Phần một : tình hình thu hút vốn đầu tư trên thị
trường vốn việt nam hiện nay.
I. Vai trò của thị trường vốn.
1. Vai trò tập trung và tích tụ vốn cho đầu tư.
Thị trường vốn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự phát triển
kinh tế của mỗi đất nước, đây là một kênh bổ sung vốn rất hiệu quả và nhanh
chóng cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp .
Thông qua việc phát hành và mua bán các loại chứng khoán , các khoản
vốn nhỏ lẻ tồn tại trong dân cư được các tổ chức kinh tế huy động nhằm đáp
ứng nhu cầu về vốn cho công cuộc đầu tư và xây dựng của chủ đầu tư.
Các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu , trái phiếu để huy động vốn còn
chính phủ và các địa phương phát hành trái phiếu của chính phủ và trái phiếu
địa phương để bù đắp thiếu hụt ngân sách hoặc đầu tư xây dựng các dự án
lớn.
Nếu đem so sánh với các phương thức huy động vốn khác thì thị trường
vốn có thể huy động một cách đa dạng hơn, rộng rãi hơn với một phương thức
linh hoạt hơn , từ đó có thể đáp ứng một cách nhanh chóng những nhu cầu
khác nhau của các nhà đầu tư, đảm bảo được tính hiệu quả và thời gian cho
nhà đầu tư và những người cần vốn.
Ngoài ra , thông qua thị trường vốn thì chính phủ và địa phương có thể
huy động vốn cho ngân sách hoặc đầu tư vào các công trình bằng việc phát
hành trái phiếu , công trái . Hơn nữa , nếu xét theo quan điểm kinh tế học thì
đây là hình thức có thể kiềm chế được lạm phát do không phải in thêm tiền
vào lưu thông để phục vụ cho chi tiêu của chính phủ .
Ở Việt Nam hiện nay thì vai trò này đã bắt đầu phát huy tác dụng
nhưng vẫn chưa thoả mãn nhu cầu về vốn hiện nay. Theo tính toán của các
nhà kinh tế thì tổng nhu cầu về vốn đầu tư của Việt Nam hiện nay : 258000 tỉ
đồng (năm 2004) , 300.000 tỉ đồng ( năm 2005) và khoảng từ
1
360.000-370.000 tỉ đồng ( năm 2006) trong khi đó thì đến tháng 8/2006 chúng
ta chỉ mới huy động được một lượng rất nhỏ khoảng 8.000 tỉ đồng so với quy
kênh huy động vốn nước ngoài khác. Chính vì vậy, thúc đẩy thu hút FII ổn
định và tương xứng với tiềm năng, góp phần tạo động lực phát triển thị trường
vốn và nền kinh tế Việt Nam đang là vấn đề được các cơ quan hoạch định
chính sách, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp quan tâm.
Theo Bà Nguyễn Thị Liên Hoa, Trưởng Ban phát triển thị trường thuộc
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thì :
"Trong hai năm 2004 và 2005, tốc độ cổ phần hoá các doanh nghiệp
Nhà nước đã được đẩy mạnh hơn so với những năm trước rất nhiều lần. Tới
cuối tháng 3 năm 2006, đã có 4.673 doanh nghiệp Nhà nước được tái cơ cấu,
trong đó có 3.298 doanh nghiệp được cổ phần hoá.
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những công ty có quy mô trung bình và nhỏ,
vốn Nhà nước trong những công ty này chỉ chiếm 8% trong tổng số những
doanh nghiệp Nhà nước phải cơ cấu lại. Vẫn còn nhiều các doanh nghiệp Nhà
nước cần phải cổ phần hoá trong những năm tới và đây là những doanh
nghiệp Nhà nước có số vốn khổng lồ và thực sự là cơ hội lớn cho các nhà đầu
tư trong nước cũng như ngoài nước.
Một khu vực tiềm tàng nữa mà có thể thu hút được nguồn vốn đầu tư
gián tiếp nước ngoài, đó chính là khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ tư
nhân. Hiện nay, có tới 97% của hơn 230.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động
tại Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp tư nhân rất
năng động và phát triển mạnh mẽ và đã trở thành một bộ phận quan trọng của
nền kinh tế.
