Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Môi giới chứng khoán là một trong những nghiệp vụ cơ bản và quan trọng bậc
nhất của một công ty chứng khoán. nó góp phần không nhỏ trong quá trình hình
thành và phát triển của thị trờng chứng khoán nói chung và công ty chứng
khoán nói riêng. Môi giới chứng khoán đem lại lợi ích không chỉ cho khách
hàng, cho nhà môi giới, cho công ty chứng khoán mà nó còn đem lại lợi ích cho
sự phát triển của thị trờng chứng khoán.
Thị trờng chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động đợc hơn 8 năm, cho đến
nay, các công ty chứng khoán đều đợc thực hiện nghiệp vụ này và đã thu đợc
những kết quả nhất định; tuy nhiên còn nhiều tồn tại và hạn chế cần đợc khắc
phục. Thực trạng này bắt nguồn không chỉ từ bản thân các công ty chứng khoán
mà còn do sự hạn chế của thị trờng chứng khoán Việt Nam cũng nh những bất
cập trong các văn bản pháp quy. Những vấn đề này làm cho nghiệp vụ môi giới
chứng khoán tại các công ty chứng khoán nói chung và Công ty TNHH Chứng
khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cha đạt hiệu
quả cao. Đó chính là lý do em chọn đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động môi giới chứng khoán tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam để làm chuyên đề
tốt nghiệp
2. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung và nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn hiệu quả hoạt
động của nghiệp vụ môi giới chứng khoán tại các CTCK trên Thị trờng chứng
khoán Việt Nam nói chung và Công ty TNHH Chứng khoán NHNo&PTNTVN
trong thời gian qua, từ đó đa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của
nghiệp vụ này tại Công ty TNHH Chứng khoán NHNo&PTNTVN.
3. Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài này đợc nghiên cứu dựa trên cơ sỏ sử dụng kết hợp các phơng pháp duy
vật biện chứng khoán , duy vật lịch sử, phơng pháp so sánh và phơng pháp phân
chứng khoán đợc giao dịch là chứng khoán thực và hợp pháp, đảm bảo lợi ích
Lê Thị Thùy Linh Lớp CKA_K7
2
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
của nhà đầu t, từ đó giúp thị trờng hoạt động lành mạnh, đều đặn, công bằng và
hiệu quả.
Cùng với sự phát triển của thị trờng chứng khoá, chức năng và quy mô
hoạt động giao dịch của các nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự ra đời của các
công ty chứng khoán là sự tập hợp có tổ chức của các nhà môi giới riêng lẻ.
Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các
nghiệp vụ trên thị trờng chứng khoán. Sự phát triển của công ty chứng khoán
gắn chặt với sự phát triển của thị trờng chứng khoán. Nhiều nền kinh tế coi công
ty chứng khoán là hạt nhân của ngành công nghiệp chứng khoán, thúc đẩy sự
phát triển của hệ thống tài chính quốc gia.
1.1.2 Phân loại công ty chứng khoán:
Theo loại hình tổ chức
Hiện nay có 3 loại hình tổ chức cơ bản của công ty chứng khoán đó là
công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần
Công ty hợp danh
oLà loại hình kinh doanh 2 chủ trở lên
oThành viên tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý đợc gọi là
thành viên hợp danh. Các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ
tài chính của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình. Ngợc lại, các thành viên
không tham gia điều hành công ty đợc gọi là thành viên góp vốn, họ chỉ chịu
trách nhiệm về những khoản nợ của công ty trong giới hạn góp vốn của họ vào
công ty.
oThông thờng khả năng huy động vốn của công ty hợp danh bị giới hạn
trong số vốn mà các thành viên có thể đóng góp.
o Công ty hợp danh có t cách pháp nhân kể từ ngày đợc cấp Giấy chứng
thành 6 loại sau:
Công ty môi giới (The member firm): Loại công ty này còn đợc gọi là
công ty thành viên vì nó là một thành viên của Sở giao dịch chứng khoán.
Công việc kinh doanh chủ yếu của công ty môi giới là mua và bán chứng
khoán cho khách hàng của họ trên Sở giao dịch chứng khoán mà công ty đó
là thành viên.
Công ty đầu t ngân hàng (The Investment banking firm): Loại hình này
phân phối mới đợc phát hành cho công chúng qua việc mua chứng khoán do
công ty cổ phần phát hành và bán lại cho công chúng theo giá tính gộp cả lợi
nhuận của công ty. Vì vậy công ty này còn gọi là bảo lãnh phát hành.
Công ty giao dịch phi tập trung (The over the counter firm): Công ty này
mua bán chứng khoán tại thị trờng OTC. Hiện nay nhiều công ty có vốn lớn
đợc luật pháp cho phép hoạt động trên cả 3 lĩnh vực trên.
Công ty dịch vụ đa năng (Muliservices firm): Những công ty này không
bị giới hạn hoạt động ở một lĩnh vực nào của ngành công nghiệp chứng
khoán. Ngoài 3 dịch vụ trên, họ còn cung cấp cho khách hàng dịch vụ t vấn
đầu t chứng khoán, niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán, uỷ
nhiệm các giao dịch buôn bán cho khách hàng trên thị trờng OTC. Sự kết hợp
giữa các sản phẩm và kinh nghiệm của công ty sẽ quyết định cơ sở những
dịch vụ mà họ có thể cung cấp cho khách hàng.
