Thực trạng và những đánh giá tình hình thu hút, sử dụng FDI của Nhật Bản vào Việt Nam - Pdf 88

LờI NóI ĐầU
Vấn đề thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài là một trong những vấn đề không
chỉ thu hút sự quan tâm của các nớc phát triển, mà đối với những nớc đang phát
triển nh Việt Nam thì vấn đề này lại vô cùng cần thiết trong chiến lợc phát triển
đất nớc thời kỳ mới.
Trong thời đại hiện nay,nhất là trong hoàn cảnh các nớc trong khu vực
Đông Nam (ASEAN) đang cạnh tranh nhau về môi trờng đầu t để nhằm thu hút
tối đa lợng vốn của bên ngoài,thì vấn đề đặt ra là: làm thế nào để Việt Nam có
thể cũng thu hút đợc một lợng vốn đủ dể phát triển kinh tế. Muốn làm đợc điều
này,chúng ta cần phải nghiên cứu kĩ đối tác,xem xét lại môi trờng của nớc mình
đã phù hợp cha, để từ đó có những giải pháp thoả đáng. Nhật Bản là trong
những nớc phát triển nhất ở châu á, là cờng quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới sau
Mỹ.Mặc dù là một nớc nghèo tài nguyên thiên nhiên, thiếu nguyên liệu cho sản
xuất nhng bù lại Nhật Bản lại có công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên
tiến. Chính vì thế họ có xu hớng đầu t ra bên ngoài,đặc biệt là các nớc đang
phát triển ở châu á,để khai thác các nguồn lực sẵn có của những nớc này. Vấn
đề đặt ra cho Việt Nam là phải thu hút đợc FDI của Nhật Bản.Thứ nữa là việc
các dự án có vốn FDI của Nhật Bản tại Việt Nam ( cả những dự án đã có giấy
phép và những dự án đã đi vào hoạt động ) đều diễn ra một cách chậm chạp và
hiệu quả cha cao. Vì thế chúng ta cần phải có sự xem xét và đánh giá lại.
Xuất phát từ những vấn đề trên, cộng với sự hớng dẫn, giúp đỡ của cô giáo
Nguyễn Thanh Hà, em chọn đề tài này với mục đích đa ra thêm một vài quan điểm
nhận xét của riêng mình, góp phần nào hoàn thiện dần các giải pháp nhằm thu hút
FDI của nớc ngoài nói chung và của Nhật Bản nói riêng vào Việt Nam.
Trong phạm vi khuôn khổ một bài luận em chỉ muốn phân tích tình hình
đầu t trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong thời kỳ từ năm 1996 đến nay,
đánh giá một cách đúng đắn, khách quan những điểm mạnh, những tồn tại và
đa ra một vài giải pháp trong tơng lai.
Nội dung của bài viết gồm ba chơng:
Ch ơng I : Những lý luận chung về đầu t trực tiếp.
Ch ơng II: Thực trạng đánh giá tình hình thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt

làviệc nhà đầu t nớc ngoài đa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản
nào để tiến hành các hoạt động đầu t theo qui định của luật này.Định nghĩa
2
của thuật ngữ đầu t trực tiếp nớc ngoài0chỉ có vậy nhng đằng sau nó là cả
một quá trình phân tích lấu dài
2. Đặc điểm của đầu t trực tiếp nớc ngoài
- Khi tham gia vào hoạt động FDI thì các chủ đầu t nớc ngoài phải đóng
góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định, điều này tuỳ thuộc vào qui định
của mỗi nớc. Đối với Việt Nam, số vốn của các chủ đầu t này nhỏ nhất phải
bằng 30% tổng số vốn pháp định, qui định này có sự khác biệt so với một số n-
ớc khác vì họ qui định giới hạn mức vốn lớn nhất của các chủ đầu t nớc ngoài
đóng góp. Điều này cũng dễ hiểu vì các đối tác Việt Nam chủ yếu là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, lợng vốn ít, nên có qui định nh vậy thì các chủ đầu t phía
Việt Nam mới có điều kiện góp vốn.
- Quyền quản lý các xí nghiệp phụ thuộc vào số vốn góp của mỗi bên. Nếu
doanh nghiệp là doanh nghiệp 100% vốn của nớc ngoài thì doanh nghiệp hoàn
toàn do chủ đầu t nớc ngoài điều hành và quản lý.
Nh vậy: từ những đặc điểm của đầu t trực tiếp nớc ngoài ta thấy nó rất
khác so với đầu t gián tiếp và mục tiêu chính của đầu t trực tiếp nớc ngoài là
kinh doanh để thu lợi nhuận. Các qui luật kinh tế đợc các chủ đầu t vận dụng để
làm sao giảm đợc tối đa về chi phí mà lại thu đợc lợi ích về phía mình nhiều
nhất. Vì vậy phía Việt Nam cũng cần phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ
cao để có thể làm ăn đợc với các chủ đầu t nớc ngoài làm sao hạn chế đợc
những bất lợi về phía mình.
3. Các hình thức của đầu t trực tiếp
Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam đợc Quốc hội nớc Cộng hoà XHCN
Việt Nam thông qua ngày 29/12/1987. Từ khi đợc ban hành đến nay luật đầu t
nớc ngoài tại Việt Nam đã đợc sửa đổi:
- Lần thứ nhất ngày 30/6/1990
- Lần thứ hai ngày 23/12/1992

