Nghiên cứu về hợp tác xã - Pdf 10


1
LỜI MỞ ĐẦU
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định “Phát triển
kinh tế hợp tác và hợp tác xã (HTX) là vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội. Chuyển đổi HTX kiểu cũ theo luật HTX đạt hiệu quả thiết
thực, phát triển HTX kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành để sản xuất
hoặc kinh doanh dịch vụ tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù
hợp với quá trình CNH – HĐH”.
Như vậy nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc rõ ràng đã làm sáng tỏ một điều
rằng: Nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ bao cấp hay đổi mới nói chung và nền
nông nghiệp Việt Nam nói riêng thì HTX vẫn là nền tảng của nền kinh tế bền vững
phát triển. Thực tế đã cho ta thấy rất rõ phong trào hợp tác hoá ở nước ta trải qua
nhiều bước thăng trầm. Tuy vậy, sau một thời gian hoạt động đặc biệt là giai đoạn
xây dựng đất nước thời bình mô hình HTX kiểu cũ đã ngày càng tỏ ra không phù
hợp với yêu cầu lịch sử phát triển kinh tế trong điêù kiện mới. Số HTX làm ăn có
hiệu quả chỉ còn chiếm tỷ lệ thấp, đa số không thích ứng được với nền kinh tế thị
trường sôi động, nhạy bén. Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra là: làm thế nào để mô hình
kinh tế hợp tác, HTX thích ứng được với nền kinh tế thị trường, đem lại hiệu quả
cho những người trực tiếp tham gia HTX nói riêng và góp phần thúc đẩy cho nền
nông nghiệp Việt Nam phát triển nói chung đang trở thành một đề tài quan trọng,
cần thiết phải nghiên cứu, để tìm ra lời giải đáp thực sự sáng tạo và mang tính
thuyết phục nhất. Như vậy qua sự phân tích trên cho thấy: việc nghiên cứu mô hình
kinh tế hợp tác, HTX là nhiệm vụ của tất cả mọi người. Đặc biệt là đối với cán bộ
và sinh viên thuộc chuyên ngành nông nghiệp. Để phục vụ cho cho kết quả học tập
được tốt hơn, đồng thời để góp phần làm phong phú hơn cho quỹ những ý tưởng
đã được các cơ quan Nhà nước xem xét và thực hiện em xin trình bày một số ý kiến
của mình về việc phát triển kinh tế hợp tác, HTX trong nông nghiệp ở thời kỳ đổi
mới.
Vì đây là lần đầu tiên thực hiện nghiên cứu một đề tài nên không thể tránh được
những sai sót, em rất mong các thầy cô phê bình và góp ý cho em. Em xin chân

tác để lựa chọn những loại hình phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các hình thức

3
kinh tế hợp tác phát huy tác dụng đem lại hiệu quả cho quá tình phát triển kinh tế
xã hội.
2.1. Kinh tế hợp tác giản đơn.
Đó là các tổ hội nghề nghiệp, các tổ nhóm hợp tác và các tổ kinh tế hợp tác.
Hình thành trên cơ sở tự nguyện của các thành viên tham gia nhập hoặc ra khỏi tổ,
thành lập hoặc giải thể tổ chức, quản lý dân chủ cùng có lợi. Mục đích hoạt động
kinh doanh của các thành viên giống nhau, nhằm cộng tác, trao đổi kinh nghiệm
giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm vì mục
tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mỗi thành viên.
Các loại hình kinh tế hợp tác giản đơn này hoạt động không có điều lệ,
không có tư cách pháp nhân. Quan hệ ràng buộc giữa các thành viên chủ yếu được
xây dựng trên cơ sở tình cảm, tập quán, truyền thống cộng đồng không mang tính
pháp lý.
2.2. Hợp tác xã
2.2.1. Định nghĩa
HTX là loại hình kinh tế hợp tác phát triển ở trình độ cao hơn loại hình kinh
tế hợp tác giản đơn. Ở nhiều nước trên thế giới, HTX đã có lịch sử hình thành và
phát triển hơn 100 năm. HTX đầu tiên trên thế giới bắt đầu từ thế kỉ XII ở vùng núi
phía Đông nam nước Pháp.
Trong luật HTX của nhiều nước cũng như một số tổ chức quốc tế đều có
định nghĩa về HTX. Liên minh HTX quốc tế đã định nghĩa HTX như sau: “HTX là
một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu
và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp
cùng sở hữu và quản lý dân chủ”. Năm 1995 định nghĩa này đã được hoàn thiện:
“HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công
bằng và đoàn kết. Theo truyền thống của những người sáng lập ra HTX, các xã
viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã

dịch vụ cho hộ nông dân hoạt động của HTX là đối trọng buộc các đối tượng phải
phục vụ tốt cho nông dân.
2.2.3. Những đặc trưng cơ bản của HTX kiểu mới ở Việt Nam

