Tài liệu Báo cáo " Về bản Kiều vừa phát hiện ở Vinh" - Pdf 10

VỀ BẢN KIỀU VỪA PHÁT HIỆN ĐƯỢC Ở VINH Nguyễn Tài Cẩn

( I )

1/ Một bản Kiều chép tay vừa được phát hiện ở Vinh, trong tủ sách một gia đình con cháu
dòng họ Tiên Điền .Văn hoá Nghệ An đã xin Bảo tàng Nguyễn Du ở Nghi Xuân cho phép in
photocopie và đã có nhã ý gửi cho chúng tôi. .Chúng tôi rất xúc động và kính xin tỏ lòng
thành thực tri ân . Sau đây là vài nhận định sơ bộ của chúng tôi, kính xin báo cáo cùng đông
đảo bạn đọc biết .
2/ Điều đáng tiếc nhất là do có nhiều hoàn cảnh khó khăn trong các giai đoạn lịch sử vừa qua
nên việc bảo quản đã không giữ nguyên vẹn được 100% toàn bộ văn bản : phần mở đầu từ
câu 1 đến câu 904 , cũng như phần cuối từ câu 2813 đến câu kết thúc đều đã bị để mất. Ở phần
giữa thỉnh thoảng cũng bị rách nát hay khiếm khuyết một số đoạn , một số trang , làm cho
văn bản lại thiếu thêm khoảng gần 90 câu nữa . Như vậy chúng ta hiện chỉ còn lại trong tay
khoảng một nửa của Truyện Kiều mà thôi .
3/ Việc biên tập bản Kiều này chắc đã được tiến hành trong khoảng từ cuối thế kỉ XIX trở về
sau, vì người sao chép đã có đôi chỗ kị húy theo thói quen từ đời Thành Thái: như dùng chữ
THÌN để thay tên Tự Đức (xin xem câu 981) hay viết chữ CHIẾU thành chữ CHIỂU (xin xem
câu 1417).Thỉnh thoảng cũng có hiện tượng chép sót , chép sai câu này chữ nọ, sau phải móc
thêm vào bên cạnh., như hai câu 2067, 2068 chẳng hạn . Và tuy đã có người đọc lại, ghi thêm
hai chữ PHỤNG DUYỆT vào khoảng giữa những câu 1217 1220 , nhưng vẫn còn có những
câu , những chữ bị sót, bị sai hiện vẫn chưa được bổ sung , đính chính , ví dụ hai câu 1213 ,
1214 .Căn cứ nét chữ có thể phỏng đoán có một người chép chính nhưng đôi lúc người đó
cũng đã để cho người khác chép thay vào một số câu.
Việc sao chép như vậy là không được thật hoàn mĩ và tiến hành cũng khá chậm .
( II )
4/ Tuy nhiên , những gì may mắn còn giữ lại được vẫn hoàn toàn đáng được coi là một di sản
rất quí hiếm .

Việc kị húy chúa Trịnh Bồng lại thêm hai dẫn chứng : cách viết chữ BỒNG ở câu 2244 (
bỏ bộ THẢO đồng thời thay bộ MỘC bằng bộ THỦ ) cũng như cách viết chữ
BỒNG//BÒNG ở câu 2803 ( gia thêm bộ KHẨU ) hoàn toàn ăn khớp nhau giữa hai bản Vinh
và DMT, và cũng có sự ăn khớp chỉ riêng giữa hai bản ấy với nhau mà thôi .
Để khỏi dài dòng , có thể kết thúc bằng việc nói thêm về 2 trường hợp KÌ//CỜ ở câu 1473
và CỘI//CỔI: ở câu 1322 : chỉ bản Vinh và bản DMT là có chú ý đến việc thay tự dạng này !
Tât cả các bản còn lại đều nhất luật giữ nguyên dạng vốn có ở trong các bộ tự điển .
6/Việc thêm 2 câu (đưa 4 câu lên 6 câu hoặc đưa 6 câu lên 8 câu , tùy bản )ở đoạn Sở Khanh
mới gặp Kiều trước nay chúng ta biết cũng mới chỉ qua lời Cụ Nghè Mai kể lại và cũng chỉ
mới thấy ở bản DMT. Trong DMT , bốn câu phác thảo đầu tiên là: :

Quế trong trăng , hạnh trên mây
Cát lầm ( hay “cát bày “?) nỡ để cho đầy đọa hoa
Tiếc điều nhầm chẳng biết ta
Vể châu vớt ngọc dễ đà như chơi