hoặc với doanh nghiệp Việt Nam hoặc với doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc
ngoài đã đợc hoạt động tại Việt Nam.
Trong trờng hợp đặc biệt, doanh nghiệp liên doanh có thể đợc thành lập
trên cơ sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam với
Chính phủ nớc ngoài; doanh nghiệp liên doanh đợc thành lập theo hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn có t cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.Mỗi
4
bên liên doanh chịu trách nhiệm đối với bên kia và đối với doanh nghiệp liên
doanh theo phần vốn góp của mình vào vốn pháp định.
Doanh nghiệp liên doanh hoạt động trên nguyên tắc tự chủ về tài chính,
trên cơ sở hợp đồng liên doanh, điều lệ doanh nghiệp liên doanh phù hợp với
giấy phép đầu t và pháp luật Việt Nam. Doanh nghiệp liên doanh đợc thành lập
sau khi cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền về hợp tác đầu t của Việt Nam cấp giấy
phép đầu t và chứng nhận đăng ký điều lệ của doanh nghiệp.
c. Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà
đẩu t nớc ngoài, do nhà đầu t nớc ngoài thành lập tại Việt Nam,tự quản lý và tự
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài đợc thành lập theo hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn có t cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài đợc thành lập sau khi cơ quan Nhà nớc
có thẩm quyền về hợp tác và đầu t Việt Nam cấp giấy phép đầu t và chứng nhận
đăng ký điều lệ doanh nghiệp. Vốn pháp định và thời hạn hoạt động của doanh
nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài đợc qui định giống nh đối với doanh nghiệp
liên doanh.Vốn pháp định ít nhất bằng 30%. Vốn đầu t của doanh nghiệp trong
trờng hợp đặc biệt thì tỷ lệ này có thể thấp hơn 30% nhng phải đọc cơ quan
thẩm quyền về hợp tác đầu t của Việt Nam chấp nhận.
4. Khu chế xuất và khu công nghiệp
a. Khu chế xuất
Khu chế xuất có những tên gọi khác nhau và các định nghĩa về nó cũng rất

