TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIÊN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: Kinh tế quốc tế 1
class="bi x5 y5 w2 h4"
Chủ đề : Quá trình phát triển của EU và tác động đối
Giảng viên hướng dẫn: Tô Xuân Cường
Lớp: Kinh tế quốc tế 52A
Nhóm 5:
1. Tạ Thị Ngọc Ánh
2. Nguyễn Thành Công
3. Hoàng Quốc Đạt
4. Nguyễn Hà Giang
5. Trần Thị Hằng
6. Nguyễn Kim Hoàn
7. Hoàng Đình Khải
8. Hà Văn Linh
9. Nguyễn Thị Mai (nhóm trưởng)
10. Nguyễn Thị Thuỷ
11. Nguyễn Thị Thu Trang
12. Phạm Thị Hải Yến
HÀ NỘI – NĂM 2013
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Liên minh châu Âu hay Liên hiệp châu Âu (the European Union), viết tắt là EU, là
một liên minh kinh tế chính trị bao gồm 27 quốc gia thành viên thuộc châu
Âu. Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1 tháng
11 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC). Với hơn 500 triệu dân, Liên minh
châu Âu chiếm 30% (18,4 nghìn tỉ đô la Mỹ năm 2008) GDP danh nghĩa và
khoảng 22% (15,2 nghìn tỉ đô la Mỹ năm 2008) GDP sức mua tương đương của
cam kết trong giai đoạn 1996-2010 là hơn 11 tỷ USD, góp phần tích cực vào quá
trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. EU cam kết khoảng 1,01 tỷ USD cho
năm 2012, tương đương 13,24% tổng cam kết viện trợ nước ngoài. Tài trợ không
hoàn lại chiếm 32,5% (khoảng 324,05 triệu USD).
Hợp tác chuyên ngành, EC và các nước thành viên EU cũng hợp tác chặt chẽ với
Việt Nam trong nhiều lĩnh vực chuyên ngành thuộc các lĩnh vực ưu tiên của Việt
Nam và EU có thế mạnh như: hỗ trợ thế chế, khoa học công nghệ, giáo dục, pháp
luật, y tế, tài chính ngân hàng, nông nghiệp, văn hóa và du lịch
(Nguồn: Bộ Ngoại giao cập nhật đến tháng 6/2012)
2. Mục đích nghiên cứu:
+ Đưa ra những mốc lịch sử quan trọng trong việc hình thành và phát triển
của Liên Minh Châu Âu ( The European Union )
+ Những tác động của Liên minh Châu Âu đến thế giới như : các chính
sách thương mại, các hoạt động thương mại, hoạt động đầu tư trực tiếp FDI ,
sự ra đời của đồng tiền chung EUROZONE và ảnh hưởng của nó đến thế
giới.
+ Quan hệ hợp tác của EU với Việt Nam hiện nay và định hướng và một số
giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác về kinh tế Việt Nam –EU trong thời gian
tới.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Liên minh châu Âu qua các giai đoạn phát triển cùng các hoạt động sự hình
thành trật tự kinh tế thế giới, hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thị trường tài chính - tiền tệ thế giới, Quan hệ
hợp tác Việt Nam – EU và những triển vọng trong tương lai.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở những số liệu, bảng biểu thu thập được nhóm chúng tôi đã sử
dụng phương pháp phân tích thực chứng để phân tích về các hoạt động
thương mại trong và ngoài khối, hoạt động đầu tư FDI, tài chính tiền tệ và
các chính sách mà liên minh châu Âu đang thực hiện cũng như các chính
sách phát triển trong tương lai. Định hướng và một số giải pháp thúc đẩy
+ Năm 1957: Hiệp ước Rô-ma thành lập Cộng đồng Năng lượng nguyên
tử C hâu Âu (Euratom) và Cộng đồng Kinh tế C hâu Âu (EEC). EEC hướng tới
thiết lập thị trường chung, liên minh thuế quan (hoàn thành năm 1968) với sự di
chuyển tự do của vốn và lao động.