Trong số đó, có một số không ít doanh nghiệp khẳng định được vị trí
của mình và đang trở thành những thương hiệu mạnh của Việt Nam. Tương
lai phát triển của các doanh nghiệp này càng trở nên rõ ràng hơn sau khi
Chính phủ ban hành hai bộ luật mới, đó là Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.
3
Ngoài các doanh nghiệp tư nhân và thuộc sở hữu Nhà nước, những
công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán cũng đang là những đầu mối
hút vốn gián tiếp quan trọng. thị trường chứng khoán Việt Nam cũng bắt đầu
từ đó làm tăng tổng thu nhập quốc dân , làm cho GDP tăng từ đó làm cho nền
kinh tế tăng trưởng .
Tuy nhiên khi nguồn vốn đầu tư tăng đến một mức nào đó thì kinh tế
không thể tăng trưởng thêm đựơc do nền kinh tế còn phụ thuộc rất nhiều yếu
tố khác nhau như : lao động , tài nguyên thiên nhiên, hay chính sách tài khoá
của chính phủ .
Nước ta xuất phát từ một nước nghèo nàn và lạc hậu thì nguồn vốn lại
là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước.
Không có tiền chúng ta không thể làm được gì , không có tiền chúng ta không
thể mọc thêm các nhà máy sản xuất , không thể tận dụng nguồn lao động dồi
dào của nước ta , không thể tận dụng những gì mà thiên nhiên đã ban tặng cho
chúng ta .
Kể từ khi đất nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trường thì nguồn vốn là một điều rất quan trọng. Chính phủ đã
cố gắng tạo ra những cơ chế chính sách hợp lý tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh
của đất nước ta, để có thể phát huy tối đa mọi khả năng và nguồn lực của đất
5
nước.Và, cũng từ đó thì thị trường vốn cũng dần dần mở cửa khi chúng ta hội
nhập kinh tế thế giới.
Thị trường vốn của nước ta trong những năm qua có sự phát triển mạnh
mẽ vượt bậc so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Có thể thấy rất rõ
trên thị trường vốn quốc tế. Mặc dù, thị trường vốn của ta còn non trẻ nhưng
bước đầu khi hội nhập kinh tế thế giới đã khẳng định được vai trò của mình
trên trường quốc tế.
Hiếm thấy lần phát hành trái phiếu Chính phủ đầu tiên nào thu được
thành công như của Việt Nam" là nhận định được nhiều nhà đầu tư nước
ngoài đưa ra. Bằng chứng là ngay ngày đầu tiên tại Hong Kong (19.10), số
lượng các nhà đầu tư đặt mua đã đạt khoảng 1 tỷ USD, gấp 2 lần số lượng trái
phiếu Chính phủ Việt Nam định phát hành. Đến ngày 26.10, sau khi Chính
phủ quyết định tăng khối lượng phát hành thêm 250 triệu USD, số lượng các
Chính điều này đã làm tăng khả năng cạnh tranh nhau về vốn trên thị trường
vốn. Chẳng hạn ,trên thị trường không chính thức, các hoạt động mua bán cổ
phiếu diễn ra hết sức sôi động với hơn 100 loại cổ phiếu được giao dịch khá
thường xuyên; trong đó có những tên tuổi nổi tiếng như Vinamilk, Giống Cây
trồng miền Nam, Dầu Tường An, Dược Hậu Giang, Bảo Minh, Sacombank,
ACB, Eximbank… Cùng với nỗ lực đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá các
doanh nghiệp nhà nước và được khích lệ bởi sự tăng trưởng trở lại của thị
trường chứng khoán chính thức, các đợt đấu giá bán cổ phần ra công chúng
thật sự “bùng nổ” và đã thu hút sự quan tâm rất lớn của công chúng đầu tư
cũng như của toàn bộ người dân.
Tuy nhiên thì số lượng nhà đầu tư tham gia trên thị trường chứng khoán
chưa nhiều như mong đợi, diễn biến giao dịch trên thị trường có những giai
đoạn trầm lắng, nhiều công ty vẫn còn tình trạng thiếu minh bạch trong công
bố thông tin khi đấu giá bán cổ phần lần đầu ra công chúng
7
Cho tới thời điểm hiện nay, đã có 41 công ty niêm yết tại Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM và 11 công ty đăng ký giao dịch tại Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Dữ liệu thị trường vào trung tuần tháng
7/2006 cho thấy mức vốn hoá của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Tp.HCM ước đạt 44.442 tỷ VND, và của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Hà Nội là 15.000 tỷ VND.
