TÊN GỌI CỦA SÔNG HỒNG: DẤU TÍCH BIỂU HIỆN NÉT ĐA DẠNG VĂN HOÁ TRONG LỊCH SỬ
NGƯỜI VIỆT.
Trần Trí Dõi
Khoa Ngôn ngữ học
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI. 1.Sông Hồng và những tên gọi có trong lịch sử.
1.1. Sông Hồng là con sông giữ vị trí văn hoá vô cùng quan trọng không chỉ của riêng thủ dô
Hà Nội - Thăng Long ngàn năm văn hiến mà còn của cả vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Ngoài dòng
chảy chính đi qua Hà Nội, sông Hồng còn có nhiều chi lưu làm nên một châu thổ trù phú: đồng bằng
châu thổ sông Hồng. Cho đến hiện nay, cả trong ghi chép của lịch sử và cả trong sử dụng của dân gian
người ta đã nói đến những tên gọi khác nhau của con sông này. Do tính chất quan trọng của con sông
trong đời sống cộng đồng dân cư trong vùng, mỗi một tên gọi của nó đều ít nhiều phản ánh dấu vết văn
hoá của những chủ nhân đã từng sử dụng những tên gọi đó. Phân tích sự khác nhau của các tên gọi
sông Hồng theo nguồn gốc ngôn ngữ và cách cấu tạo, trong một chừng mực nhất định, sẽ giúp chúng
ta phần nào làm rõ tính đa dạng văn hoá trong tiến trình phát triển lịch sử của người Việt ở cái nôi hình
thành nền văn hoá của dân tộc. Bản đồ “các tiểu lưu vực của sông Hồng trên lãnh thổ Việt Nam”
1.2. Theo bức tranh phân loại ngôn ngữ ở khu vực hiện được nhiều người đồng tình và sử
dụng, Đông Nam Á có năm họ ngôn ngữ là Hán Tạng (Sino - Tibetan), Nam Á (Austroasiatic), Nam Đảo
(Austronesian), Thái - Kađai (Tai - Kadai) và Mông - Dao (Miêu - Yao) [TTD, (1999)]. Về ngôn ngữ, địa
bàn Việt Nam được coi là “bức tranh thu nhỏ của khu vực Đông Nam Á” nên ở đây cũng là vùng lãnh
thổ hiện diện năm họ ngôn ngữ này. Khi xem xét các tên gọi khác nhau của sông Hồng, chúng tôi sẽ
xuất phát từ sự phân loại ngôn ngữ nói trên để nhìn nhận tính đa dạng về nguồn gốc ngôn ngữ, qua đó
nhận diện tính đa dạng về văn hoá của chúng. Khi mà những cư dân cư trú trên lãnh thổ Việt Nam (và
Theo giải thích của những sách sử nói trên, hai tên gọi Phú Lương và Lô hay Lô Giang xuất
hiện sớm hơn cả. Tên Phú Lương có từ thời Cao Hùng Trưng và vào thời Lý nó vẫn và đã được sử
dụng. Còn tên gọi Lô hay Lô Giang có từ thời nhà Trần và đã được chép lại trong Đại Việt sử ký toàn
thư. Những tài liệu lịch sử cũng cho thấy hai tên gọi nói trên có tính kế thừa nhau nhưng không loại trừ
nhau trong lịch sử.
Ngoài những tên gọi được ghi chép đó ra, sông Hồng còn có một tên gọi dân gian là sông Cái.
Khi thực dân pháp xâm lược nước ta, con sông Cái này luôn “đỏ nặng phù sa” nên được người Pháp
gọi là “rivière rouge” (sông có màu nước đỏ/hồng) và tên gọi sông Hồng hay Hồng Hà bắt đầu được sử
dụng. Có thể nói, tên gọi sồng Hồng hay Hồng Hà được dùng phổ biến hiện nay chính thức xuất hiện
vào thế kỷ XIX.
2. Như vây, cả trong sử sách và tên gọi dân gian, sông Hồng có khoảng mười tên gọi khác
nhau và một số biến thể của mười tên gọi ấy. Dựa vào cách giải thích “nghĩa” (đúng hơn là lý do hay
cách thức) gọi tên, người ta có thể chia chúng làm ba kiểu khác nhau. Mỗi một kiểu tên gọi trong số đó
sẽ phản ánh “cách thức đặt tên” hay lý do gọi tên thể hiện nguồn gốc ngôn ngữ của những tên gọi ấy.
2.1. Nhóm thứ nhất là tên gọi sông Cái, sông Thao, sông Nhĩ Hà/Nhị Hà và sông Hồng/ Hồng
Hà. Đây là cách gọi tên thể hiện “tính chất, đặc điểm” của con sông do chủ thể nhận diện sử dụng ngôn
ngữ của mình để gọi tên sông.