5
Từ những quy định trong Luật HTX năm 1996 và các Nghị định dưới Luật
hướng dẫn triển khai Luật HTX có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản về HTX kiểu
mới như sau:
Thứ nhất: HTX kiểu mới là tổ chức kinh tế tự chủ của những người lao dộng
có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn , góp sức lập ra theo quy định
của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp
nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinhh doanh dịch vụ và cải
thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. HTX có tư cách
pháp nhân, có tổ chức chặt chẽ, hạch toán độc lập, tụ chịu trách nhiệm về các hoạt
động của mình và được đối xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác.
Thứ hai: Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX kiểu mới: Đảm bảo 5
nguyên tắc cơ bản: tự nguyện ra nhập và ra khỏi HTX theo quy định của điều lệ
HTX, quản lý dân chủ và bình đẳng, mỗi xã viên có quyền ngang nhau trong biểu
quyết, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi, chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của xã
viên với sự phát triển của HTX , của cộng đồng và do đại hội xã viên quyết định.
Thứ ba: Quan hệ sở hữu và phân phối trong HTX : Khi ra nhập HTX mỗi xã
viên buộc phải góp vốn theo quy định của điều lệ, vốn góp có thể nhiều hơn mức
tối thiểu, nhưng không được vượt quá 30% tổng số vốn điều lệ của HTX . Cùng với
vốn góp của xã viên, vốn hoạt động của HTX còn bao gồm vốn được tích luỹ trong
quá tình hoạt động và các nguồn khác như: Giá trị tài sản được cho biếu tặng
…Phần vốn góp của xã viên thuộc sở hữu của từng thành viên. Các nguồn vốn khác
thuộc sơ hữu chung cua HTX, quyền sử dụng toàn bộ tài sản thuộc về HTX. Sau
khi làm xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được phân phối như sau: Thanh toàn
các khoản bù lỗ trích lập các quỹ của HTX, chia lãi theo vốn góp và công sức đóng
góp của xã viên có tính đến mức độ sử dụng dịch vụ của HTX.

Thứ bẩy: HTX là một tổ chức kinh tế do các thành viên có nhu cầu tự nguyện
lập ra, nó không phải là một tổ chức xã hội. HTX hoạt động theo luật pháp quy
định trước hết vì mục tiêu kinh tế. HTX chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ xã hội
đối với các xã viên của chính HTX, không thể biến HTX thành tổ chức xã hội hoặc
bắt buộc HTX làm nhiệm vụ như một tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị
của địa phương.

7
Chính phủ thống nhất thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với HTX
trong phạm vi cả nước theo các nội dung sau: xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển HTX, ban hành điều lệ mẫu cho các loại hình
HTX, ban hành chính sách ưu đãi, hỗ trợ tạo điều kiện hoạt động cho HTX, liên
minh các HTX quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ ngành, các
cấp chính quyền, hội đồng nhân dân đối với HTX thực hiện chức năng thanh tra,
kiểm soát HTX theo quy định của pháp luật.

8
2.2.4.. Các loại hình HTX.
Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, để phân loại HTX, thường căn cứ
vào chức năng hoạt động, tính chất trình độ xã hội hoá, quy mô và đặc điểm hình
thành HTX :
* HTX dịch vụ: bao gồm ba loại: HTX dịch vụ từng khâu, HTX dịch vụ tổng
hợp đa chức năng và HTX dịch vụ đơn mục đích (HTX chuyên ngành).
+ HTX dịch vụ từng khâu (HTX dịch vụ chuyên khâu) có nội dung hoạt động
tập trung ở từng lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu công việc
trong quá trình sản xuất và phục vụ cho sản xuất.VD : HTX tín dụng, HTX mua
bán, HTX dịch vụ đầu vào, HTX dịch vụ đầu ra, HTX chuyên dịch vụ về tưới
tiêu…
+ HTX dịch vụ tổng hợp đa chức năng: Tuỳ thuộc đặc điểm, điều kiện, trình
độ sản xuất, và tập quán ở từng vùng mà nhu cầu của nông hộ đối với từng loại