Tổng mức vốn hoá của toàn bộ thị trường tại thời điểm này ước chiếm
tỷ trọng 7,6% GDP (khoảng 3,8 tỷ USD). Trong thời gian sắp tới, sẽ có ít nhất
7 công ty nữa được cấp phép niêm yết và dự kiến thị trường sẽ chiếm tỷ trọng
ít nhất 8,5% GDP trong năm nay.
6. Thị trường vốn tạo điều kiện để thực hiện các chính
sách kinh tế vi mô.
Thị trường vốn có một ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của các nước có nền kinh tế thị trường. Thị trường vốn mà cốt lõi là thị
trường chứng khoán như một trung tâm thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của
Thông qua thị trường vốn thì chính phủ đã điều tiết và thực hiện những
chính sách kinh tế của mình nhằm phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình và
nhằm bình ổn giá cả , bình ổn thị trường tài chính , từ đó phục vụ cho nhu cầu
phát triển kinh tế của doanh nghiệp ,của đất nước.
7. Thị trường vốn là công cụ đánh giá, dự báo chu kì kinh
doanh của các doanh nghiệp của nền kinh tế.
Đứng trên quan điểm của chính phủ và trên quan điểm của các doanh
nghiệp thì thị trường vốn thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp , nhà nước và
thị trường. Thị trường vốn như cái van điều tiết hữu hiệu các nguồn huy động
vốn và sử dụng vốn .
9
Do đó mà thông qua thị trường vốn mà các doanh nghiệp và chính phủ
thường lấy tín hiệu từ thị trường vốn làm căn cứ điều chỉnh những chính sách
và kế hoạch của mình cho phù hợp với điều kiện thực tế của thị trường .
Với chính phủ thì phải ban hành những quy định và chính sách kinh tế
ngày càng hợp lý hơn, ngày càng đi sâu đi sát vào tình hình trên thị trường
vốn hơn. Chẳng hạn như : Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1/1/2005 của
Chính phủ về quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài giúp Chính phủ xây
dựng một cơ chế quản lý nợ an toàn, hiệu quả, thống nhất, và mang tính
chuyên nghiệp; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền trên cơ sở đảm bảo
sự nhất quán và đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp lý hiện hành, đảm bảo
sự không phân biệt giữa các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận nguồn vốn
của Chính phủ. Đạt được mục tiêu giám sát có hiệu quả hơn các nghĩa vụ dự
phòng và rủi ro tiềm ẩn đối với ngân sách Nhà nước và dự trữ ngoại tệ quốc
gia. Đồng thời tiến dần tới áp dụng các thông lệ được quốc tế thừa nhận rộng
rãi, nhằm hỗ trợ quá trình hội nhập kinh tế-tài chính khu vực và quốc tế của
nước ta. Môi trường đầu tư được cải thiện thông qua việc đổi mới chính sách
theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là việc ban hành Luật
Đầu tư chung và Luật Doanh nghiệp thống nhất tạo sân chơi bình đẳng cho tất
cả các doanh nghiệp. Việc theo dõi, thu thập, xử lý thông tin quản lý đảm bảo
là tín hiệu , là công cụ dự báo chu kì kinh doanh cho các doanh nghiệp khi đi
quyết định đi vay vốn.
II .Tình hình thu hút vốn trên thị trường vốn
1. Toàn cảnh thu hút vốn đầu tư trên thị trường vốn .
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã được 6 năm hình thành và phát
triển. Trong đó, khi mở cửa để đón các nhà đầu tư nước ngoài, thị trường
chứng khoán bắt đầu có những chuyển biến tích cực. Đa số các nhà đầu tư
nước ngoài đến Việt Nam đều đã nghiên cứu khá kỹ lưỡng thị trường này.
11
Việt Nam được xem như là “một Trung Quốc Mới” như nhận định gần đây
của một số tờ báo.
Tuy nhiên, khoảng cách của Việt Nam và các nước trong khu vực còn
khá xa. Đặc biệt về độ lớn của thị trường và số lượng chứng khoán niêm yết.