+ Năm 1967: Hiệp ước Hợp nhất 3 cộng đồng nói trên (ECSC, Euratom và
EEC), gọi chung là Cộng đồng Châu Âu (European Communities – EC)
+ Năm 1973 : Kết nạp Đan Mạch, Ai-len và Anh
+ Năm1981 : Kết nạp Hy Lạp
+ Năm 1986 : Kết nạp Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
+ Năm 1987 : Đạo luật Thị trường Thống nhất châu Âu (Single European Act)
sửa đổi Hiệp ước Rô-ma (1957) nhằm hòan thiện việc thiết lập thị trường chung
châu Âu.
+ Năm 1993: Hiệp ước Maastricht (còn gọi là Hiệp ước thành lập Liên minh
Châu Âu), đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hóa Châu Âu.
+ Năm 1995: Hiệp ước Schengen (về tự do di chuyển) có hiệu lực.
+ Năm 1995 : Kết nạp Áo, Phần Lan và Thuỵ Điển.
+ Năm 1997: Hiệp ước Amsterdam sửa đổi và bổ sung Hiệp ước Maastricht,
chuẩn bị cho việc mở rộng EU về phía Đông.
+ Năm 2001: Hiệp ước Nice tập trung vào vấn đề cải cách thể chế để tiếp nhận
các thành viên mới, đồng thời tăng cường vai trò của Nghị viện Châu Âu.
+ Năm 2002: Đồng Euro chính thức được lưu hành tại 12 nước thành viên EU.
+ Năm 2004 : Kết nạp thêm 10 thành viên mới là Síp, Séc, Xlô-ve-ni-a, Hung-
ga-ry, Lát-via, Li-thu-nia, Man-ta, Ba Lan, Xlô-va-ki-a và Estonia.
+ Năm 2007 : Kết nạp Bungari và Rumani
+ Năm 2009: Hiệp ước Lisbon, tên gọi đầy đủ là Hiệp ước sửa đổi Hiệp ước
Liên minh Châu Âu và Hiệp ước thành lập Cộng đồng Châu Âu.
1.1.2 Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của EU
Liên minh châu Âu có 7 thể chế chính trị chính đó là:
1.1.2.1 Nghị viện Châu Âu
Là cơ quan lập pháp của EU, bao gồm 626 nghị sĩ của các nước thành viên và được
có chức năng kiểm tra các khoản tài chính của EU để đảm bảo tính hợp pháp của
các khoản thu chi, đồng thời phối hợp với các cơ quan thể chế khác của EU để thực
hiện các hoạt động có liên quan đến tài chính của mình.
Thẩm quyền xem xét và sửa đổi hệ thống luật pháp của Liên minh châu Âu - quyền
lập pháp - thuộc về Nghị viện châu Âu và Hội đồng Bộ trưởng.
Quyền hành pháp được giao cho Ủy ban châu Âu và một bộ phẩn nhỏ thuộc về Hội
đồng châu Âu .
Chính sách tiền tệ của khu vực đồng tiền chung châu Âu được quyết định bởi Ngân
hàng Trung ương Châu Âu.
Việc giải thích và áp dụng luật của Liên minh châu Âu và các điều ước quốc tế có
liên quan - quyền tư pháp - được thực thi bởi Tòa án Công lý Liên minh châu Âu.
Ngoài ra còn có một số cơ quan nhỏ khác phụ trách tư vấn cho Liên minh châu
Âu hoặc hoạt động riêng biệt trong các lĩnh vực đặc thù:
Uỷ ban kinh tế và xã hội: là cơ quan đại diện cho lợi ích của các nhóm người trong
xã hội, có nhiệm vụ tư vấn, hỗ trợ cho Hội động Bộ trưởng và Uỷ ban châu Âu.
Uỷ ban về khu vực: có chức năng tư vấn cho các cơ quan thể chế của EU về các
vấn đề liên quan tới lợi ích của các đơn vị địa phương và khu vực.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu: đảm bảo trách những hiệm cấp phát tín dụng cho các
tổ chức nhà nước, các doanh nghiệp của các nước thành viên trên cơ sở nguồn vốn
của các nước thành viên đóng góp hoặc vốn vay quốc tế.