Công ty buôn bán chứng khoán: Là công ty đứng ra mua bán chứng
khoán với chi phí do công ty tự chịu. Công ty này phải cố gắng bán chứng
khoán với giá cao hơn giá mua vào. Vì vậy, loại công ty này hoạt động với t
cách là ngời uỷ thác chứ không phải đại lý nhận uỷ thác.
Công ty buôn bán chứng khoán không nhận hoa hồng: Là công ty này
nhận chênh lệch giá qua việc mua bán chứng khoán, do đó họ còn đợc gọi là
nhà tạo lập thị trờng, nhất là trên thị trờng giao dịch OTC.
Các công ty chứng khoán là đối tợng quản lý của các nguyên tắc, quy chế
do Uỷ ban chứng khoán ban hành. Các quy chế này chi phối kinh doanh của các
công ty này, kiểm soát họ trong quan hệ giữa các công ty chứng khoán với nhau
tăng chi phí cho ngời mua và ngời bán. Tuy nhiên, đối với thị trờng chứng
khoán, sự biến động thờng xuyên của giá chứng khoán cũng nh mức độ rủi ro
cao sẽ làm cho nhà đầu t tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông
tin trớc khi quyết định đầu t. Nhng thông qua các công ty chứng khoán, với
trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu t thực hiện
các khoản đầu t một cách hiệu quả.
Đối với thị trờng chứng khoán : công ty chứng khoán có 2 vai trò chính:
_ Thứ nhất, góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trờng. Giá cả chứng khoán là
do thị trờng quyết định. Tuy nhiên, để đa ra mức giá cuối cùng, ngời mua và ng-
ời bán phải thông qua các công ty chứng khoán vì họ không đợc tham gia trực
tiếp vào quá trình mua bán. Các công ty chứng khoán là những thành viên của
thị trờng, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trờng thông qua hình thức
đấu giá. Trên thị trờng sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà phát
hành đa ra mức giá đầu tiên. Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán
giao dịch đều có sự tham gia của các công ty chứng khoán.
Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò to lớn hơn khi tham gia điều
tiết thị trờng. Để bảo vệ những khoản đầu t của khách hàng và bảo vệ lợi ích của
Lê Thị Thùy Linh Lớp CKA_K7
5
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
chính mình, nhiều công ty đã giành những tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực
hiện vai trò bình ổn thị trờng.
_ Thứ hai, góp phần làm tăng tính thanh khoản của tài sản chính. Thị trờng
chứng khoán có vai trò là một môi trờng làm tăng tính thanh khoản của các tài
sản tài chính. Nhng các công ty chứng khoán mới là ngời thực hiện tốt vai trò
này vì công ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trờng. Trên thị trờng
sơ cấp, do thực hiện hoạt động nh bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán
không những huy động một lợng vốn lớn đa vào sản xuất kinh doanh cho nhà
phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản chính đợc đầu t vì
Giao dịch tự doanh là các giao dịch bằng chinh nguồn vốn kinh doanh của
công ty chứng khoán nhằm phục vụ mục đích đầu t kinh doanh thu lợi của
chính công ty và gánh chịu mọi rủi ro từ việc đầu t của mình. Hoạt động tự
doanh của công ty chứng khoán đợc thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên
Lê Thị Thùy Linh Lớp CKA_K7
6
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trờng OTC. Trên thị trờng giao dịch tập
trung, lệnh giao dịch của các công ty chứng khoán đợc đa vào hệ thống và thực
hiện tơng tự nh lệnh giao dịch của khách hàng. Trên thị trờng OTC, các hoạt
động này có thể đợc thực hiện trực tiếp giữa công ty với các đối tác hoặc thông
qua một hệ thống mạng thông tin. Tại một số nớc, hoạt động tự doanh của các
công ty chứng khoán còn đợc thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trờng
(Ví dụ nh ở Mỹ). Trong hoạt động này, công ty chứng khoán đóng vai nhà tạo
lập thị trờng, nắm giữ một số lợng nhất định của một số loại chứng khoán và
thực hiện mua bán với các khách hàng nhằm hởng phí giao dịch và chênh lệch
giá.
Khác với nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán chỉ làm trung gian thực
hiện lệnh cho khách hàng để hởng hoa hồng , trong hoạt động tự doanh công ty
chứng khoán kinh doanh bằng chính nguồn vốn của mình.
Vì vậy, đòi hỏi công ty chứng khoán phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ
nhân viên có trình độ chuyên môn, khả năng phân tích và đa ra các quyết định
đầu t hợp lý, đặc biệt trong trờng hợp đóng vai trò là nhà tạo lập thị trờng.
Đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết
với tổ chức bảo lãnh thực hiện các thủ tục trớc khi chào bán chứng khoán, nhận
mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc
mua số chứng khoán còn lại cha phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ
trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng. Bảo
Tín dụng (giao dịch mua bán chịu): T vấn đầu t và t vấn tài chính
1.2. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
1.2.1 Khái niệm
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng, quy trình trao đổi hàng
hoá diễn ra với quy mô ngày càng lớn, với chủng loại hàng hoá ngày càng
phong phú, phơng thức trao đổi hàng hoá ngày càng đa dạng. Đỉnh cao của nền
kinh tế thị trờng là sự ra đời và phát triển của thị trờng chứng khoán. Nh ta đã
biết, trên thị trờng chứng khoán, ngời ta mua bán một loại hàng hoá đặc biệt, đó
là các tài sản tài chính.