Toàn bộ giá trị thị trường hiện nay nằm ở mức 5.3 tỷ USD. Và với thói quen
đầu tư của người Việt hiện nay, số tiền còn “dự trữ dưới gối” là con số rất lớn
lên đến hàng chục tỉ đô la Mỹ, và số tiền này chưa được đưa vào đầu tư, tuy
nhiên vẫn không thể so với nguồn vốn dồi dào từ các nhà đầu tư nước ngoài
của quốc tế nằm ở mức hơn hàng trăm tỷ USD vẫn còn chờ nơi để đầu tư chủ
yếu thông qua các định chế tài chính (financial institutions) và công ty quản
lý quỹ (fund managers).
Thị trường của Việt Nam hiện nay chủ yếu là sân chơi của các nhà đầu
tư nhỏ lẻ, thiếu kinh nghiệm phân tích, mua bán nên thị trường thường xoay
chuyển theo “cảm xúc” và những tin đồn, nhưng khi các nhà đầu tư chuyên
nghiệp gồm các định chế tài chính và công ty quản lý quỹ bước vào, với các
công cụ phân tích chuyên nghiệp, thị trường sẽ hoạt động một cách bài bản
hơn, và có động lực mua bán nhiều hơn.
Số lượng các công ty quản lý quỹ hiện nay tại Việt Nam còn ít và đa số
là các đại gia của nước ngoài, có khả năng khống chế lớn hoạt động mua bán.
Vì sao? Hiện nay, thủ tục gia nhập thị trường vốn Việt Nam khá phức tạp, đặc
biệt là khâu xin Mã Giao Dịch (Trading Code). Đối với cá nhân thì công việc
Nam một cách nhanh chóng với một tốc độ chóng mặt.
Ngày càng có nhiều quỹ đầu tư nước ngoài công khai ý định đổ tiền
vào Việt Nam, nhất là sau khi Merrill Lynch tung ra báo cáo về sự tăng
trưởng khả quan của nền kinh tế Việt Nam và tin mới nhất được hãng thông
tấn Reuters phát đi.
Giữa tháng 3/2006, Công ty Quản lý quỹ VinaCapital mới chính thức
khai trương Quỹ Bất động sản VinaLand, nhưng số tiền mà các nhà đầu tư
13
nước ngoài góp vào quỹ đã lên tới gần 65 triệu đô la Mỹ, vượt mức dự kiến
15 triệu Đôla Mỹ
Theo ngài Don Lam, Giám đốc VinaCapital, nói công ty đang chạy đua
với thời gian vì thời gian này chính là cơ hội: “Đầu tư tín dụng của ngân hàng
cho địa ốc đang chựng lại. Một số ngân hàng không những không “bơm”
thêm vốn, mà còn cân nhắc rút bớt vốn khỏi lĩnh vực này. Điều đó có khả
năng làm giá nhà đất trở nên dễ chịu hơn và tạo điều kiện cho các quỹ đầu tư
tham gia vào các dự án bất động sản”.
Ngoài VinaLand, VinaCapital đang nỗ lực giải ngân nốt số tiền còn lại
chừng 50 triệu đô la Mỹ trong tổng số 171 triệu đô la Mỹ của Quỹ Vietnam
Opportunities Fund (VOF). Hướng đầu tư chính của VOF tiếp tục là cổ phiếu
OTC và địa ốc
VinaCapital không giấu tham vọng đặt chân vào các công trình giao
thông, cầu đường, bãi đậu xe bằng một quỹ chuyên đầu tư cho cơ sở hạ tầng
đang được gọi vốn. Công ty cũng có ý định năm sau sẽ khai sinh một quỹ mới
là Technology Fund để đầu tư vào các dự án công nghệ cao.
Không phải chỉ có VinaCapital nhận ra cơ hội đầu tư tài chính ở Việt
Nam đang bùng nổ. Dragon Capital, công ty quản lý quỹ có thâm niên nhất ở
Việt Nam, vừa nhận quản lý thêm một quỹ mới, Vietnam Dragon Fund, với
số vốn 35 triệu Đôla Mỹ.
Đây là quỹ thứ ba của Dragon Capital, cùng với hai quỹ khác là VEIL
(vốn 190 triệu đô la Mỹ) và Vietnam Growth Fund (90 triệu Đôla Mỹ). Công
3.Thị trường vốn quốc tế.
