăng trưởng, sản xuất phát triển, người dân có
thu nhập cao từ đó tạo điều kiện tích lũy nhiều hơn, do đó tạo môi trường cho
việc thu hút vốn của ngân hàng thuận lợi, mặt khác nó cũng tạo môi trường
đầu tư cho ngân hàng, từ đó ngân hàng phải có biện pháp sao cho thu hút vốn
có hiệu quả. Khi nền kinh tế giảm sút, sản xuất bị kìm hãm, nền kinh tế suy
thoái, lạm phát tăng làm cho môi trường đầu tư của ngân hàng bị thu hẹp do
sản xuất đình chệ thua lỗ nên không doanh nghiệp nào vay vốn của ngân
hàng sản xuất. Do đó thu nhập của ngân hàng giảm sút làm cho quá trình tạo
vốn gặp khó khăn.
• Tâm lý thói quen tiêu dùng của người gửi tiền
Tập quán ngân hàng cũng ảnh hưởng đến nghiệp vụ tạo vốn của NHTM.
Nếu ở những vùng dân cư quen dùng tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ là
chính thì việc huy động vốn của ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Ở những
nước phát triển, nhu cầu giao dịch thanh toán qua ngân hàng rất phát triển.
bảo được an toàn vốn, tăng uy tín, từ đó có điều kiện thu hút khách hàng dân
cư đến gửi tiền cũng như sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng. Một vấn
đề nữa là trình độ của cán bộ làm công tác huy động vốn càng cao thì trong
quá trình hoạt động kinh doanh, mọi thao tác sẽ được thực hiện nhanh chóng,
chính xác và có hiệu quả. Từ đó ngân hàng có điều kiện mở rộng hoạt động
kinh doanh, thu hút được ngày càng nhiều khách hàng.
+ Hình thức huy động vốn
Ngân hàng muốn tìm kiếm nguồn vốn trước hết phải đa dạng hóa các
hình thức huy động: hình thức huy động càng phong phú thì ngân hàng càng
dễ huy động hơn. Ngân hàng có thể huy động bằng cách phát hành kỳ phiếu,
huy động tiền gửi tiết kiệm trong đó đưa ra nhiều kỳ hạn khác nhau cho các
18
loại tiền gửi có kỳ hạn. Có thể nói rằng trong nền kinh tế thị trường, việc đưa
ra nhiều sản phẩm khác nhau cho người tiêu dùng lựa chọn là hết sức cần
thiết do nhu cầu của người gửi tiền là khác nhau. Các sản phẩm của ngân
hàng là khá đơn điệu, việc đa dạng các hình thức huy động vốn là rất khó.
Tuy nhiên các ngân hàng đã cho ra đời rất nhiều các sản phẩm vừa mang tính
truyền thống vừa mang tính hiện đại như: Tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái
phiếu với nhiều kỳ hạn và mệnh giá khác nhau. Từ đó đã từng bước đã thu
hút được đông đảo khách hàng. Một NHTM có sự đa dạng trong nghiệp vụ
huy động vốn thỏa mãn được nhu cầu của người gửi tiền, một sản phẩm phù
hợp sẽ làm cho khách hàng quan tâm và bị thu hút về việc gửi tiền vào
NHTM hơn là tìm kiếm các cơ hội đầu tư khác. Vì vậy đa dạng hóa sản phẩm
là công việc quan trọng và trở thành cuộc chạy đua không có đích cuối cùng
của các NHTM hiện nay.
+ Hình thức cho vay
Nếu hình thức cho vay của ngân hàng càng mở rộng chẳng hạn như
không chỉ là cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn mà còn mở rộng sang các
hình thức cho vay hợp vốn, liên doanh, liên kết mua bán các khoản nợ thì
buộc các ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn cho chính mình, huy động thế
+ Các dịch vụ do ngân hàng cung cấp
Nếu ngân hàng đưa ra các dịch vụ tốt và đa dạng thường có lợi thế hơn
so với các ngân hàng khác có dịch vụ giới hạn. Vì ngân hàng nào càng đáp
ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì ngân hàng đó càng có cơ hội tiếp xúc với
khách hàng nhiều hơn, qua đó có thể quảng bá hình ảnh của ngân hàng mình
cũng như xây dựng được nhiều mối quan hệ với khách hàng. Một đặc điểm
về thông tin từ phía dân cư là khả năng lan truyền rất nhanh, một thông tin tốt
được lan truyền trong dân là cách thức quảng cáo hữu hiệu nhát cho ngân
hàng.
