II. Tác động của con người lên
các thành phần môi trường
1. Tác động của
Con ngêi – BiÓn vµ §D
A- Tầm quan trọng của biển
•
Biển và đại dương chiếm 71% diện tích hành tinh
với độ sâu trung bình 3.710m và tổng khối nước
1,37 tỷ km3.
•
Tài nguyên biển và đại dương rất đa dạng được
chia ra thành các loại:
- Nguồn lợi hoá chất và khoáng chất chứa trong khối nước
và đáy biển
- Nguồn lợi nhiên liệu hoá thạch, chủ yếu là dầu và khí tự
nhiên
- Nguồn năng lượng "sạch" khai thác từ gió, nhiệt độ
nước biển, các dòng hải lưu và thuỷ triều.
•
Mặt biển và vùng thềm lục địa là đường giao
thông thuỷ, biển là nơi chứa đựng tiềm năng cho
phát triển du lịch, tham quan, nghỉ ngơi, giải trí,
nguồn lợi sinh vật biển.
•
Sinh vật biển là nguồn lợi quan
trọng nhất của con người:
–
200.000 loài động thực vật.
–
Sản lượng sinh học : Thực vật nổi
550 tỷ tấn, thực vật đáy 0,2 tỷ tấn,
Các ngư trường khai thác thủy sản chủ yếu trên thế giới là Biển Bắc, Đông
Bắc Đại Tây Dương, Tây Bắc Đại Tây Dương, Trung tâm Tây Đại Tây
Dương, Tây Nam Đại Tây Dương, Bắc Địa Trung Hải, Đông ấn Độ Dương,
Tây Bắc Thái Bình Dương, Đông và Đông Bắc Thái Bình Dương và Tây
Nam Thái Bình Dương (xem bản đồ các ngư trường chính và sản lượng
khai thác và nuôi trồng thuỷ sản).
- Sản lượng khai thác thuỷ sản từ nửa sau thế kỉ XX cho đến nay ngày càng
tăng nhanh.
Các nước có sản lượng đánh bắt thuỷ sản lớn nhất thế giới là Trung Quốc
(gần 18 triệu tấn), Pêru (gần 8 triệu tấn), Hoa Kỳ (5 triệu tấn), Nhật Bản (4,8
triệu tấn), Inđônêxia (4,3 triệu tấn), Chi Lê (4 triệu tấn), ấn Độ (3,9 triệu
tấn), LB Nga (3,7 triệu tấn), Thái Lan (2,9 triệu tấn) và Nauy (2,8 triệu tấn).
"Biển và đại dương là niềm hy vọng
của loài người trong tương lai".
•
Hàng năm, biển và đại dương có thể cung cấp 135 tỷ
tấn chất hữu cơ (gấp 1000 lần sản phẩm NN toàn cầu
nếu chỗ nào cũng canh tác),
•
Đại dương thế giới đang chứa đựng khoảng 3-4 trăm
tỷ tấn hydrrocacbon,
•
trữ lượng chung của tất cả các nguyên tố hoà tan
trong nước biển và đại dương là 50 triệu tỷ tấn.
•
Lượng vật chất khổng lồ này không được khai thác
hết, chúng sẽ bị chôn vùi dưới các điều kiện khác
nhau và tạo nên các loại khoáng sản mà con người sẽ
khai thác trong tương lai.
•
Nước biển là hoá phẩm tổng hợp.
* Dầu mỏ và khí đốt:
•
Tổng diện tích các vùng có khả năng về dầu khí là khoảng
50.10
6
km2 (so với trên lục địa là 30.106km2),
•
trữ lượng khoảng 150 tỷ tấn (chiếm 45%) trữ lượng của cả TG
•
dầu khí bắt đầu được khai thác mạnh từ năm 1960 - nay.
•
Dầu khí được khai thác chủ yếu từ độ sâu 200m của mực nước
biển trở vào, khả năng hiện nay ở độ sâu 4000m
•
số lượng các mỏ dầu ở vùng đáy biển chiếm tới 77% tổng số
các mỏ dầu trên toàn TG.