- Sông Cái, có nghĩa là sông chính. Những cư dân Việt nói tiếng Việt có nguồn gốc Nam Á
(Austroasiatic) là chủ thể của cách gọi tên này. Bởi vì trong tiếng Việt, chúng ta có không ít những từ
hay ngữ như “ngón tay cái”, “đường cái”, “sông cái”, “cầm cái”v.v có nét nghĩa như thế. Có thể thấy,
việc nhận diện sông để đặt tên cho nó là căn cứ vào “tính chất” của sông: con sông giữ vai trò chính ở
vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ.
- Sông Thao, cũng có nghĩa là sông chính. Tên gọi Thao là tên gọi theo cách của người Việt
hoặc người Hán bắt nguồn từ tên gọi có nguồn gốc Thái - Kađai là tao (trong “nặm tao”, nghĩa là “sông
lớn, sông chính”). Ở Việt Nam, người ta cũng còn gặp một tên gọi kiểu như thế ở vùng Thái Nghệ An:
người Thái ở miền đất này gọi con “sông Cả” hay “sông Lam” của người Việt là “nặm Pao” với nghĩa là
“sông lớn, chính”. (Năm 2000, trong dịp tham dự hội nghị về ngôn ngữ và văn hoá Thái Áo Hoa do Viện
Khoa học Xã hội Vân Nam tổ chức ở huyện tự trị Tân Bình thuộc Ngọc Khê tỉnh Vân Nam Trung Quốc,
chúng tôi cũng thấy người Thái ở Tân Bình gọi đoạn thượng nguồn sông Hồng chảy qua đây trên lãnh
thổ Trung Quốc là “nặm tao” với nghĩa là “con sông chính” của vùng đất.
Khoái Châu)” [QSQTN, (2003), 251]. Khoái Châu thuộc địa phận tỉnh Hưng Yên ngày nay cũng là vùng
đất cổ có những địa danh như đền Đằng Châu, bãi Xích Đằng “là kho của các đời và là chỗ xung yếu
then khoá” [PHC (1960), 80].
- Sông Đại Hoàng là tên gọi sông Hồng từ Hưng Yên đến ngã ba Hoàng Giang hay ngã ba
Vường (điểm giao nối sông Hồng và sông Luộc), qua huyện Lý Nhân chảy ra biển. Ở đoạn này, sông
còn có một tên gọi khác nữa là Hoàng Giang. Có lẽ vì là khúc sông chảy qua vùng đất Đại Hoàng nên
người ta đã gọi sông Hồng nơi đây là Đại Hoàng hay Hoàng Giang [QSQTN, t3 (1997), 340].
Một điều cần chú ý là các tên gọi thuộc nhóm này thường chỉ thấy chỉ thấy dùng nhiều trong
sách vở. Sự “đóng khung” về phạm vi sử dụng hình như phản ánh có lẽ đây là những tên gọi Hán - Việt
và mỗi một tên gọi ấy thường chỉ gắn với một khúc đoạn sông cụ thể.
2.3. Nhóm tên gọi thứ ba là sông Phú Lương và sông Lô/Lô Giang. Đây tuy cũng là những tên
gọi Hán và Hán - Việt nhưng tính chất không phải như nhóm thứ hai “là để chỉ địa danh lãnh thổ nơi
con sông chảy qua” hay như nhóm thứ nhất “là cách gọi tên thể hiện đặc điểm của con sông”. Mặt
khác, những tài liệu lịch sử ghi chép về tên gọi sông Hồng đều cho thấy đây là hai tên gọi cổ xưa nhất,
khá chính thống và cũng được nhắc đến nhiều trong lịch sử. Việc không thuộc một trong hai phương
thức gọi tên sông đã nói ở trên và tính chất cổ xưa của nó, ở phương diện ngôn ngữ học lịch sử, ẩn
chứa nhiều điều thú vị.
Theo một vài kết quả nghiên cứu về nguồn gốc địa danh nói chung và tên sông nói riêng đã
được nhiều tác giả cũng như chúng tôi công bố [TTD (2001), (2005)], có cơ sở để nhận thấy rằng Phú
Lương và Lô Giang là cách Hán hoá rồi Hán - Việt hoá những tên gọi thuần Việt xưa có nguồn gốc
Nam Á. Nói một cách khác, hai tên gọi sông Hồng này mặc dù hình thức ngôn ngữ thể hiện là tiếng
Hán hay Hán - Việt nhưng “ý nghĩa” ban đầu của chúng lại thuần tuý mang nghĩa thuần Việt.
3. Để nhận thấy hai tên gọi bằng tiếng Hán và Hán - Việt này là căn cứ vào tên gọi thuần Việt
rồi ghi chép lại, chúng ta sẽ lần lượt quan sát những vấn đề sau đây.