Tài sản tài chính là những hàng hoá đem lại thu nhập thờng xuyên cho
ngời sở hữu, mặt khác nó cũng có thể tích luỹ giá trị, khi cần ngời sở hữu có thể
bán đi để kiếm lời. Nhng không phải ai cũng có thể nhìn nhận đánh giá đợc giá
trị của nó nên cần phải có các chuyên gia đợc trang bị kiến thức, hơn nữa kiến
thức của họ phải đợc thờng xuyên trau dồi, bồi dỡng. Đó là các nhà t vấn.
Hàng hoá trên thị trờng chứng khoán hết sức phong phú, phức tạp.Thị tr-
ờng càng phát triển ở trình độ cao, sản phẩm và dịch vụ càng dồi dào về số lợng,
đa dạng, phong phú về chủng loại, tinh tế và nhạy cảm trong vận hành chức
năng. Theo đó, đòi hỏi về việc cung cấp cho ngời đầu t những thông tin cần
thiết, những ý tởng đầu t, những lời khuyên mang tính thời điểm hay mang tính
chiến lợc và giúp cho ngời đầu t thực hiện các giao dịch theo cách có lợi nhất,
đòi hỏi phải có hoạt động môi giới chứng khoán phát triển mang tính chuyên
nghiệp cao, hay nói cách khác, trở thành một nghề.
Một trong những nguyên tắc căn bản vận hành thị trờng chứng khoán là
nguyên tắc trung gian, thể hiện rõ nét nhất với vai trò và hoạt động của các nhà
môi giới và kinh doanh chứng khoán.
Thị trờng chứng khoán hoạt động hiệu quả một phần là nhờ vào sự thủ
vai tốt của các nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán. Dù hoạt động ở thị tr-
ờng nào thì những nhà chuyên nghiệp đợc chọn lọc này cũng phải có đăng ký
và đợc cấp giấy phép hành nghề. Hầu hết các công ty chứng khoán đều có hoạt
động môi giới chứng khoán. Tuy nhiên trong giao dịch, để đảm bảo tính trung
Góp phần làm giảm chi phí giao dịch:
Trên tất cả các thị trờng khác, để tiến hành giao dịch, ngời mua và ngời bán
phải có cơ hội gặp nhau để thẩm định chất lợng hàng hoá và thoả thuận giá cả.
Và để làm đợc công việc này thì những ngời tham gia giao dịch phải bỏ ra một
khoản phí nhất định tuỳ vào điều kiện thực tế. Tuy nhiên trên thị trờng chứng
khoán thì khoản chi phí đó là một con số khổng lồ về thu thập và xử lý thông
tin, đào tạo kỹ năng phân tích và tiến hành quy trình giao dịch trên một thị tr-
ờng đấu giá tập trung nhng hiệu quả của giao dịch là không chắc chắn và rủi ro
cao. Sự hiện diện của trung gian tài chính và chuyên nghiệp cho bên mua, bên
bán gặp nhau sẽ làm giảm đáng kể chi phí. Nh vậy, vai trò môi giới chứng
khoán tiết kiệm chi phí giao dịch xét trong từng khâu và trên tổng thể thị trờng,
giúp nâng cao tính thanh khoản cho thị trờng.
Cung cấp thông tin và t vấn cho khách hàng:
Công ty chứng khoán thông qua các nhân viên môi giới cung cấp cho
khách hàng các báo cáo nghiên cứu và những khuyến nghị đầu t. Nguồn quan
trọng của các báo cáo nghiên cứu này là từ bộ phận nghiên cứu trong công ty.
Việc thu thập và xử lý thông tin đòi hỏi những khoản đầu t khổng lồ cho hệ
thống thết bị và nhân lực mà chỉ có công ty mới đủ khả năng tài chính để trang
trải Các công ty lớn của NewYork hàng năm dành tới hơn 30triệu USD cho
hoạt động nghiên cứu đầu t và các trợ lý nghiên cứu để bám sát hoạt động của
hàng trăm công ty đại chúng.
Việc nghiên cứu của các nhà phân tích có thể phân chia thành ba lĩnh vực chủ
yếu:
Lê Thị Thùy Linh Lớp CKA_K7
9
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
_ Diễn biến tổng thể của thị trờng;
_ Động thái của từng khu vực riêng biệt trong thị trờng đó;
_ Hoạt động của từng công ty trong từng khu vực.
Để giúp khách hàng đa ra những quyết định, nhà môi giới phải tiến hành
xem xét các yếu tố nh: chỉ số giá/thu nhập (P/E), những hình mẫu về tình hình
thu nhập và giá, tình trạng chung về nhóm ngành, cổ phiếu và tình trạng có đợc,
có thể nói những khuyến nghị của nhà môi giới là lợi ích vô cùng đáng giá đối
với khách hàng.