Sau bạn bè khuyên chữa lại và thêm 2 câu vào đoạn giữa , thành 6 câu như sau: :
Giá đành trong nguyệt trên mây
Hoa sao hoa khéo giã giày bấy hoa
Nổi gan riêng giận trời già
Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng
Thuyền quyên ví biết anh hùng
Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi
Trong 10 câu ấy có những chỗ đáng ngờ như cách viết chữ HẠNH, chữ GAN, chữ GIÀ ,
nhưng không một bản nào khác có thể cho thêm thông tin ! Nay hoá ra bản Vinh cũng có đoạn
ấy ! Thật là bất ngờ !! Và thế là lại thêm một chứng cớ hùng hồn nữa về sự gần gũi nhau lạ kì
giữa hai bản Vinh và DMT.
Chú thích: Riêng trong bản Vinh còn thấy có sự sửa chữa thêm ở 2 câu tiếp theo sau đó,
so sánh:
Sơ thảo : Nàng vừa khuya tựa lầu mai

Đó lại là bản cổ nhất :
vì còn nhiều chỗ theo sát truyện Tàu ,chưa kịp nhuận sắc lại ;
vì các vết tích né tránh tên vua Lê chúa Trịnh nhiều hơn các bản khác;
vì khi Gia Long lên , rất sợ Gia Long nên nó áp dụng triệt để nhất lệnh kị húy năm 1803 .
và vì về từ ngữ , nó cũng còn lưu lại nhiều cách nói rất xưa , rất đặc trưng cho hai vùng quê
Nghệ Tĩnh và Thái Bình.
Nhưng nó cũng có nhiều nhược điểm : nó đã phải đi từ Bắc vào Nam , bị chép đi chép lại
nhiều lần ở Huế, ở Gia Định . Nó lại sai rất nhiều chỗ vì văn bản Nôm mà lại giao cho thợ
Trung Quốc ở Quảng Đông in thì làm sao tránh được điều đó .
Vậy nay có thêm được một bản cùng gốc với DMT mà lại có lai lịch khác DMT thì còn có
gì quý bằng ! Không nên có ảo tưởng ngây thơ là ở bản Vinh cái gì cũng hay cũng đúng cả !
Nó tránh được những cái nhược ở những điểm này của DMT thì nó lại có thể đẻ ra những cái
sai kia ở những điểm khác. Và bên cạnh rất nhiều chỗ cùng đúng ,cùng hay lại còn có cả
những điểm cùng sai như nhau !
( sai do cùng chấp nhận một lối ghi Nôm không chuẩn mực lưu lại từ xưa , hay sai do sao lại
một cách máy móc lối viết của bản cũ ) .Nhưng dầu sao , nay có thêm một bản nữa , cùng gốc
với DMT, để cân nhắc, so sánh thì cũng hơn hẳn cái thời chỉ có độc một mình bản in năm
1872 ! Có thể nói cái quý đầu tiên của bản Vinh là nó đã góp phần vừa có chỗ bổ sung , uốn
nắn vừa có chỗ ủng hộ , củng cố vừa có chổ đặt ra những điểm nghi vấn cho người nghiên
cứu, làm cho cái giá trị khoa học của bản DMT được vững chắc hơn thêm một bước !
9/ Hơn nữa chúng tôi cũng đã từng cố gắng tìm hiểu vấn đề tác động của bà con , bạn bè ,
cũng như của các vị đã từng tham gia đính ngoa, nhuận sắc , khắc in, sao chép vào bản
nguyên tác của nhà thơ , đưa đến 3 loại dị bản cặp đôi giữa chỉ 2 miền , với số lượng như sau :
a) 359 dị bản có chung giữa DMT và miền Bắc, khác hẳn Huế ;
b) 106 dị bản có chung giữa Bắc và Huế, khác hẳn DMT ;
c) và 101 dị bản có chung giữa Huế và DMT, khác hẳn các bản miền Bắc .
Đi theo hướng này chúng ta thấy : tuy đa số dị bản thường giống nhau giữa bản Vinh và bản
DMT / 82% ở trường hợp a), 66% ở b) và 77% ở c) / nhưng cũng có một thiểu số dị bản
khác nhau giữa hai bên. : một bên sai một bên đúng ; một bên dở một bên hay hoặc cả hai bên
đều vào loại gần như tương đương nhau , người đánh giá thế này, người đánh giá thế nọ .


Câu Ở các bản miền Bắc và Huế Ở bản DMT / 1872
1310 Thang lan rủ bức trướng hồng TẨM HOA SẠCH HOA
1479 Tin nhà ngày một VẮNG TIN THẦM TIN
1593 NON QUÊ thuần vược bén mùi NON XUÂN
1657 GIÓ CAO ngọn lử càng cao GIÓ TUNG
1798 Lấy câu vận mệnh KHUÂY DẦN nhớ thương CỔI DẦN
1991 Thiền trà CẠN nước (//chén) hồng mai RÓT NƯỚC
2037 Xăm xăm gõ MÉ CỬA NGOÀI GÕ CỬA BƯỚC VÀO
2038 Trụ trì nghe tiếng rước mời vào trong

Chỉ đọc qua ai cũng thấy ngay rằng các dị bản của phía DMT đều không hay , thậm chí ở câu
cuối còn thất vận . Trước đây chúng tôi dều đành phải cố gắng tìm cách xử lí : hoặc cho là bị
chép sai ,phải đính ngoa , hoặc tìm lí do này lí do nọ để gượng gạo chấp nhận . Nay bản Vinh
ủng hộ phía các bản miền Bắc và Huế !Vậy là rõ :các dị bản ở DMT /1872 không phải là sản
phẩm của cụ Nguyễn Du ! Đó chỉ là sản phẩm của sự tam sao thất bản trên đường truyền bá từ
miền Bắc vào miền Nam mà thôi !