xây dựng và kinh doanh công trình cơ sở hạ tầng; sản xuất gia công lắp ráp các
sản phẩm công nghệ để xuất khẩu và tiêu thụ tại thị trờng trong nớc; các dịch vụ
hỗ trợ sản xuất hàng công nghiệp. Về mặt pháp lý thì các khu công nghiệp tập
trung là phần lãnh thổ của nớc sở tại, các doanh nghiệp hoạt động trong khu
công nghiệp tập trung chịu sự điều chỉnh của luật pháp nớc sở tại.
5. Tác động của đầu t trực tiếp
Hoạt động đầu t trực tiếp có những tác động tích cực và những tác động
tiêu cực đối với các bên tham gia đầu t. Vì vậy trớc khi tham gia đầu t chúng ta
phải đánh giá đợc những tác động từ đó đa ra đợc những quyết định đúng đắn
a. Đối với bên xuất khẩu vốn đầu t
- Tác động tích cực
6
Đối với bên xuất khẩu vốn: họ có khả năng trực tiếp kiểm soát đợc hoạt
động của doanh nghiệp và họ đa ra những quyết định có lợi cho mình. Do đó
vốn đầu t đợc sử dụng có hiệu quả cao.Điều này cũng thật dễ hiểu bởi vì khi họ
trực tiếp bỏ vốn tham gia đầu t thì họ có quyền tham gia vào quản lý và ra quyết
định đối với các hoạt động đầu t để làm sao đạt đợc hiệu quả cao nhất vì mục
đích chính của họ là thu đợc lợi nhuận cao.
Chính đầu t trực tiếp đã giúp cho các chủ đầu t nớc ngoài chiếm lĩnh đợc
thị trờng nớc ngoài và nguồn cung cấp các nguyên liệu chủ yếu của nớc sở
tại.Khi mà thị trờng trong nớc đã bão hoà, nguyên liệu đầu vào trong nớc đã
khan hiếm thì để duy trì cho hoạt động đầu t, các nhà đầu t phải hớng sản phẩm
của mình ra thị trờng nớc ngoài để duy trì chu kỳ sống của sản phẩm, mặt khác
để khai thác các nguồn lực sẵn có của nớc ngoài phục vụ cho việc sản xuất các
sản phẩm của mình. Và đây là lý do quan trọng để các nhà đầu t nớc ngoài
mang vốn đi đầu t. Họ có thể khai thác đợc nguồn nhân lực rẻ mạt ở nớc ngoài
để làm giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động.
Thờng thì ở các nớc phát triển giá tiền lơng trả cho ngời lao động cao gấp
10-22 lần so với các nớc đang phát triển, nhất là ở các ngành đòi hỏi nhiều lao
động thì chi phí này rất lớn.Vì thế, để đảm bảo tính cạnh tranh về giá cả sản

nguyên thiên nhiên. Do sự kém phát triển về công nghệ, không đáp ứng đợc
những yêu cầu của việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhất là đối với những
ngành đòi hỏi dây chuyền công nghệ tiên tiến nh: dầu khí, khai khoáng nên các
nớc đang phát triển gặp không ít khó khăn trong việc khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên phục vụ cho sự phát triển đất nớc. Vì vậy họ phải hợp tác
với các nhà đầu t nớc ngoài để tránh lãng phí.
Một tác động nữa đó là giúp các nhà đầu t của nớc sở tại sử dụng có hiệu
quả đồng vốn, mở rộng tích luỹ và góp phần nâng cao tốc độ phát triển kinh tế.
Do có hoạt động đầu t mà vốn của các nhà đầu t nớc sở tại đợc sử dụng có hiệu
quả hơn vì họ đợc áp dụng các công nghệ hiện đại, đợc tiếp cận với phơng thức
quản lý mới khoa học hơn. Chính điều này đã tạo điều kiện cho họ sử dụng
đồng vốn một cách có hiệu quả.
- Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực trên thì đầu t trực tiếp cũng có một số
tác động tiêu cực đến phía tiếp nhận đầu t, cụ thể nh:
Nếu nớc sở tại mà không có một quy hoạch đầu t cụ thể và khoa học thì có
thể dẫn tới sự đầu t tràn lan và kém hiệu quả. Nh vậy thì tài nguyên thiên nhiên
bị khai thác quá mức dẫn đến lãng phí, môi trờng bị ô nhiễm nặng nề. Hạn chế
8
này đã xảy ra ở các nớc đang phát triển nh Việt Nam. Khi chúng ta cha có một
qui hoạch tổng thể cho các ngành, các lĩnh vực đầu t đã dẫn đến tình trạng khai
thác tài nguyên một cách lãng phí gây ra hậu quả nghiêm trọng về môi trờng và
khan hiếm về tài nguyên.
Một tác động nữa thờng xảy ra với phía tiếp nhận đầu t là: khi tiếp nhận,
do trình độ năng lực của nớc sở tại trong việc thẩm định công nghệ chuyển giao
có hạn nên dẫn tới việc chuyển giao những công nghệ lạc hậu vào trong nớc,
gây ảnh hởng tới quá trình sản xuất và ô nhiễm môi trờng.
Khi môi trờng chính trị không ổn định thì dẫn tới hạn chế nguồn FDI và n-
ớc sở tại thờng khó chủ động trong việc bố trí cơ cấu đầu t theo ngành và lãnh
thổ vì nó còn phụ thuộc nhiều vào phía đối tác nớc ngoài.