•
Dầu khí phân bố không đều trên TG, trữ lượng dầu khí tập
trung ở vùng Trung Đông (4.10
9
tấn), ở Vịnh Mexico (2.10
9
tấn).
•
Nhờ việc khai thác dầu khí mà nhiều quốc gia đã trở nên phồn
thịnh như NaUy, Anh, ả Rập, Mexico, Mỹ, Nhưng nhiều
quốc gia có trữ lượng dầu khí lớn cũng lâm vào cảnh bi
thương của các cuộc chiến tranh tàn khốc
Dầu khí ở nước ta:
đá gốc lộ ra dưới đáy biển Thái Bình Dương còn phát hiện ra các loại
quặng giàu Coban, Mn, Zn, Platin và Molypden. Dưới đáy đại dương còn
có các loại kim loại đa kim nguồn gốc nhiệt dịch, chúng là thành phần của
lớp Manti thâm nhập vào vỏ trái đất theo cơ chế đối lưu nhiệt, thành phần
của chúng gồm Au, Ag, Cu, Zn, Pb, Sn
* Kết hạch Sắt và Mangan:
* Bùn khoáng
* Photphorit:
* Các loại sa khoáng
* Vật liệu xây dựng
Năng lượng của biển và đại dương.
a. Năng lượng tạo ra từ sự chênh lệch nhiệt và độ mặn: Nhiệt độ của lớp nước mặt
và lớp nước dưới sâu của các vùng biển nhiệt đới và á nhiệt đới chênh nhau tới 20 -
25oC, tiềm năng có thể tới 5 tỷ KW. Hiện nay Nhật Bản, Mỹ và Tahiti đã sử dụng
nguồn NL này. Tiềm năng khai thác NL loại này ở nước ta khoảng 0,15 tỷ kW.
Độ mặn ở bờ biển chết lên đén 25%, người ta lợi dụng sự chênh lệch độ mặn giữa
nước của biển Chết và Địa Trung Hải để chạy máy phát điện, phương pháp này
mới bắt đầu được thử nghiệp, tiềm năng ước tính cỡ 2,6 tỷ kW.
b. Năng lượng thuỷ triều: Tiềm năng của loại NL này được đánh giá là khoảng 1.240
tỷ kW/ năm, về mặt lý thuýêt, nó có thể cung cấp 20% sản lượng NL toàn cầu hiện
nay.
c. Năng lượng sóng: Sóng biển chứa đựng nguồn NL vô cùng to lớn, hơn 100 năm
trước đây, sóng biển đã được dùng để tạo thành điện. Theo đánh giá hiện nay, tổng
NL sóng biển là 2,7.1012kW. Người Nhật đi tiên phong trong việc sử dụng NL
sóng biển tạo thành điện, nhưng NaUy là nước đầu tiên lắp đặt máy phát điện nhờ
sóng biển có quy mô lớn với công suất 500kW.
d. Năng lượng dòng chảy đại dương: TG có 2 dòng hải lưu cực lớn với 2 chiều nóng -
lạnh ngược nhau, đó là dòng Gulf Stream và Kurôshio, riêng dòng Kuroshio đã có
lưu lượng lớn gấp 20 lần tổng lưu lượng các dòng sông trên TG. Theo tính toán thì
tổng tiềm năng của các hải lưu là 5 tỷ kW,
B – Con người tác động lên biển
B – Con người tác động lên biển
•
Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các
dòng chảy sông suối, các chất thải từ các hoạt động của con
ngưười trên biển nhưư khai thác khoáng sản, giao thông vận
tải biển.
•
Trong nhiều năm, biển sâu còn là nơi đổ các chất thải độc hại
như chất thải phóng xạ của nhiều quốc gia trên thế giới. Các
biểu hiện của sự ô nhiễm biển khá đa dạng, có thể chia ra
thành một số dạng như sau:
–
Gia tăng nồng độ của các chất ô nhiễm trong nước biển như dầu, kim
loại nặng, các hoá chất độc hại.