1.2 Hình thức và nội dung liên kết của EU qua các thời kỳ:
1.2.1 Về chính trị, xã hội
Liên minh Châu Âu là một thể chế đa phương, hội đủ các yếu tố để trở thành nhà
nước liên bang rộng lớn.Liên minh chính trị-xã hội Châu Âu có sức mạnh liên kết
lớn,có tầm ảnh hưởng chi phối đến không chỉ trong Liên minh mà còn các chức
quốc tế, các quốc gia trên thế giới.Do đó, vào ngày 07/02/1991, hiệp ước Maastrich
được kí kết tại Hà Lan đề cập nổi bật là mục tiêu chính trị xã hội. Đó là tăng cường
tính hợp pháp dân chủ của các tổ chức, phát triển các cộng đồng xã hội, thiết lập
chính sách bảo mật.
vực bằng các hiệp định song phương và đa phương.
1.2.2 Về an ninh quốc phòng
- Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ II và thất bại của phe trục, Hiệp ước
Dunkirk đã được ký kết bởi Pháp và Vương quốc Anh vào ngày 04 tháng ba năm
1947 như là một Hiệp ước của Liên minh và hỗ trợ lẫn nhau chống lại một cuộc tấn
công của Đức có thể gây hậu quả như thế chiến thứ 2
- Ngày 17-3-1948, ngoại trưởng của 5 nước là Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Luc-xăm-
bua đã ký Hiệp ước Brussels và thành lập liên minh phòng thủ quân sự ở Tây Âu.
Tuy nhiên với sự lớn mạnh của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũng như là
sự can thiệp của Mỹ vào các nước Tây Âu, ngày 4-4-1949, các nước Tây Âu cùng
với Mỹ và Canada đã thành lập khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) (hiện
nay có 21/27 quốc gia của EU tham gia vào NATO)
- Trong những năm 50, Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan, Luc-xăm-bua đã thực hiện các
nỗ lực để kết hợp quân đội của Tây Âu để thông qua hiệp ước thành lập Cộng đồng
phòng thủ châu Âu. Đề án này đã không có hiệu lực do không được Chính phủ
Pháp thông qua.
Đầu những năm 90, những tưởng mong muốn có một cơ chế an ninh chung cho cả
khu vực cũng sẽ mất đi cùng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh nhưng sự thay
đổi mau lẹ của tình hình thế giới và sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố lại tác
động tiêu cực đến khu vực này
- Hội nghị cấp cao Ma-xtrích (1992) và Hiệp ước Am-xtéc-đam (1997) đã thông
qua và phát triển chính sách đối ngoại, an ninh chung (CFSP) và chính sách phòng
thủ chung châu Âu (ESDP), từng bước vạch ra chiến lược an ninh chung, chiến
lược ngoại giao chung và thiết lập lực lượng phản ứng nhanh châu Âu với khả
năng triển khai 50.000 - 60.000 quân trong vòng 60 ngày tới tất cả các vị trí trong
bán kính 5.000 km tính từ Brúc-xen. Ngoài ra, EU còn có các cơ cấu phối hợp về
chính sách và tiến hành hoạt động quân sự (Ủy ban Chính sách và An ninh -
COPS) và sự chỉ đạo về quân sự (Ủy ban Quân sự EU - CMUE). Đã lập ra Bộ Tư
lệnh Quân sự châu Âu với 5 bộ chỉ huy quốc gia của lực lượng quân sự châu Âu
hoàn toàn độc lập với cơ cấu lực lượng và chỉ huy của NATO.
châu Âu sau này.
1.2.3.2 Thời kỳ 1957 – 1991: Hướng tới thành lập cộng đồng châu Âu (EC)
– Hình thành thị trường chung và thống nhất gồm 12 thành viên
Giai đoạn 1957 – 1964: Cộng đồng than thép châu Âu (ECSC), Cộng đồng kinh tế
Châu Âu (EEC) và cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu (EUROTOM) - Hiệp
ước ROME năm 1957: Ngoài liên minh về than thép, 6 nước thành viên ECSC đã
có thêm hình thức liên minh trên lĩnh vực năng lượng nguyên tử và các liên kết về
kinh tế khác, thị trường được mở rộng, liên kết sau và rộng trên nhiều lĩnh vực. Cụ
thể:
a. EEC: Thành lập một thị trường chung và thành lập liên minh thuế quan
- Việc thành lập một thị trường chung
Điều 2 của Hiệp ước EEC quy định cụ thể rằng "cộng đồng có trách nhiệm như là
nhiệm vụ của mình, bằng cách thiết lập một thị trường chung và dần dần xấp xỉ các
chính sách kinh tế của các quốc gia thành viên, để thúc đẩy trong suốt một cộng
đồng phát triển hài hòa các hoạt động kinh tế, mở rộng liên tục và cân bằng, sự gia
tăng ổn định, nâng cao mạnh mẽ của các tiêu chuẩn sống và gần gũi hơn mối quan
hệ giữa các quốc gia thuộc ".