Từ vô số các biểu đồ, báo cáo tài chính và dữ liệu nghiên cứu, nhà môi
giới phải quyết định những khoản đầu t nào là phù hợp nhất cho từng khách
hàng của mình. Nhà môi giới là ngời có khả năng biến các thông tin thành các
khuyến nghị đầu t đúng đắn cụ thể cho từng mục tiêu đầu t riêng lẻ của mỗi
khách hàng của mình.
Lê Thị Thùy Linh Lớp CKA_K7
10
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
Không chỉ đa ra những lời khuyên về cách thức phân bổ tài sản để đáp ứng
những mục tiêu tài chính của khách hàng, tuỳ từng lúc, ngời môi giới có thể trở
thành ngời bạn tin cậy, nhà tâm lý lắng nghe những câu hỏi liên quan đến tình
trạng tài chính của khách hàng. Đối với khách hàng, ngoài nhu cầu đợc t vấn tài
chính, những nhu cầu về tâm lý liên quan đến vấn đề tài chính cũng quan trọng
không kém, đôi khi họ gọi điện cho nhà môi giới chỉ để chia sẻ, giải toả những
căng thẳng về tâm lý.
Cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tài chính, giúp khách hàng thực
hiện những giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích của họ:
Nhà môi giới nhận lệnh từ khách hàng và thực hiện giao dịch cho họ. Quá
trình này bao gồm hàng loạt công việc: nhận lệnh của khách hàng, thực hiện
lệnh giao dịch, xác định giao dịch và chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng.
Không chỉ có vậy, sau khi giao dịch đợc hoàn tất, nhà môi giới phải tiếp tục
chăm sóc tài khoản của khách hàng, đa ra những khuyến cáo và cung cấp thông
tin, theo dõi để nắm bắt những thay đổi liên quan đến khách hàng mà có thể dẫn
đến thay đổi tình trạng tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng, để
dạng hoá sản phẩm, dịch vụ, nhờ đó đa dạng hoá khách hàng thu hút ngày càng
nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu t phát triển.
Trong những thị trờng mới nổi, hàng hoá và dịch vụ còn ít về số lợng và
kém về chất lợng, nếu đợc tổ chức phát triển tốt, môi giới chứng khoán sẽ góp
phần cải thiện môi trờng này.
Cải thiện môi trờng kinh doanh:
Góp phần hình thành nên văn hoá đầu t: Trong những nền kinh tế mà môi
giới đầu t còn thô sơ thì ngời dân cha có thói quen sử dụng số tiền nhàn rỗi của
mình để đầu t vào các tài sản tài chính để kiếm lời trong khi đó thì nguồn vốn
cần cho tăng trởng kinh tế lại thiếu trầm trọng. Để thu hút công chúng đầu t,
nhà môi giới tiếp cận với khách hàng tiềm năng và đáp ứng nhu cầu của họ
bằng các tài sản chính phù hợp, cung cấp cho họ những kiến thức, thông tin cập
nhật để thuyết phục khách hàng mở tài khoản. Khi đó ngời có tiền nhàn rỗi sẽ
thấy đợc lợi ích từ sản phẩm đem lại, họ sẽ đầu t. Hoạt động của môi giới chứng
khoán đã thâm nhập sâu rộng vào cộng đồng các doanh nghiệp và nhà đầu t sẽ
là một yếu tố quan trọng góp phần hình thành nên văn hoá đầu t: 1) ý thức và
thói quen đầu t trong cộng đồng vào các tài sản tài chính; 2) thói quen và kỹ
năng sử dụng các dịch vụ đầu t, phổ biến là dịch vụ môi giới chứng khoán; 3)
môi trờng pháp lý, sự hiểu biết và tuân thủ luật pháp.
Tăng chất lợng và hiệu quả dịch vụ nhờ cạnh tranh: Để thành công trong
nghề môi giới chứng khoán, điều quan trọng là nhà môi giới chứng khoán phải
thu hút đợc ngày càng nhiều khách hàng tìm đến, giữ chân khách hàng đã có và
không ngừng gia tăng khối lợng tài sản mà khách hàng uỷ thác cho mình. Từ
đó có sự cạnh tranh giữa các nhà môi giới khiến họ không ngừng trau dồi
nghiệp vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng hành nghề, nghiêm chỉnh
chấp hành quy định của pháp luật và công ty. Quá trình này đã nâng cao đợc
chất lợng và hiệu quả của hoạt động môi giới chứng khoán xét trên toàn cục.
Đồng thời cũng do áp lực cạnh tranh nên các công ty không ngừng đa ra các sản
phẩm dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.
Hình thành nên những dịch vụ mới trong nền kinh tế, tạo thêm việc làm và
thông tin theo luật pháp quy định và các thông tin khác tuỳ vào yêu cầu của
công ty chứng khoán. Bộ phận quản lý tài khoản khách hàng của công ty phải
kiểm tra tính chính xác của thông tin, đồng thời trong quá trình hoạt động của
tài khoản những thay đổi thông tin cũng cần đợc cập nhật. Tài khoản giao dịch
hiện nay có thể chia thành nhiều loại khác nhau nh:
Tài khoản tiền mặt là loại tài khoản thông dụng nhất, giống nh tài khoản
tiền gửi thanh toán của các ngân hàng thơng mại. Khách hàng có thể mua hoặc
bán bất kỳ loại chứng khoán nào qua tài khoản này. Tuy vậy, tài khoản này yêu
cầu khách hàng phải trả đủ tiền trớc khi nhận đợc chứng khoán.