–
Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích biển
–
Suy thoái các hệ sinh thái biển như hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái
rừng ngập mặn, cỏ biển,
–
Suy giảm trữ lượng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh
học biển.
–
Xuất hiện các hiện tượng như thuỷ triều đỏ, tích tụ các chất ô nhiễm
trong các thực phẩm lấy từ biển.
•
Hàng năm, các chất thải rắn đổ ra biển trên thế giới khoảng 50
triệu tấn gồm đất, cát, rác thải, phế liệu xây dựng, chất phóng
đưược hải quân Mỹ đổ ra biển.
–
Trong thập kỷ 70, ở vùng biển Đại Tây Dưương và biển
Bắc đã có hàng chục vạn chim biển và vô số cá biển chết vì
ô nhiễm dầu. Con rùa biển lớn nhất thế giới nặng hơn 900
kg tìm thấy ở bờ biển xứ Gan bị tắc ruột chết vì một chiếc
túi nilon khổ 15 x 22cm.
•
Hoạt động vận tải trên biển là một trong các nguyên nhân quan
trọng gây ô nhiễm biển. Rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu của các tàu
thuyền trên biển thường chiếm 50% nguồn ô nhiễm dầu trên
biển.
•
Các tai nạn đắm tàu thuyền đổ vào biển nhiều hàng hoá,
phương tiện và hoá chất độc hại. Các khu vực biển gần với
đường giao thông trên biển hoặc các cảng là nơi nước biển có
nguy cơ dễ bị ô nhiễm.
•
Ô nhiễm không khí có tác động mạnh mẽ tới ô nhiễm biển.
Nồng độ CO2 cao trong không khí sẽ làm cho lưượng CO2
hoà tan trong nước biển tăng. Nhiều chất độc hại và bụi kim
loại nặng được không khí mang ra biển.
•
Sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất do hiệu ứng nhà
kính sẽ kéo theo sự dâng cao mực nưước biển và thay đổi môi
trường sinh thái biển.
•
Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo trên, biển có thể bị ô
nhiễm bởi các quá trình tự nhiên nhưư núi lửa phun, tai biến
bão lụt, sự cố rò rỉ dầu tự nhiên,
dầu khoảng 35 - 160 tấn/ngày,
–
nitơ tổng số 26 - 52 tấn/ngày và
–
tổng amôni 15 - 30 tấn/ngày.
Hàng năm trên 100 con sông cần cù tải ra biển khoảng
–
880 km3 nước,
–
270 - 300 triệu tấn phù sa,
–
nhiều chất có thể gây ô nhiễm biển như các chất hữu cơ, dinh
dưỡng, kim loại nặng và nhiều chất độc hại khác
Nguồn: Báo cáo Hiện trạng Môi trường Việt Nam 2003 và Phạm Văn Ninh
* Chỉ tính riêng cho nguồn thải công nghiệp
** Chỉ tính cho khu vực Đà Nẵng và sông Hàn
•
Theo Nguyễn Đình Tuấn (1999), từ Vùng Kinh tế trọng điểm ven
biển phía Nam đã thải vào các sông một lượng
–
nước thải sinh hoạt là 113.216m3/ngày và
–
nước thải công nghiệp - 312.330m3/ngày.
•
Sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ đã bị ô nhiễm và axít hóa nặng với
–
giá trị tương ứng pH = 4,4 - 5,0 và 3,8 - 4,0 do rửa trôi phèn từ
các lưu vực của các sông rạch và chất thải gây nên.
•
•
Công ước Marpol 73/78 chống ô nhiễm biển,
•
Công ước quốc tế 1990 về việc sẵn sàng đối
phó và hợp tác quốc tế chống ô nhiễm dầu đã
thể hiện sự quan tâm của quốc tế đối với vấn
đề ô nhiễm biển.