Việc phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường quốc tế ngoài mục
tiêu huy động vốn còn nhằm tạo ra một hình ảnh của Việt Nam trên thị trường
vốn quốc tế. Trong bối cảnh chúng ta đã tiến hành hội nhập về hoạt động
thương mại, đầu tư thì hội nhập tài chính không thể đứng ngoài cuộc. TPCP
do Việt Nam phát hành trên thị trường quốc tế sẽ là thước đo cho các nhà đầu
tư khi quyết định đầu tư vào Việt Nam.
15
Thứ trưởng Tài chính Lê Thị Băng Tâm cho biết: “Việc phát hành trái
phiếu lần này có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là một trong những mục tiêu
của Việt Nam tham gia hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế, đồng thời
việc phát hành trái phiếu quốc tế còn là một phương thức vay thương mại
trong chiến lược huy động vốn của Việt Nam, đảm bảo quyền tự chủ trong
việc sử dụng nguồn vốn huy động được không bị lệ thuộc vào điều kiện của
các nhà thầu như vay tín dụng xuất khẩu. Đồng thời việc phát hành trái phiếu
lần này đã mở đường cho các doanh nghiệp lớn của Việt Nam trực tiếp huy
động nguồn vốn trung và dài hạn bằng ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư
phát triển kinh tế”.
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế trên thế giới thì số lượng các
nhà đầu tư quốc tế tham gia mua trái phiếu đạt mức kỷ lục trên thị trường vốn
trong nhiều năm lại đây (lên tới 255 nhà đầu tư lớn). Các nhà đầu tư tham gia
mua trái phiếu của Chính phủ Việt Nam đều là những nhà đầu tư lớn, có uy
tín trên thị trường tài chính quốc tế. Điều đặc biệt là số trái phiếu này được
phát hành rộng khắp trên thế giới đó là Châu Á nắm 38%, Châu Âu nắm 32%
và Mỹ là 30%.
Sự đón nhận nhiệt tình đến bất ngờ đó được nhận định là do nhiều
nguyên nhân từ chính Việt Nam. Thứ nhất, các nhà đầu tư quốc tế tin tưởng
vào tương lai sáng sủa của nền kinh tế Việt Nam sau khi chứng kiến hơn 10
năm đổi mới vừa qua. Đến nay, hầu như toàn thế giới biết đến công cuộc cải
cách đổi mới ở Việt Nam. Ngoài ra Việt Nam là một trong những ví dụ thành
Thị trường sơ cấp đảm bảo nguồn vốn được huy động thông qua phát
hành chứng khoán ra công chúng (POs - Public Oferrings hoặc lPOs - Initial
Public Oferring). Thị trường sơ cấp thực sự là kênh huy động vốn trung và dài
hạn cho nên kinh tế. Thị trường thứ cấp là nơi thu hút các nhà đầu tư mua đi
17
bán lại chứng khoán, từ đó nâng cao tính thanh khoản cho các loại chứng
khoán được giao dịch
Trong khi đó tại Việt Nam thì tại thị trường sơ cấp chỉ mới huy động
một lượng vốn còn rất nhỏ so với quy mô đầu tư. Năm 2000 và 2001, số huy
động vốn qua kênh này bằng 0, năm 2002 là 0,035 nghìn tỷ đồng. Nếu so
sánh với dư nợ cho vay trung và dài hạn đa là con số không đáng kể, so với
tổng dư nợ cho vay của cả hệ thống ngân hàng thì con số là không có ý nghĩa
gì. Hoạt động của thị trường sơ cấp rất mờ nhạt trong hai năm đầu đi vào hoạt
động có duy nhất Công ty cổ phần giấy Hải Phòng (HAPACO) phát hành
thêm 01 triệu cổ phiếu mới (tương dương với số vốn 35 tỷ đồng) để huy động
vốn cho dự án giấy kraf.
Ngoài ra , khi nói đến thị trường sơ cấp không thể không nói đến vai trò
của các ngân hàng thương mại.
các ngân hàng thương mại đảm nhiệm vai trò trong việc bảo lãnh phát
hành chứng khoán cho đơn vị phát hành. Tuy nhiên tại Việt Nam, bảo lãnh
phát hành là phương thức phổ biến nhất đối với trái phiếu Chính phủ. Với độ
tín nhiệm cao và tiềm lực tài chính mạnh, các ngân hàng thương mại có ưu
thế lớn khi tham gia bảo lãnh phát hành.