3.1. Khi so sánh những địa danh Hán và Hán - Việt có liên quan với một địa danh thuần Việt
chúng ta dễ dàng nhận thấy địa danh Hán và Hán - Việt thường có hai âm tiết, còn địa danh thuần Việt
(cũng thường gọi là địa danh Nôm) sẽ chỉ có một âm tiết [TTD (2005)]. Trong hai âm tiết của địa danh
Hán và Hán - Việt, thường thường một âm tiết có mối liên hệ ngữ âm lịch sử với ngữ âm của âm tiết
địa danh thuần Việt. Đồng thời đôi khi giữa chúng cũng có liên hệ về mặt ý nghĩa. Chính mối liên hệ
ngữ âm lịch sử giữa hai dạng thức tên gọi này là lý do để chúng ta nhận biết tên gọi Hán hay Hán - Việt
vậy cũng có nghĩa chúng được dẫn xuất từ một dạng thức cổ xưa hơn.
Riêng biến thể lô/la với rào, tình hình có phức tạp hơn nhưng không phải là không tìm được
mối liên hệ ngữ âm lịch sử giữa chúng. Đối với âm đầu của âm tiết, sự tương ứng [l] ~ [r] cũng rất
thông thường (tiếng Việt: lim ~ rim, lâm ~ râm, lầm ~ rầm, long ~ rồng, lè ~ rè v.v.). Còn ở trường hợp
vần của âm tiết thì tương ứng giữa một vần đơn [o/a] (chỉ có một nguyên âm) với một vần phức [aw]
(gồm một nguyên âm và âm cuối bán nguyên âm) cũng không phải là hiếm. Những cặp tương ứng tru,
trù, gú, gi, chí, mi v.v ở phương ngữ Bắc Trung Bộ với phương ngữ Bắc Bộ trâu, trầu, gấu, giây, chấy,
mày v.v. của tiếng Việt cũng chính là sự tương ứng giữa một vần đơn (chỉ có một nguyên âm) với một
vần phức (gồm một nguyên âm và âm cuối bán nguyên âm) giốngnhư ở trường hợp lô/la ~ rào.
Rõ ràng, nhờ mối liên hệ ngữ âm lịch sử và ngữ nghĩa của chúng, chúng ta có cơ sở để nghĩ
rằng lô/la/rào là những biến thể ngữ âm của một âm tiết xưa có thể tái lập ở dạng [*lo], với nghĩa là
“sông” mà hiện nay nó chỉ thấy lưu lại ở tên riêng như sông Lô, sông La, Lô Giang hay tồn tại ở thành
tố chỉ tên chung như rào Quán, rào Nậy, rào Con (ở Hà Tĩnh) v.v. Dựa vào tính chất phương ngữ Việt
và phạm vi địa lý sử dụng của các họ ngôn ngữ ở địa bàn Đông Nam Á, dạng thức ngữ âm xưa [*lo] chỉ
có thể là dạng thức thuần Việt cổ xưa gốc Nam Á (Austroasiatic).
3.2.2. Trường hợp địa danh Hán hay Hán - Việt Phú Lương có sự khác biệt với Lô Giang. Ở
đây, âm tiết thứ hai lương là âm tiết cho thấy có một mối liên hệ ngữ âm lịch sử với tên gọi sông thuần
Việt cổ xưa cũng gốc Nam Á là [*klɔŋ/krɔŋ]. Tên gọi cổ xưa này cũng có hai biến thể ngữ âm và hai
biến thể sử dụng giống như lô và rào.
Trong tiếng Việt, không chỉ riêng sông Hồng trong tên gọi mang yếu tố lương. Chúng ta có sông
Hiền Lương/Minh Lương (sông Bến Hải), khe Lương (ở Vĩnh Linh) tỉnh Quảng Trị, sông Lương (sông
Chu) tỉnh Thanh Hoá, sông Phú Lương ở Thái Nguyên v.v. Việc dạng ngữ âm lương trở thành tên riêng
của nhiều con sông, vì thế, không phải là ngẫu nhiên. Nó rất có thể chính là dạng ngữ âm có những
biến thể khác hoặc là Hán - Việt long trong sông Hoàng Long ở Ninh Bình và công trong sông Công ở
Thái Nguyên, hoặc là rông của sông Đắc Rông (ở Quảng Trị) hay rằng trong tên sông Đà Rằng ở Phú
Yên.
Chúng ta biết, âm thuần Việt xưa có nguồn gốc Nam Á [*klɔŋ/krɔŋ] đã biến đổi có quy luật trong
tiếng Việt thành hai biến thể. Biến thể thứ nhất *klɔŋ/krɔŋ > sông hiện nay [HTC (1964] và nó trở thành
yếu tố tên chung trong phức thể địa danh kiểu sông Hoàng Long, sông Phú Lương, sông Lam Giang
v.v. Trường hợp này, hình như, nó cũng giống dạng ngữ âm thuần Việt xưa có nguồn gốc Nam Á [*lo]
“Hán - Việt” để có dạng thức như ngày nay.