Tài khoản ký quỹ hay tài khoản bảo chứng là loại tài khoản dùng để giao
dịch mua và bán chứng khoán có ký quỹ. Theo đó, để mua chứng khoán, khách
hàng chỉ cần ký quỹ một tỷ lệ % tiền trên giá trị chứng khoán muốn mua, số
còn lại khách hàng có thể vay của ngân hàng. Ngợc lại, khách hàng có thể mua
đợc số chứng khoán có giá trị lớn hơn nhiều lần so với số tiền ký quỹ.
Sau khi mở tài khoản, công ty chứng khoán sẽ cung cấp cho khách hàng
một mã số tài khoản và mã truy cập vào tài khoản để kiểm tra khi cần thiết.
Bớc 2: Nhận lệnh của khách hàng:
Mỗi lần giao dịch, khách hàng phải phát lệnh theo mẫu in sẵn. Lệnh giao
dịch phải bao gồm đầy đủ các nội dung quy định do khách hàng điền. Đó là
những điều kiện đảm bảo an toàn cho công ty chứng khoán cũng nh tạo điều
kiện cho khách hàng yên tâm khi phát lệnh. Việc phát lệnh có thể theo hình
thức trực tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại, telex, fax hay hệ thống máy tính
điện tử Tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của thị tr ờng.
Mẫu lệnh phải bao gồm các thông tin sau đây:
1) Lệnh mua hay lệnh bán: thông thờng thì từ mua hay bán không đợc
viết ra mà ngời ta thờng sử dụng các chữ cái B và S để thể hiện. Hầu hết các
thị trờng chứng khoán sử dụng lệnh mua và bán đợc in sẵn. mẫu lệnh này đợc in
bằng hai màu mực trên hai màu giấy khác nhau để dễ phân biệt.
Lê Thị Thùy Linh Lớp CKA_K7
13
với khách hàng.
Bớc 5: Thanh toán bù trừ giao dịch:
Việc thanh toán bù trừ trong giao dịch chứng khoán sẽ đợc thực hiện thông
qua hệ thống tài khoản của các công ty chứng khoán tại ngân hàng. Đối với
việcc đối chiếu bù trừ về chứng khoán do trung tâm lu ký chứng khoán thực
hiện thông qua hệ thống tài khoản lu ký chứng khoán.
Việc bù trừ các kết quả giao dịch sẽ kết thúc bằng việc in ra các chứng từ
thanh toán. Các chứng từ này đợc gửi cho các công ty chứng khoán và là cơ sở
để thực hiện thanh toán và giao nhận giữa các công ty chứng khoán.
Bớc 6: Thanh toán và giao nhận chứng khoán
Đến ngày thanh toán, các CTCK sẽ thực hiện giao tiền thông qua ngân hàng
chỉ định thanh toán và giao chứng khoán thông qua hình thức chuyển khoản tại
Trung tâm lu ký chứng khoán. Sau khi hoàn tất các thủ tục tại sở giao dịch,
công ty sẽ thanh toán tiền và chứng khoán cho khách hàng thông qua hệ thống
tài khoản khách hàng mở tại CTCK.
Lê Thị Thùy Linh Lớp CKA_K7
14
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
1.3. hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ môi giới chứng khoán
1.3.1. quan điểm về hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ môi giới chứng khoán:
Để đánh giá đợc hiệu quả của nghiệp vụ môi giới chứng khoán, ngời ta
thờng căn cứ vào những kết quả mà nó đem lại. Đối với công ty chứng khoán,
hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ môi giới chứng khoán đợc thể hiện qua chỉ
tiêu sau:
Số lợng tài khoản khách hàng mở để giao dịch và tỷ trọng của nó so với toàn bộ
thị trờng mà công ty đang hoạt động.
Thị phần giao dịch, doanh số giao dịch mà các nhân viên môi giới của công ty
tạo ra.
Doanh thu môi giới.
Lê Thị Thùy Linh Lớp CKA_K7
15
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
Sự ổn định và tăng trởng kinh tế sẽ tạo nhiều việc lam mới, giảm tình trạng thất
nghiệp, từ đó tăng thu nhập cho dân c. Do thu nhập tăng lên, nhu cầu tiêu dùng
và các khoản tiết kiệm ở khu vực t nhân cũng tăng trởng tơng ứng. Điều này sẽ
làm tăng nhu cầu đầu t từ phía dân chúng và kích thích doanh nghiệp phát triển
sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Sự ổn định và tăng trởng kinh tế làm giảm rủi ro và tăng hiệu quả hoạt động đầu
t. Điều này sẽ làm tăng tính hấp dẫn của thị trờng trong nớc và thu hút đầu t nớc
ngoài. Mặt khác, nhu cầu đầu t ra nớc ngoài của nhà đầu t và các doanh nghiệp
trong nớc cũng tăng theo. Đây sẽ là tiền đề cho sự phát triển các hoạt động của
công ty chứng khoán, trong đó có nghiệp vụ môi giới.
Sự phát triển của TTCK
TTCK là môi trờng hoạt động của các CTCK. Sự phát triển của TTCK ở đây là
sự phát triển ở cả cung và cầu chứng khoán, các thành viên tham gia thị trờng và
các hoạt động khác.