01/01/96-31/12/96 66 716,550247 254,843361
01/01/97-31/12/97 57 398,911013 134,092129
01/01/98-31/12/98 20 215,579680 4,439283
01/01/99-31/12/99 13 46,968809 9,5
01/01/00-01/06/00 11 26,262 17,484
10
Về vốn: nhìn vào bảng ta thấy khoảng thời gian từ 1989 đến 1993 thì tổng
số vốn đầu t mỗi năm của Nhật Bản chỉ đạt mức trung bình.Trong khi Nhật Bản
đứng đầu vế viện trợ mậu dịch thì họ lại chỉ giữ một vị trí khiêm tốn về đầu t
trực tiếp. Nguyên nhân phải kể đến đó là nền kinh tế Nhật Bản gặp khó khăn,
mặt khác hoạt động đầu t của các công ty Nhật Bản ở nớc ngoài bị giảm sút, thứ
nữa là ngoài Việt Nam thì Nhật Bản còn rất nhiều thị trờng khác để lựa chọn
Từ năm 1993 đến 1996, ta thấy, số dự án đăng ký thêm mỗi năm tăng lên
đáng kể và với số vốn cũng rất lớn.Mỗi năm có trung bình từ 15 đến 34 sự án đợc
đăng ký với số vốn đăng ký từ 111,271622 triệu USD ( 1993 ) lên đến 716,550247
triệu USD (1996 ), và số vốn thực hiện là từ 86,199395 trệu USD ( 1993 ) lên đến
254,843361 triệu USD (1996 ). Nguyên nhân của sự tăng lên này là do môi trờng
đầu t của Việt Nam có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu t Nhật Bản nh: môi trờng
luật pháp đợc sửa đổi; lệnh cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam bị bãi bỏ làm cho
các nhà đầu t của Nhật không bị ràng buộc khi đầu t vào Việt Nam.Mặt khác lúc
này nền kinh tế Nhật Bản cũng đã dần lấy lại đợc thế cân bằng và ngoài ra còn
nhiều nguyên nhân khác nữa...
Từ năm 1996 đến 01/06/2000 thì ta thấy mỗi năm số dự án tăng thêm ngày
càng giảm, nh năm 1997 có 57 dự án đăng ký với số vốn là 398,911013 triệu USD
và vốn thực hiện là 254,843361 triệu USD thì đến tháng 6/2000 số dự án đăng ký
là 11 dự án với tổng số vốn là 26,262 triệu USD và trong các năm từ 1996 đến
2000, số dự án đăng ký thêm tiếp tục giảm.
Nguyên nhân của sự giảm sút này là do bị ảnh hởng của cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ ở khu vực châu á và sự cạnh tranh gay gắt về thu hút vốn đầu t
của các nớc trong khu vực Đông Nam á, môi trờng đầu t của Việt Nam so với

tích cực vào nhiều lĩnh vực của các ngành kinh tế nh xây dựng cơ sở hạ tầng
khu công nghiệp bu chính viễn thông, vận tải, dầu khí, khách sạn, văn phòng.
Tuy nhiên các nhà đầu t Nhật Bản đã tập trung phần lớn vào các ngành công
nghiệp cụ thể ở biểu 2. Ta có thể thấy các nhà đầu t Nhật Bản tập trung phần lớn
vào các ngành công nghiệp nặng, các ngành này chiếm phần lớn số vốn và số
dự án, tiếp theo là đến các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp vật liệu. Trong
khi đó, chính những ngành công nghiệp này chúng ta lại đang rất cần để tiếp
thu học hỏi phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.
Nhật Bản đã tập trung vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, xây dựng cơ
sở hạ tầng và các cơ sở công nghiệp then chốt và đã bắt đầu tập trung vốn lớn ở
Việt Nam. Hầu hết các tập đoàn kinh tế thơng mại hàng đầu Nhật Bản nh Sony,
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status