Để phát triển thị trường sơ cấp nói riêng và thị trường chứng khoán nói
chung thì chính phủ đang có đề án phát triển thị trường sơ cấp thông qua việc
phát hành trái phiếu chính phủ. Đến ngày 30/6/2003 nếu tính cả vốn huy động
ngân sách Nhà nước thông qua dấu thầu và bảo lãnh phát hành, đã có 5.400 tỷ
đồng trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Quỹ hỗ trợ phát triển niêm yết trên thị
trường. Có 5 Công ty niêm yết phát hành thêm cố phiếu mới để mở rộng sản
xuất kinh doanh, tăng vốn điều lệ với tổng vốn tăng thêm 155,4 tỷ đồng.
kiện tốt để tăng tính thanh khoản cho trái phiếu khi giao dịch trên thị trường
thứ cấp, tạo thuận lợi cho những lần phát hành tiếp theo.
Theo Thứ trưởng Băng Tâm cho biết, 30 giây sau khi được định giá
phát hành ở thị trường sơ cấp, trái phiếu Chính phủ Việt Nam đã được giao
19
dịch trên thị trường thứ cấp và giá trái phiếu đã tăng khoảng 5 điểm, sau 15
phút tăng lên 10 điểm và đến ngày 1/11 vẫn giữ ở mức tăng 10 điểm so với
lúc định giá phát hành....
Qua đó chúng ta có thể thấy được tính thanh khoản cũng như việc mua
bán các công cụ trên thị trường thứ cấp. Tại thị trường thứ cấp thì việc buôn
bán các công cụ tài chính hết sức linh hoạt và biến động một cách liên tục.
Đây cũng là thị trường được công chúng đầu tư quan tâm nhất và được theo
dõi liên tục nhất.
5. Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường.
5.1 Thị trường cổ phiếu.
Người ta có thể có hàng trăm cách để đầu tư, muốn chọn được cách tốt
nhất thì nhà đầu tư trước hết phải tìm được thông tin cơ bản về các công cụ tài
chính mà họ đang xem xét. Trong thị trường chứng khoán thì cổ phiếu là công
cụ tài chính thường được sử dụng nhất , thường được buôn bán nhiều nhất do
tính đại chúng và lượng thông tin nhiều, được phổ biến rộng rãi.
Đối với các doanh nghiệp ,các công ty thì việc phát hành cổ phiếu có
lợi hơn là việc phát hành các chứng chỉ nợ. Vì công ty nắm giữ tiền mà không
phải trả lãi theo thời hạn định, đối với việc mua cổ phiếu các cổ đông được
nắm giữ cổ phiếu trong công ty, có nghĩa là các cổ đông mới sẽ được chia
quyền sở hữu đối với các cổ đông đầu tiên.
Cổ phiếu là một chứng thư, chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông
đối với một công ty cổ phần, hay cổ phiếu là một giấy chứng nhận việc đầu tư
vốn của một chủ thể vào một công ty cổ phần. Các cổ đông không phải là chủ
nợ của công ty mà là người hùn vốn cùng công ty hoạt động , là người chủ sở
hữu một phần của công ty. Cổ phiếu có thể có nhiều loại tuỳ thuộc vào đơn vị
Đặc biệt, năm 2004 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của thị trường trái
phiếu Việt Nam. Các đợt phát hành trái phiếu Chính phủ đã diễn ra đều đặn
và mức độ thành công cũng khá hơn so với năm trước.
21
Trên thị trường giao dịch, nghiệp vụ mua bán trái phiếu có kỳ hạn đã giúp
tăng tính thanh khoản cho thị trường trái phiếu và thực sự đem lại lợi ích cho
các đối tượng tham gia mua bán trái phiếu. Các đơn vị chiếm thị phần lớn trên
thị trường trái phiếu cũng thu được lợi nhuận đáng kể từ nghiệp vụ này, nổi
bật là Công ty Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Cùng với tốc độ tăng trưởng khá cao của nền kinh tế Việt Nam, tình hình
hoạt động kinh doanh của phần lớn công ty niêm yết đều đạt những kết quả
khả quan. Các công ty lớn trên thị trường như REE, Gemadept, Sacom … đều
hoàn thành kế hoạch lợi nhuận trong năm.