20
+ Các hình thức huy động
Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì trứơc hết phải đa dạng
hoá các hình thức huy động vốn: hình thức huy động càng phong phú thì
ngân hàng càng dễ huy động hơn. Ngân hàng có thể thu hút nguồn vốn từ dân
cư bằng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, huy động tiền gửi tiết kiệm trong đó
đưa ra nhiều thời hạn khác nhau cho các loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Có thể nói rằng trong nền kinh tế thị trưòng, việc đưa ra nhiều sản phẩm
khác nhau cho người tiêu dùng lựa chọn là hết sức cần thiết, bởi vì nhu cầu
của mỗi người khác nhau. Các sản phẩm của ngân hàng là khá đơn điệu, việc
đa dạng hoá các hình thức huy động là rất khó. Tuy nhiên các NHTM cho ra
đời nhiều sản phẩm vừa mang tính truyền thống vừa mang tính hiện đại qua
đó từng bước thu hút được nhiều khách hàng hưởng ứng. Một ngân hàng có
sự đa dạng trong nghiệp vụ huy động vốn( HDV) thoả mãn được nhu cầu của
người gửi tiền, một sản phẩm phù hợp sẽ làm cho khách hàng quan tâm và bị
thu hút vào việc gửi tiền ở NHTM hơn là các hình thức đầu tư sinh lời khác.
+ Mạng lưới phục vụ cho việc huy động vốn
Với những ngân hàng sát địa bàn dân cư hoặc gần với trung tâm thưông
mại thì sẽ có thuận lợi cho việc thu hút vốn. Mạng lưới HDV của các NHTM
thường biểu hiện qua số lượng việc tổ chức các quỹ tiết kiệm. Khi dân chúng
có tiền nhàn rỗi họ thường đưa ra quầy tiết kiệm gần nhà nhất để gửi tiền.
Các NHTM có uy tín lớn thường được dân cư ưu tiên lựa chọn để gửi
tiền. Uy tín của ngân hàng này được thể hiện qua hoạt động kinh doanh, giá
trị thương hiệu của ngân hàng… Các ngân hàng có thể tạo ra uy tín bằng cách
làm tăng độ tin tưởng từ dân chúng thông qua thái độ phục vụ nhiệt tình, chu
đáo nhanh chóng, khoản tiền cũng phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời
hạn. Ngoài ra các chính sách quảng bá thương hiệu ngân hàng cũng sẽ là một
biện pháp tốt nhằm làm tăng uy tín ngân hàng.
22
Những nét khái quát chung về hoạt động huy đông vốn nói chung và
huy động tiền gửi dân cư nói riêng ở NHTM đã phần nào cho thấy được tầm
quan trọng của hoạt động này với sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng
trong quá trình cạnh tranh đầy khốc liệt với các định chế tài chính khác trong
nền kinh tế. Và những tác động nào đã ảnh hưởng đến huy động tiền gửi dân
cư của NHTM. Để khẳng định cho những ý ở trên chương tiếp theo sẽ đi vào
phân tích cụ thể tình hình mở rộng huy động tiền gửi dân cư ở NHNo chi
nhánh Tây Hồ.
23
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI DÂN CƯ Ở
NHNo CHI NHÁNH TÂY HỒ
2.1. Khái quát về NHNo chi nhánh Tây Hồ
Ngay từ những ngày đầu năm 1996, hận biết được tiềm lực phát triển kinh tế
của quận Tây Hồ- Hà Nội ban lãnh đạo ngân hàng đã cho thành lập một chi
nhánh trên địa bàn quận. Chi nhánh đã đóng vai trò là cầu nối chu chuyển
luồng vốn giữa các thành phần kinh tế đáp ứng tốt cho hoạt động sản xuất
kinh doanh cho Tây Hồ cũng như các vùng lân cận của Thủ đô. Để hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao, ngay sau khi thành lập NHNo chi nhánh Tây
Hồ đã thực hiện chủ trương đúng đắn của ban lãnh đạo NHNo Việt Nam: Về
hoạt động kinh doanh, đổi mới công nghệ, không ngừng trau dồi và nấng cao
hoàn thành. Được sự chấp thuận của NHNN thành phố Hà Nội, Chủ tịch
HĐQT Ngân hàng nông nghiệp & PTNT Việt Nam đã có quyết định cho
phép Chi nhánh Quảng An chuyển trụ sở về 164 Trần Quang Khải. Ngày
12/2/2007, Chi nhánh đã chính thức giao dịch buổi đầu tiên tại địa điểm
mới,lấy tên là NHNo Hồng Hà.
Trong những năm gần đây, do tận dụng được những yếu tố thuân lợi cho nền
kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng, chi nhánh NHNo Tây Hồ đã
đạt được hiệu quả kinh doanh tốt, tỉ lệ sinh lời trên một đồng vốn cao, các chỉ
tiêu cơ bản đều đạt kế hoạch được giao.
Năm 2002 NHNo Tây Hồ đạt danh hiệu lá cờ đầu trong các chi nhánh của
NHNo Hà Nội.
Năm 2003 chi nhánh được nhận bằng khen của UBND thành phố Hà Nội.
Năm 2004 chi nhánh được nhận bằng khen của Thống đốc ngân hàng nhà
nước Việt Nam.
25