thác, sản xuất vật liệu xây dựng, nuôi trồng thuỷ sản, nghề làm muối, đánh cá.
Ở các địa phương, mô hình HTX kiểu này thường gặp trên địa bàn thị trấn,
thị xã, các vùng ven sông, ven biển, những nơi phù hợp với nghề khai thác tài
nguyên và ở nhiều nơi khác thì có đủ các điều kiện cần thiết.
II. KINH TẾ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP
HTX nông nghiệp là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế HTX trong
nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu cầu và
nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ nhau phát triển kinh tế
hoặc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về đời sống của mỗi thành viên, tổ chức và hoạt
động theo các nguyên tắc luật pháp quy định, có tư cách pháp nhân.
Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp là một nhu cầu khách quan. Đó là con
đường phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân. Bởi lẽ, do đặc điểm của sản xuất
nông nghiệp, cây trồng vật nuôi đều là những cơ thể sống chịu ảnh hưởng trực tiếp
của ngoại cảnh như thời tiết thuỷ văn, khí hậu và các sinh vật khác. Cùng với các
điều kiện thuận lợi, sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn, trở ngại do tác
động của thời tiết, khí hậu và các yếu tố sâu bênh, thú dữ phá hoại.
Từ thời xa xưa các hộ nông dân đã có nhu cầu hợp tác với nhau để hỗ trợ,
giúp nhau vượt qua khó khăn, nâng cao hiệu quả sản xuất.

10
Khi nền sản xuất còn mang nặng tính tự cung tự cấp thì quá trình hợp tác
mang tính chất hợp tác lao động theo mùa vụ, đổi công, cùng làm giúp nhau nhằm
đáp ứng yêu cầu thời vụ hoặc tăng thêm sức mạnh để giải quyết những công việc
mà từng hộ gia đìng không có khả năng thực hiện hoặc làm riêng rẽ thì không có
hiệu quả cao. Quá trình hợp tác này còn mang đặc điểm tình cảm, tâm lý truyền
thống cộng đồng đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn trong sản xuất và
đời sống. Đặc điểm cơ bản của HTX kiểu này là hợp tác theo vụ việc hợp tác ngẫu
nhiên, không thường xuyên, chưa tính đến giá trị ngày công. Đây là các hình thức
hợp tác xuất hiện từ trước CNTB khi nền nông nghiệp hàng hoá phát triển, nhu cầu
dịch vụ cho quá trình tái sản xuất ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng dịch

tế hợp tác ở mỗi vùng.
Về tự nhiên: Các vùng nói trên phần lớn do địa hình hiểm trở, phức tạp lại
bị chia cắt bởi núi non, sông suối, đất đai, có độ dốc lớn, đất canh tác bị chia nhỏ,
ruộng bậc thang, đất trống, đồi trọc chiếm tỷ lệ cao.
Về xã hội: Dân cư đa dạng phân tán gồm nhiều dân tộc dẫn đến nhiều tập
quán phong tục khác nhau cũng ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng tổ chức kinh tế
hợp tác, HTX .
Trình độ kinh tế xã hội thấp so với các khu vực khác. Sản xuất còn mang
nặng tính tự cấp, tự túc. Sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu, mặc dù nó còn ở mức
thấp. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng một cách máy móc các mô hình
HTX của miền xuôi ở đây, không phù hợp kém hiệu quả.
2. Các nhân tố khác
Đó là sự trợ giúp đỡ, tạo điều kiện của đảng nhà nước và các tổ chức xã hội
như hội nông dân liên minh hợp HTX Việt Nam, hội liên minh phụ nữ, hội cựu
chiến binh …sự tác động của nhóm nhân tố này được thực hiện chủ yếu thông qua
hệ thống các chính sách vĩ mô và quá trình chỉ đạo thực hiện bộ máy Nhà nước từ
trung ương đến cơ sở. 12
PHẦN HAI
THỰC TRẠNG KINH TẾ HỢP TÁC XÃ TRONG NÔNG NGHIỆP
Ở NƯỚC TA

I. KINH TẾ HTX NÔNG NGHIỆP TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1954-1987)
Kể từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 phát triển mô hình kinh tế hợp tác
mà cụ thể là kinh tế HTX trong nông nghiệp được coi như một thử thách lớn cho