12/ Trong 56 dị bản hiện có , thuộc trường hợp c) , cũng có thể dẫn những câu như :

Câu Ở Huế và DMT / 1872 Ở các bản miền Bắc
1148 : CHÚT lòng trinh bạch từ SAU CŨNG CHỪA XÓT LÂU ĐẾN GIỜ.(LVĐ).
1258 : Trân cam ai kẻ đỡ thay VIỆC mình MỘT mình
1294 : Ngày xuân lắm lúc QUÊN về với xuân ĐI về
1391 : Quyết NGAY biện bạch một bề NGHE
1509 : Đôi ta chút nghĩa ĐÈO BÒNG BÈO BỒNG
1578 : Nào ai có khảo mà mình ĐÃ xưng LẠI
1655 : Tớ thầy CHẠY thẳng đến nơi NHẢY
1786 : Nước BÈO để chữ tương phùng kiếp sau Nước NON
2018 : RÀO cây lâu cũng có ngày bẻ hoa TRÈO

say đọc Kiều , tìm hiểu Kiều : thì Nguyễn Thiện lúc đó cũng đang cần rút kinh nghiệm Kiều
,để nhuận sắc Hoa Tiên ! . b)Về mặt quan hệ giữa bản Kiều Vinh và bản HOATIÊN NHUẬN
CHÍNH in năm 1875 chúng ta lại thấy :
Các vị chép Kiều thường không chú ý kiêng né tên húy của vua Dụ Tông (1705-1729),
riêng trong bản Kiều tìm được ở Vinh không hiểu tại sao 60% chữ Đường lại đều bỏ bộ
THỔ để tránh xa chữ húy THỊ+ ĐƯỜNG của vua ! Và trong bản HOA TIÊN NHUẬN
CHÍNH in năm 1875 của Nguyễn Thiện , phải chăng vì thế 75% chữ ĐƯỜNG ( 15 trên
tổng số 20 trường hợp ) lại cũng viết không có bộ THỔ !
Cách dùng từ ngữ cũng có điểm tương tự giữa 2 bên : bản Kiều Vinh đã chữa ĐỊNH LÒNG
của DMT ở câu 1496 thành ĐỊNH TÌNH thì ở HOA TIÊN NHUẬN CHÍNH (1875) ĐỊNH
TÌNH lại xuất hiện trở lại ở câu 625 ;
c) Còn về mối quan hệ giữa bản 1872 của DMT và bản 1875 của Nguyễn Thiện thì tình hình
cũng được minh họa bằng một số ví dụ, như :
Trong tất cả các bản Kiều cổ , bản DMT / 1872 là bản duy nhất không mở đầu bằng
TÀI,MỆNH mà mở đầu bằng TÀI , SẮC : thì trong HOA TIÊN NHUẬN CHÍNH , Nguyễn
Thiện cũng thay câu của Nguyễn Huy Tự bằng câu :
Trăm năm một sợi chỉ hồng
Đặt người TÀI SẮC vào trong khuôn trời
Thêm vào đó, trong 9 bản Kiều thế kỉ XIX , cũng chỉ có bản DMT dùng 2 chữ DIỄU
QUANH (ở câu 274 ) , và 2 chữ đó lại được Nguyễn Thiện dùng lại , khi nhuận sắc Nguyễn
Huy Tự : xin xem câu 429: DIỄU QUANH lũng hỏi thung tìm !
Những mối liên quan giữa bản DMT , bản Kiều Vinh , bản Hoa Tiên nhuận chính và vai
trò của Nguyễn Thiện như vừa nêu trên có lẽ không phải là ngẫu nhiên , nhưng dầu sao chúng
ta vẫn cần phải thận trọng, không thể dừng ở bước phỏng đoán! Nhất thiết phải điều tra tiếp
!Rất mong gia đình đã phát hiện ra bản Kiều Vinh gắng tìm hiểu trong các chi phái của dòng
họ ,xem thử có thể góp phần soi sáng thêm được phần nào vào vấn đề này hay không ? 1/ Phần chú thích trong bản Vinh có những chỗ đại để giống như ở LNP hoặc ở KOM nhưng
cũng có những chỗ hiện chỉ thấy nó có . Vậy đó là một phần chú thích có tính độc lập riêng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status