4.1. Trước hết, chúng ta nói về tình trạng tên gọi xét theo nguồn gốc ngôn ngữ.
Tên sông Thao < [*taw] là tên gọi gốc Thái - Kađai. Về mặt ngôn ngữ, đây là tên gọi thuộc về
một ngữ hệ được coi là có mặt từ thời cổ xưa ở Đông Nam Á nói chung và ở bắc Việt Nam nói riêng.
Cư dân chủ thể của họ ngôn ngữ này cho đến hiện nay vẫn sở hữu một nền văn hoá đa dạng, phong
phú và đặc sắc. Tên gọi sông Thao, rõ ràng, là tên gọi thể hiện đặc điểm của con sông. Đặc điểm mà
người ta sử dụng để đặt tên cho sông Hồng là “to, chính, quan trọng” nhất ở vùng lãnh thổ.
Còn về những tên gọi có nguồn gốc ngôn ngữ Nam Á thì tình hình đa dạng hơn nhiều. Đầu tiên
là tên gọi sông Cái. Đây cũng là một kiểu tên gọi thể hiện đặc điểm của con sông. Những người dân
thuộc họ Nam Á rõ ràng cũng nhấn mạnh vị trí “to, chính, quan trọng” mà con sông này đảm nhận. Ở
đây rõ ràng một bộ phận cư dân nói ngôn ngữ Nam Á đã tri nhận vai trò của con sông tương tự như
cách gọi tên của cư dân nguồn gốc Thái - Kađai. Do hai tên gọi “sông Thao” và “sông Cái” đều là loại
tên gọi căn cứ vào đặc điểm hay tính chất/vai trò của con sông mà có nên chúng ta có lý do để có thể
nói rằng chúng “mới hơn” so với hai tên gọi có dạng Hán - Việt hiện nay là lương và lô.
Khác với tên gọi sông Cái, tên gọi Phú Lương dẫn xuất từ lương hoặc long, công, rông, rằng
< [*klɔŋ/krɔŋ]. Tên gọi này, như vậy, bắt nguồn từ danh từ chung nghĩa ban đầu là “sông”. Về sau, nó
trở thành yếu tố địa danh chỉ tên riêng trong một phức thể địa danh “sông Sông”. Và sau nữa, khi Hán
hoá, yếu tố Sông trong phức thể địa danh “sông Sông” chuyển thành Phú Lương và ta có địa danh
“sông Phú Lương” như ngày nay. Tương tự như vậy, tên gọi Lô/Lô Giang dẫn xuất từ lô, la, rào < [*lo],
một danh từ chung với nghĩa ban đầu là “sông”. Trường hợp này, nó trở thành yếu tố địa danh chỉ tên
riêng trong một phức thể địa danh “sông Lô”. Và khi Hán hoá, yếu tố Lô trong phức thể địa danh “sông
Lô” hoặc chuyển thành song tiết Lô Giang hoặc vẫn đơn tiết là Lô như chúng ta có hiện nay.
4.2. Nếu sự nhìn nhận nguồn gốc ngôn ngữ và cách thức đặt tên của địa danh sông Hồng như
trên có thể chấp nhận được, rõ ràng chúng ta có chứng cớ để suy luận về một hiện tượng văn hoá. Nói
khác đi, người ta có cơ sở để nêu ra một vài nhận xét thú vị sau đây.
Hình như, trong mười tên gọi sông Hồng hiện đang dùng hay được ghi lại trong sử sách, hai
địa danh Hán - Việt Phú Lương và Lô/Lô Giang là dẫn xuất từ dạng thức địa danh có nguồn gốc Nam Á
cổ xưa nhất. Thứ đến là địa danh Thao gốc Thái - Kađai và Cái cũng là gốc Nam Á. Những địa danh
Hán - Việt còn lại lần lượt xuất hiện về sau và có lẽ Hồng/Hồng Hà là địa danh xuất hiện muộn nhất,
gần thời đại chúng ta nhất. Đối với các địa danh sông Phú Lương, sông Lô/Lô Giang, sông Thao và
7. Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hoá, Huế 1997, Tập 3,
Tập 4.
8.Quốc sử quán triều Nguyễn (2003), Đồng Khánh dư địa chí, Nxb Thế giới, Hà Nội 2003.
9. Nguyễn Văn Siêu (1997), Đại Việt địa dư toàn biên, Nxb Văn hoá, Hà Nội.
- (2003), Phương Đình dư địa chí, Nxb Thế giới, Hà Nội 2003.
10. Ngô Thì Sỹ (1997), Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1998