Thị trường chung này được thành lập "quyền tự do bốn" nổi tiếng, đó là di chuyển
tự do của con người, dịch vụ, hàng hoá và vốn. Nó tạo ra một khu vực duy nhất
kinh tế thiết lập tự do cạnh tranh giữa các chủ trương. Nó đặt cơ sở cho việc xấp xỉ
các điều kiện điều chỉnh thương mại trong các sản phẩm và dịch vụ hơn và trên
những người đã được bao phủ bởi các điều ước quốc tế khác (ECSC và Euratom).
Điều 8 của Hiệp ước EEC rằng thị trường chung sẽ được dần dần được thành lập
trong giai đoạn chuyển tiếp 12 năm, được chia thành ba giai đoạn bốn năm. Mỗi
giai đoạn được phân công có một tập hợp các hành động được khởi xướng và thực
hiện thông qua đồng thời. Theo các trường hợp ngoại lệ, thủ tục quy định trong
Hiệp ước, hết thời hạn của giai đoạn chuyển tiếp cấu thành ngày cuối cùng mà tất
cả các quy tắc đặt ra phải có hiệu lực.
Thị trường đang được dựa trên nguyên tắc tự do cạnh tranh, Hiệp ước cấm các
thỏa thuận hạn chế và nhà nước hỗ trợ (trừ các derogations quy định tại Hiệp ước)
nâng tổng số thành viên lên gấp đôi (12 thành viên) tạo nên một thị trường
chung rộng lớn, liên minh được mở rộng về quy mô và từng bước liên kết chặt
chẽ hơn giữa các nền kinh tế trong khu vực.
Năm 1987 Đạo luật Thị trường Thống nhất châu Âu (Single European Act) sửa đổi
Hiệp ước Rô-ma (1957) nhằm hoàn thiện việc thiết lập thị trường chung châu Âu
Hướng tập trung chính trong giai đoạn này là để phát triển kinh tế và nông nghiệp
Giai đoạn này EC thể hiện mức độ nhất thể hoá nền kinh tế cao giữa các nước
thành viên, thể hiện thành lập một thị trường thống nhất, trong đó ngoài việc hàng
hoá, lao động và vốn đầu tư được tự do di chuyển, hàng rào thuế quan được gỡ bỏ
thì hệ thống thuế quan và chính sách thương mại chung cũng được thành lập, một
số chính sách đối với các lĩnh vực kinh tế khác cũng được thống nhất nhằm tăng
cường sức cạnh tranh đối với các khối kinh tế bên ngoài nhằm tiến tới một liên
minh chặt chẽ về chính trị.
1.2.3.3 Thời kỳ 1992 -1999: Liên minh châu Âu (EU) – Khu vực thị trường
tự do thống nhất rộng lớn, hướng tới thành lập liên minh kinh tế - tiền tệ gồm 15
thành viên
a. Hiệp ước Maastricht (7-2-1992) Thành lập liên minh châu Âu – EU: Trên lĩnh
vực kinh tế, EU tiến tới hợp nhất về kinh tế vì lợi ích chung của các dân tộc châu
Âu thông qua việc tạo một khu vực kinh tế rộng lớn, một khu vực thị trường tự do
thống nhất tạo điều kiện cho sự liên kết, thống nhất và hài hoà trong các lĩnh vực
khác.
b. Hiệp ước Amsterdam (2-10-1997): sửa đổi hiệp ước Maastricht nhằm đưa những
cố gắng của EU trong việc xây dựng một liên minh kinh tế - tiền tệ trở thành hiện
thực. Hiệp ước này đã tạo ra cơ sở pháp lý để đồng Euro – đồng tiền chung của các
nước châu Âu chính thức ra đời với tư cách đầy đủ của một đồng tiền thực thụ và
đi vào tiêu thụ từ ngày 1-1-1999
Việc hình thành liên minh kinh tế - tiền tệ được chia làm 3 giai đoạn, bắt đầu từ
1/7/1990 tới 1/1/1999, kết thúc bằng việc giải tán Viện tiền tệ châu Âu, lập Ngân
hàng Trung ương châu Âu (ECB).