Một số công ty như Khahomex, Hacisco… cũng đã thành công trong việc
phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn cho các dự án đầu tư mới. Bên
cạnh đó, nhờ thị trường khởi sắc hơn và tiến trình cổ phần hóa các doanh
nghiệp nhà nước diễn ra mạnh mẽ hơn nên hoạt động của các công ty chứng
khoán cũng đa dạng hơn và phần lớn đều đạt hiệu quả cao hơn mọi năm.
Năm nay cũng chứng kiến sự tham gia mạnh mẽ hơn của các quỹ đầu tư
chứng khoán như VEIL, PXP Fund, VF1 và các tổ chức đầu tư khác vào thị
trường chứng khoán Việt Nam. Nhờ sự tham gia của các tổ chức này mà thị
trường chứng khoán đã có sự ổn định cần thiết trong một số giai đoạn.
Thứ ba : Làn sóng tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ
phần . Vấn đề tăng cường nội lực tài chính. Sức mạnh từ nội lực sẽ là nguồn
gốc để tăng trưởng một cách bền vững chứ không dựa vào nguồn lực từ bên
ngoài .Do đó để phát triển thị trường chứng khoán nói chung thì cần phải tăng
cường nội lực, củng cố năng lực tài chính một cách vững mạnh. Hiện tại ,
theo ước tính cả nước ta có khoảng 34 ngân hàng thương mại cổ phần đang
hoạt động. Hầu hết là những ngân hàng có tiềm lực tài chính vừa và nhỏ so
với quy mô của thế giới, cho nên hầu hết các ngân hàng này đang thực hiện
kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần.
23
Tuy nhiên , khi vốn tăng thì lại đặt ra một vấn đề là vấn đề sử dụng vốn
như thế nào. Theo bà Bùi Thị Mai, Tổng giám đốc Habubank, việc điều hành
một ngân hàng có số vốn điều lệ cả ngàn tỷ đồng hoàn toàn không giống việc
điều hành một ngân hàng chỉ vài trăm tỷ vốn điều lệ. Vốn tăng vài trăm phần
trăm, song khối lượng công việc tăng có khi đến vài ngàn phần trăm, khả
năng bao quát, tầm nhìn, hệ thống thông tin - phản hồi... đều phải tăng và đòi
hỏi tốt hơn trước là những áp lực đầu tiên.
Khi cổ đông góp vốn, đồng tiền của họ phải được sử dụng hiệu quả
nhất. Cũng theo bà Mai, huy động vốn thì rất nhanh nhưng ngân hàng này đã
phải chuẩn bị kế hoạch sử dụng lượng vốn huy động này trong nhiều tháng
trời, đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả và đem lại nhiều lợi nhuận cho các cổ
đông nhất. Vấn đề là làm sao khi mở rộng quy mô phải đảm bảo chất lượng
nguồn nhân lực để không ảnh hưởng tới khả năng phục vụ khách hàng, đồng
thời bài toán duy trì tỷ lệ cổ tức cao cũng là yêu cầu không hề dễ đối với ban
điều hành
Thứ tư : Quá trình nhảy vào của các ngân hàng nước ngoài vào thị
trường vốn ở Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước đã quyết định mức sở hữu tối đa của các nhà đầu
tư nước ngoài tại ngân hàng cổ phần trong nước là 30%, dự thảo Nghị định về
tổ chức tín dụng nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng trong nước do
NHNN soạn thảo đã được trình Chính phủ. Cho dù như vậy, các ngân hàng
nước ngoài dường như vẫn sẵn sàng cho một đợt tăng số tiền góp vốn trong
các ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là các cổ đông chiến lược nước ngoài tới
đây sẽ được sở hữu tới 20% cổ phần tại một ngân hàng Việt Nam.
Mới đây, một số hãng thông tấn nước ngoài đã đưa tin về việc HSBC
và ANZ đã sẵn sàng tăng thêm vốn tại Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam
(Techcombank) và Ngân hàng Sài Gòn Thương tín (Sacombank). Cả hai ngân
hàng nước ngoài này đều là các cổ đông chiến lược tại các ngân hàng mà họ
25