HTX theo mô hình tập thể hoá tới việc củng cố HTX về mọi mặt: cải tiến quản lý
HTX, mở rộng lĩnh vực hoạt động - chuyển sang hoạt động kinh doanh đa dạng
như sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) hoạt động tín dụng nông thôn sản
xuất tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp. Tuy nhiên phong trào hợp tác hoá đã bộc
lộ nhiều nhược điểm đó là sự không phù hợp của mô hình HTX bậc cao, quy mô
lớn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ cán bộ quản lý. Vì sao
lại xuất hiện những nhược điểm như vậy, phải chăng do Nhà nước ta đã áp dụng
một cách máy móc, dập khuôn mô hình kinh tế của Liên Xô mà hoàn cảnh đất nước
ta khi đó chưa đủ điều kiện để phù hợp với những mô hình đó.
Từ nguyên nhân cơ bản trên đã dẫn đến một thực trạng: nền kinh tế lâm vào
khủng hoảng nghiêm trọng trước hết là sản xuất nông nghiệp ngày càng sa sút.
Kinh tế hợp tác ngày càng biểu hiện tiêu cực như: mất dân chủ, tham ô, lãng
phí, phân phối không đều, không rõ ràng.
Thu nhập của xã viên HTX vốn đã thấp lại càng giảm: tốc độ tăng thu nhập
bình quân hàng năm là 13,6% thì tốc độ tăng chi phí là 15,1%. Giá trị tài sản cố
định của HTX thất thoát tới 35,4%, quỹ tích luỹ khấu hao tính khống lên là 40,7%.
Có HTX giá trị ngày công còn vài lạng thóc. Mức lương thực bình quân đầu người
giảm từ 17kg/người/tháng (1965) thì đến 1980 chỉ còn 10,4kg/người/tháng…
Nhìn rõ thực trạng trên nhiều xã viên HTX chán nản, ruộng đất bỏ hoang
hoá, số lượng người xin ra khỏi HTX ngày càng tăng, cuối năm 1973 toàn Miền
Bắc có 1098 HTX vỡ hoàn toàn, 27.036 hộ xã viên xin ra khỏi HTX. Hơn nữa sở
hữu trong HTX là sở hữu chung về tư liệu sản xuất nên việc bảo quản chăm sóc
cho các tư liệu sản xuất này ở nhiều HTX rất bê trễ. Vì vậy sản xuất không thu
được năng suất cao, không những thế nhiều khi cảnh lao động sản xuất tập thể tạo

14
điều kiện cho hủ hoá, thông đồng phe cánh gây ra nhiều ảnh hưởng xấu về đạo đức,
văn hoá, truyền thông dân tộc và ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của cộng
đồng dân cư.
Do sản xuất sút kém, đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn, nên Nhà nước

xã viên. Phải phát huy quyền lầm chủ của tập thể xẫ viên trong khoấn sản phẩm,
phải khuyến khích hon nữa lợi ích chính đáng của người lao động, làm cho mọi
người gắn bó với sản phẩm cuối cùng, nhiệt tình lao động sản xuất và xây dựng
củng cố HTX. Từ việc thực hiện chỉ thị 100 CT/TW đã mang lại sinh khí và làm
thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp : người nông dân được tạo động lực nên
chủ động hăng hái sản xuất. Nhưng sau một thời gian chỉ thị 100 CT/TW đã thể
hiện rất nhiều hạn chế: hoạt động quản lý yếu kém, phân phối bình quân bao cấp
cho nhiều đối tượng, hiện tượng rong công, phóng điểm, chi phí bất hợp lý… đã
đẫn đến tình trạng vi phạm lợi ích của người lao động, tỷ lệ vượt khoán ngày càng
giảm. Nguyên nhân chủ yếu là:
- Do sai lầm của mô hình HTX nông nghiệp- tập thể hoá và ngày càng bị
Nhà nước hoá. Nhà nước chỉ huy đến từng HTX nông nghiệp. Các nguyên tắc tự
nguyện, quản lý dân chủ cùng có lợi bị vi phạm. Hộ nông dân không được coi là
đơn vị kinh tế tự chủ điều này không phù hợp của đặc điểm của sản xuất nông
nghiệp dẫn đến tình trạng tách rời người lao động với tư liệu sản xuất với đối tượng
lao động là cây trồng và vật nuôi mà chúng cần có sự chăm sóc của người lao động.
Làm mất tính chủ động sáng tạo, tận dụng mọi khả năng cho mục tiêu sản xuất.
Đồng thời tạo lại tạo điều kiện phát huy tính ỷ lại chông trờ vào sự giúp đỡ của
Nhà nước.
- Những ảnh hưởng do hạn chế của cơ chế quản lý trong nội bộ HTX nông
nghiệp của quản lý trong nội bộ HTX nông nghiệp càng trầm trọng hơn dưới tác
động của cơ chế “tập trung quan liêu, bao cấp, bao trùm toàn bộ nền kinh tế . Nhận
thức không đầy đủ về đặc điểm, yêu cầu hoạt động của tổ chức kinh tế , lẫn lộn
giữa tổ chức kinh tế (HTX) với chức năng xã hội, nặng nề về chủ nghĩa hình thức,
chạy theo phong trào để báo cáo thành tích, không chú ý đúng mức đến chỉ tiêu
hiệu quả kinh tế thực sự”. Tư tưởng thành phân biệt giai cấp quá nặng nề đã dẫn
đến tình trạng phân biệt đối xử với cả tầng lớp trung nông trong việc kết nạp vào
HTX mà họ không được làm cán bộ quản lý. Đây chính là một hàn chế lớn không