Đây là thời kỳ EU chính thức có tên gọi như ngày nay, là bước chuẩn bị cuối cùng
khổ của chính phủ các nước thuộc EU nhằm thực hiện liên minh kinh tế và tiền tệ.
Nếu không có đồng tiền chung thì Thị trường chung châu Âu không thể hoàn thiện
và không có ý nghĩa nhiều trên thực tế.
(nguồn: hp://dav.edu.vn/vi/thong-n-tu-lieu/tap-chi-ncqt/cac-so-da-xuat-
ban/nam-1998/417-so-25-dong-euro-ra-doi-va-nhung-tac-dong-cua-no.html)
Đồng Euro là một trong những đồng ngoại tệ lớn trên thế giới và tạo cho châu Âu
một vị thế đáng kể trong các cuộc mặc cả kinh tế thế giới. Hơn thế, đồng Euro còn
là biểu tượng hữu hình cho sự thống nhất của khu vực.
Hiện nay khu vực Eurozone gồm 17 quốc gia: Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đức, Hà Lan,
Hy Lạp, Ireland, Luxembourg, Malta, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Italia,
Slovenia, Slovakia, Estonia. Cộng hoà Síp.
Ngân hàng trung ương châu Âu ECB, căn cứ trên các hiệp ước của liên minh châu
Âu, chịu trách nhiệm quản lý chính sách tiền tệ của đồng Euro nói chung và của
liên minh châu Âu nói riêng.
PHẦN 2: TÁC ĐỘNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU ĐỐI VỚI KINH TẾ
THẾ GIỚI
2.1 Đối với sự hình thành trật tự thế giới
Liên minh châu Âu (EU) đã thay đổi theo nhiều chiều hướng kể từ sau khi kết thúc
của Chiến tranh Lạnh. EU đã được mở rộng gấp ba lần vào năm 1995, năm 2004
và 2007. Do đó số lượng các nước thành viên tăng từ 12 đến 25 trong khoảng hai
thập kỷ. Điều này dẫn đến sựmở rộngvề địa lý của EU đến các khu vực mới như
Trung, Đông, Đông Nam châu Âu và Đông Địa Trung Hải.
Sự phát triển này cũng có nghĩa rằng EU đã trở thành hàng xóm Trung Đông và trở
nên gần gũi hơn với nhiều quốc gia khác. Việc mở rộng thứ hai sau khi kết thúc
của kỷ nguyên lưỡng cực đã được thực hiện bởi sự tham gia của một số của các
nước xã hội chủ nghĩa trước đây trên lục địa châu Âu. Đồng thời Liên minh cũng
bắt đầu thực hiện cải cách quan trọng để tăng cường hội nhập của nó. Trong khi
liên minh này thiết lậpchính sách đối ngoại và chính sách an ninh chung (CFSP)
cùng với Chính sách An ninh và Quốc phòng châu Âu (ESDP), EU cũngđã thành
lập Liên minh Tiền tệ châu Âu (EMU). Việc tạo ra các CFSP và ESDP là một bước
châu Mỹ La tinh, Thái Bình Dương, vùng Caribbean và Địa Trung Hải đã nhận
được viện trợ châu Âu. Viện trợ cho thế giới thứ ba đã có một chính sách châu Âu
truyền thống bởi vì nó đã được liên tục kể từ khi nền tảng của Cộng đồng kinh tế
châu Âu.
EU còn là khối thương mại lớn nhất thế giới. Nó tạo ra 1/4 tổng sản lượng thế
giới. Nó cung cấp thêm viện trợ cho các nước đang phát triển hơn so với bất kỳ
quốc gia nào, tổ chức khác. Đó là lĩnh vực kinh tế mà trên đó các quá trình hội
nhập châu Âu được thành lập vào những năm 1950 và nó đã được một lần nữa hợp
tác kinh tế, trong đó EU đã trở thành một trong các cường quốc hàng đầu thế giới.