Thị trờng tài chính phát triển ở trình độ cao là tiền đề để môi giới chứng khoán
có thể đảm nhận tốt các chức năng cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính. ở
các thị trờng phát triển, sẵn có các chứng khoán có chất lợng tốt, tính thanh
khoản cao, đa dạng về chủng loại và lớn về số lợng. Bên cạnh đó, các công cụ
phái sinh đợc tạo lập nhằm cung cấp các công cụ phòng vệ hữu hiệu cho các
nhà đầu t.
Thị trờng càng phát triển, số lợng nhà đầu t, các tổ chức phát hành càng lớn sẽ
tạo điều kiền phát triển các nghiệp vụ của CTCK, trong đó có môi giới. Hơn
nữa, với sự phát triển của hệ thống kiểm toán kế toán, hệ thống công bố thông
tin, hệ thống lu ký, hệ thống thông báo định kỳ gốp phần làm tăng độ tin cậy
của thị trờng chứng khoán, cung cấp các thông tin cần thiết và tin cậy, giải
quyết vấn đề thông tin không cân xứng, sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo
chung và nghiệp vụ môi giới chứng khoán nói riêng. Những ngời môi giới thành
công đem lại cho công ty của họ những khoản tiền khổng lồ, và theo đó, họ đợc
gọi là những nhà sản xuất hàng đầu. Thành công của ngời môi giới cũng là
thành công của CTCK, nếu họ chiếm đợc lòng tin của khách hàng, thu hút đợc
ngày càng nhiều khách hàng đến với mình, đợc khách hàng gửi gắm ngày càng
nhiều tài sản để quản lý. Một khi đã chiếm đợc lòng tin của khách hàng, ngời
môi giới có thể tin rằng ngay cả khi những khuyến nghị của họ không đem lại
kết quả nh mong muốn thì không vì thế mà họ mất đi khách hàng. Điều quan
trọng là khách hàng nhận thức đợc một cách nhất quán rằng sự hiện diện của
ngời môi giới là nhằm phục vụ lợi ích của họ.
Để đạt đợc hiệu quả cao và nâng cao chất lợng hoạt động môi giới, hiện
nay các CTCK và nhà môi giới chứng khoán luôn phải cạnh tranh để thu hút
khách hàng và cung cấp các dịch vụ cho khách hàng tiềm năng. Muốn vậy, nhà
môi giới phải không ngừng trau dồi kiến thức nhằm nắm vững và sử dụng thuần
thục các kỹ năng từ cơ bản đến chuyên nghiệp.
Vì vậy, CTCK muốn giành thắng lợi trong cạnh tranh thì công việc trớc
tiên và cần thiết là không ngừng đào tạo đội ngũ nhân viên môi giới trở thành
nhà môi giới chuyên nghiệp, có kỹ năng, có đạo đức nghề nghiệp nhằm phát
huy sức mạnh nghề nghiệp để chiếm đợc lòng tin của khách hàng từ đó nâng
cao uy tín của công ty góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ môi
giới chứng khoán.
Cơ sở vật chất và trình độ công nghệ
Cơ sở vật chất có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động của các CTCK. Là
trung gian mua bán chứng khoán cho khách hàng, các CTCK phải có cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại, để đảm bảo việc tiếp nhận và thực hiện các yêu cầu của
khách hàng một cách nhanh chóng và chính xác. Vì TTCK luôn nhạy cảm với
sự biến động của nền kinh tế xã hội trong nớc và quốc tế cho nên nếu CTCK
không có đủ trang thiết bị cần thiết để thu thập và xử lý thông tin thì không bảo
vệ quyền lợi cho khách hàng. Các nhân viên môi giới sẽ không có đủ các thông
tin cần thiết để thực hiện t vấn và cung cấp những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất
18
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
Chơng 2
Thực trạng hoạt động môi giới tại công ty TNHH chứng khoán NHNo&PTNT
Việt Nam (agriseco)
giới thiệu về công ty TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
quá trình hình thành và Phát triển
Ra đời ngày 20/12/2000 đợc cấp phép ngày 04/05/2001, Công ty TNHH
Chứng khoán NHNo&PTNT VN là công ty trực thuộc , hạch toán độc lập của
NHNo&PTNT VN, thành viên thứ 8 của cộng đồng 12 Công ty chứng khoán
Việt Nam. Với thế mạnh và chỗ dựa vững chắc ở Ngân hàng mẹ, với đội ngũ
cán bộ đợc đào tạo và dậy dỗ nghiêm chỉnh.
Agriseco là đơn vị thành viên 100% vốn của Agribank Doanh nghiệp
đứng đầu trong Danh sách Top 200 Việt Nam do Chơng trình Phát triển Liên
Hợp Quốc (UNDP) xếp hạng Ngân hàng lớn nhất Việt Nam về vốn, mạng lới
và nguồn nhân lực. Agriseco đợc Agribank thành lập nhằm thực hiện chiến lợc
đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng các dịch vụ ngoài tín dụng để hớng tới xây
dựng Tập đoàn Tài chính Agribank.