16

17
- Những khó khăn vô cùng to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
và tất cả những hậu quả nặng nề của nó cũng là một tác nhân quan trọng ảnh hưởng
đến nền kinh tế nói chung, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nước ta.
Lực lượng lao động trẻ khoẻ ở nông thôn hầu như đã được huy động ra chiến
trường. Trình độ sản xuất thấp kém, mất cân đối, ruộng đất bình quân đầu người
thấp, công cụ lao động thô sơ, thiếu cả trâu bò, trình độ canh tác lạc hậu. Trong khi
đó máy móc nông nghiệp được Nhà nước cung cấp thông qua nhận viện trợ, nhập
khẩu không được tính toán kỹ dẫn đến lãng phí của cải vật chất, không những thế
hiện tượng này còn là nguyên nhân dẫn đến tình trạn phạm sai lầm của cán bộ
HTX.
- Đó là những hạn chế thuộc về cơ chế chính sách ở tầm vĩ mô: về vai trò
hiệu lực quản lý Nhà nước đối với kinh tế HTX.
II. KINH TẾ HTX SAU ĐỔI MỚI (1988-2003)
1. Kinh tế HTX nông nghiệp khi có Nghị quyết 10 Bộ Chính trị
Không phải ngẫu nhiên mà từ những ngày đầu của phong trào hợp tác hoá
nông nghiệp các cuộc vận động cải tiến quản lý HTX cũng đồng thời tiến hành.
Mặc dù vậy cải tiến quản lý vẫn không khắc phục được khuyết tật của mô hình cũ,
nông nghiệp Việt Nam vẫn đang trong trạng thái trì trệ. Từ thực tiễn của phong trào
khoán hộ tự phát ở các địa phương được nhìn nhận một cách nghiêm túc thực tế
hơn chỉ thị 100 CT/TW của Ban bí thư về khoán sản phẩm trong nông nghiệp ra
đời nhằm cứu nền nông nghiệp Việt Nam trở thành bước công phá chính thức đầu
tiên vào mô hình HTX nông nghiệp kiểu cũ. Một mảng (3/8 khâu trong hệ thống
sản xuất nông nghiệp) của HTX nông nghiệp bị phá vỡ, chuyển về trực tiếp cho các
hộ xã viên. Đến đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI với đường lối đổi mới kinh tế do
Đảng khởi xướng đã tạo ra sự biển đổi sâu sắc trong sự phát triển kinh tế đất nước.
Trước bối cảnh đó Nghị quyết 10 của Bộ chính trị ngày 05-04-1988 tiếp tục là bước
công phá thứ 2 vào mô hình HTX kiểu cũ. HTX kiểu cũ không còn cơ sở tồn tại xét
cả vè tính tất yếu kinh tế và địa vị pháp lý. Tuy vậy trong một thời gian sau đó việc
ra đời HTX kiểu mới không dễ dàng. Nghị quyết Hội nghị TW5 (khoá 6 năm 1993,

Ban chấp hành TW khoá VI (tháng 3 năm 1989) đã đề ra nhiều chủ trương, chính
sách thực hiện công cuộc đổi mới, trong đó đã đề cập đến những quan diểm,
phương hướng tiếp tục đổi mới HTX, tập đoàn sản xuất với các nội dung chủ yếu:

Trích đoạn NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HTX NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status