Nói cách khác, nó có thể được coi là "một khối quyền lực kinh tế “
2.2 Đối với hoạt động thương mại quốc tế
2.2.1 Thương mại nội khối EU
a. Chính sách thương mại nội khối:
Chính sách thương mại nội khối tập trung vào việc xây dựng và vận hành thị
trường chung Châu Âu nhằm xóa bỏ mọi việc kiểm soát biên giới, lãnh thổ quốc
gia, biên giới hải quan để tự do lưu thông hàng hóa, sức lao động, dịch vụ và vốn,
điều hòa các chính sách kinh tế xã hội của các nước thành viên.
Chính sách thương mại nội khối của EU thường tạo cho các thành viên sự tự do
như ở trong quốc gia mình.
b. Hoạt động thương mại nội khối EU:
EU có nền thương mại lớn thứ 2 trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu không
ngừng tăng qua các năm, trong đó 60% là nhập khẩu giữa các nước thành viên với
nhau và 40% nhập khẩu từ các nước ngoài khối. Với GDP hàng năm ở mức hơn 10
nghìn tỷ USD, chiếm 20% GDP thế giới. Châu Âu là thị trường có sức tiêu thụ
khổng lồ. Trong đó, Đức, Pháp, Italia và Anh là những thị trường lớn nhất, chiếm
hơn 70% GDP toàn EU.
Thương mại nội khối EU có xu hướng liên tục tăng trong vòng 20 năm qua,
từ 800 tỉ Euro năm 1992 lên 2800 tỷ Euro năm 2011 (tăng gấp 3,5 lần); đóng
góp của thương mại nội khối vào GDP tăng từ 12% năm 1992 lên 22% năm
gia và 36 vùng lãnh thổ, trong đó các nước chậm phát triển nhất được ưu đãi
nhiều hơn theo sáng kiến “Mọi sản trừ vũ khí-EBA”
EU áp dụng nhiều biện pháp tác động trực tiếp đến nhập khẩu vào lãnh thổ
mình như thủ tục hải quan, quy tắc xuất xứ, thuế quan, thuế gián tiếp, giấy
phép, biện pháp tự vệ, quy tắc và tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, chống bán
phá giá…
Tất cả các nước thành viên EU phải áp dụng chính sách ngoại thương chung
đối với ngoài khối.
Chính sách ngoại thương của EU gồm chính sách thương mại tự trị và chính
sách thương mại dựa trên cơ sở Hiệp định được xây dựng dựa trên các
nguyên tắc không phân biệt đối xử, minh bạch, có đi có lại và cạnh tranh
công bằng.
EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hoá dưới hình thức đẩy mạnh
tự do hoá thương mại (giảm dần thuế quan đánh vào hàng hoá XNK và tiến
tới xoá bỏ hạn ngạch, GSP).
Chính sách ngoại thương của EU từ 1951 đến nay phân thành những nhóm
chủ yếu sau: chóm chính sách khuyến khích xuất khẩu, nhóm chính sách
thay thế nhập khẩu, nhóm chính sách tự do hoá thương mại, nhóm chính
sách hạn chế xuất khẩu tự nguyện.
Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại, EU đã thực hiện các
biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp xuất khẩu và chống hàng giả.
Chính sách ngoại thương của EU biểu hiện trong việc áp dụng một số chính
sách và công cụ đặc biệt, tiêu biểu là biểu thuế quan chung và chính sách
chống bán phá giá.
b. Hoạt động thương mại ngoại khối của EU
Thị trường chung Châu Âu đã khiến các công ty của EU trở nên mạnh hơn: giá trị
thương mại EU đã xuất khẩu sang những nước ngoại khối tăng từ 500 tỉ Euro năm
1992 lên 1500 tỉ Euro năm 2011 (gấp 3 lần); chiếm tỷ trọng tăng từ 8% GDP của
EU năm 1992 lên 12% GDP EU năm 2011.
Từ khi đồng tiền chung châu Âu xuất hiện và được lưu thông rộng rãi trong các