Ngày 20/12/2000, Agribank ban hành Quyết định số 269/QĐ-HĐQT v/v thành
lập Agriseco;
Ngày 23/11/2001, Công ty đã tổ chức Lễ khai trơng Chi nhánh Tp.Hồ Chí
Minh. Ngay sau đó chi nhánh đi vào hoạt động, tận dụng những lợi thế về môi
trờng, điều kiện kinh doanh tại Tp.HCM.
Ngành nghề kinh doanh
Lê Thị Thùy Linh Lớp CKA_K7
19
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
Môi giới chứng khoán:
hình tổ chức là công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nớc một thành viên, thực hiện
hoạt động kinh doanh chứng khoán theo luật định.
Cơ cấu tổ chức của công ty
Agriseco đợc tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
nên bộ máy lãnh đạo của công ty bao gồm: Chủ tịch Công ty, Giám đốc và các
Phó giám đốc, trong đó có một Phó giám đốc trực tiếp phụ trách hoạt động của
chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh.
Công ty có trụ sở chính tại Hà Nội, chi nhánh tại Tp. Hồ Chí Minh và hai phòng
giao dịch phố Ngọc Khánh và Quang Trung Hà Nội. Tại địa điểm này công
Lê Thị Thùy Linh Lớp CKA_K7
20
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
ty đều có phòng kinh doanh, phòng kế toán lu ký và phòng hành chính tổng
hợp.
Trong tơng lai, khi điều kiện kinh doanh chứng khoán mở rộng, công ty dự kiến
sẽ thành lập thêm chi nhánh, phòng giao dịch và đại lý nhận lệnh tại các tỉnh,
thành phố lớn trong cả nớc.
Bảng 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy AgrisecoMôi trờng hoạt động
Lê Thị Thùy Linh Lớp CKA_K7
CHủ TịCH CÔNG TY
Giám đốc công ty
Khối kinh doanh Khối tài chính
Phòng
môi giới
và dịch
vụ
đoạn tăng trởng khá cao (trung bình 7,7%/năm). Sau 7 năm đi vào hoạt động,
TTCK đã trở thành một thực thể thị trờng quan trọng không thể thiếu đôi với
nền kinh tế. TTCK từng bớc trở thành kênh dẫn vốn dài hạn cho nền kinh tế,
thúc đẩy cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nớc và phát hành chào bán ra
công chúng.
Ngay từ ngày đầu tiên thành lập (ngày 20/7/2000) TTGDCK TP Hồ Chí Minh
chỉ có 2 công ty niêm yết nhng đến nay đã có 194 công ty niêm yết trên
TTGDCK TP Hồ Chí Minh và 87 công ty niêm yết trên TTGDCK Hà Nội) với
tổng giá cổ phiếu tính theo mệnh giá khoảng 27.859 tỷ đồng, tổng giá trị thị tr-
ờng ngày 31/12/2007 đạt 273.730 tỷ đồng, chiếm 18% GDP năm 2006. Bên
cạnh đó, có gần 500 loại trái phiếu chính phủ đã đợc huy động và niêm yết trên
TTCK với tổng giá trị hơn 81.000 tỷ đồng; chiếm 8,4% GDP năm 2006. Sự
xuất hiện của các loại chứng chỉ quỹ đầu t với tổng giá trị hơn 1.000 tỷ đồng và
3.550 tỷ đồng trái phiếu của Vietcombank và BIDV đã làm cho hàng hóa trên
TTCK càng thêm phong phú. Điều đáng nói, các công ty niêm yết quen dần với
cơ chế công bố thông tin và thực hiện theo nguyên tắc quản trị công ty theo
thông lệ tốt nhất.
Đến cuối năm 2007, TTGDCK TP Hồ Chí Minh đã tổ chức đợc 1.570 phiên
giao dịch và TTGDCK Hà Nội đã tổ chức đợc 403 phiên giao dịch liên tục, an
toàn. Tổng giá trị giao dịch chứng khoán trên toàn thị trờng đến cuối năm 2007
là 187.954 tỷ đồng, tăng 1,9 lần so với tổng giá trị giao dịch cả năm 2006 và
tăng 6,9 lần so với tổng giá trị giao dịch năm 2005.
Các công ty niêm yết đã phát hành thêm huy động vốn trên TTCK, các ngân
hàng, tổ chức tài chính thông qua TTCK huy động vốn nâng cao năng lực tài
chính. Riêng năm 2007, tổng số vốn huy động trên TTCK chính thức trên các
kênh đấu giá, chào bán ra công chúng đạt khoảng trên 60 ngàn tỷ, chiếm 6%
GDP, tăng gần 4 lần so với năm 2006.
Tính đến cuối năm 2007, TTCK Việt Nam có 243.809 tài khoản tăng 2,3 lần so
với tháng 12/2006 (106.393 tài khoản); trong đó có 242.624 tài khoản của nhà
đầu t có tổ chức. Hiện nay nhà đầu t nớc ngoài đợc phép nắm giữ tối đa 49%
TNHH chứng khoán NHNo&PTNT Việt Nam
Nhìn chung, trong 7 năm vừa qua tình hình kinh tế xã hội đất nớc là thuận
lợi cho sự phát triển của thị trờng chứng khoán. Tốc độ tăng trởng GDP của
năm 2006 là 8,17%, 2007 là 8,5% (kế hoạch là 8,2 8,5%), đạt mức cao nhất
trong 10 năm qua. Và mục tiêu tăng GDP 2008 9% và hơn 9%
Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc diễn ra mạnh mẽ trong các năm
vừa qua. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà
nớc (tháng 5-2006), trong 15 năm nớc ta đã thực hiện cổ phần hoá đợc 2.935
doanh nghiệp nhà nớc, trong đó có 80% số doanh nghiệp mới thực hiện cổ phần
hoá từ năm 2001 đến nay. Hầu hết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đều có
tình hình sản suất kinh doanh tơng đối khả quan, thu nhập của ngời lao động gia
tăng, việc làm đợc đảm bảo, lợi nhuận cao. Tiến trình cổ phần hoá vẫn đợc tiếp
tục quan tâm thúc đẩy từ trung ơng đến các địa phơng và ở các bộ ngành. Việc
các công ty cổ phần hoá hoạt động kinh doanh có hiệu quả có ý nghĩa rất quan
trọng trong cung cấp hàng hoá cho thị trờng chứng khoán. Tuy nhiên để thu hút,
khuyến khích đợc các doanh nghiệp này tham gia niêm yết trên thị trờng chứng
khoán là công việc mà các công ty chứng khoán hiện nay đang hết sức quan
tâm.
Thị trờng chứng khoán non trẻ tạo ra những bớc tập dợt ban đầu cho các công ty
chứng khoán. Nhận thức của công chúng đầu t đối với thị trờng chứng khoán
đang dần có sự thay đổi. Những cải thiện quan trọng trong khuôn khổ pháp lý
nhà nớc và trong quan hệ đối ngoại đã tạo điều kiện cho môi trờng kinh doanh
có thêm xung lực mới đặc biệt là khu vực t nhân.
Thị trờng chứng khoán Việt Nam ra đời khi thị trờng chứng khoán trên thế giới
đã phát triển mạnh. Đặc biệt là thị trờng chứng khoán của các nớc nh Mỹ, Anh,
Nhật, HồngKông, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapo... Với một bớc đi trớc của các
nớc về sự ra đời và phát triển thị trờng chứng khoán đã tạo thuận lợi cho nớc ta.
Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm, phát huy đợc những tiến bộ khoa học kỹ
thuật trong lĩnh vực chứng khoán phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nớc.
Agriseco là công ty hình thành từ công ty mẹ NHNo&PTNT VN là một
CTCK cũng nh riêng cho Agriseco.
Những khó khăn:
Những khó khăn mà Agriseco đang phải đối mặt đồng thời cũng là những khó
khăn chung đối với các công ty chứng khoán ở Việt Nam, đó là:
Môi trờng tài chính còn rất thô sơ: Điều này đợc thể hiện qua các kênh huy
động vốn thiếu đồng bộ và về căn bản đang chịu sự can thiệp hành chính thay
cho sự tác động của các lực lợng thị trờng. Đặc biệt thị trờng vốn ngắn hạn do
hệ thống ngân hàng đảm nhiệm một kênh dẫn vốn có liên quan và ảnh hởng
trực tiếp tới thị trờng chứng khoán đang hoạt động kém hiệu quả. Tình trạng
này dẫn đến một nghịch lý: nền kinh tế thiếu vốn nghiêm trọng trong khi vốn
trong nớc lại tắc tại các ngân hàng với một số lợng không nhỏ, không có lối
thoát cho đầu t. Bên cạnh đó, các sản phẩm dịch vụ tài chính còn quá ít ỏi khiến
cho môi trờng đầu t nghèo nàn, kém hấp dẫn. Tăng trởng kinh tế tơng đối nhanh
trong những năm vừa qua đã tạo ra thu nhập gia tăng đáng kể trong nền kinh tế
nói chung và các hộ gia đình nói riêng. Nhiều ngời có vốn nhàn rỗi dờng nh
ngày càng không thoả mãn đối với các công cụ tài chính của thị trờng. Và hiện
nay do tỷ lệ ngời dân Việt Nam tham gia đầu t chứng khoán vẫn còn rất nhỏ,
nên số lợng các công ty chứng khoán gia tăng trong một khoảng thời gian ngắn
đã dẫn đến một số công ty gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Với
khả năng tài chính và kinh nghiệm còn hạn chế, vì mục tiêu lợi nhuận của mình
một số công ty chứng khoán đã sử dụng những biện pháp cạnh tranh không lành
mạnh, gây ra những ảnh hởng xấu đến sự phát triển chung của thị trờng, tạo tâm
lý lo ngại cho các nhà đầu t. Trên thực tế, hiện nay với số lợng công ty chứng
khoán trên 80 công ty đợc cấp phép và đi vào hoạt động nhng phải chia nhau
một thị trờng quá nhỏ chỉ trên dới 250.000 khách hàng (là các nhà đầu t, tổ
chức và cá nhân, trong khi đó các công ty chứng khoán lớn hoạt động lâu năm
nh SSI, VCBS, SBS, AGRISECO đã thâu tóm khoảng 85% l ợng khách hàng,
những công ty chứng mới và quy mô vốn nhỏ phải chật vật chia nhau 15% thị
phần còn lại (cha kể số công ty chứng khoán mới đang nộp hồ sơ chờ cấp phép
tại UBCKNN). Nhiều công ty đã phải bỏ ra hàng chục tỷ đồng để mua sắm