LỜIMỞĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, ngày càng có nhiều doanh nghiệp sản xuất
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Các doanh nghiệp này cùng tồn tại,
cùng cạnh tranh nhau trong một môi trường pháp luật bình đẳng. Sự cạnh
tranh đó ngày càng trở nên khốc liệt hơn, đòi hỏi sản phẩm của các doanh
nghiệp làm ra ngày càng phải được nghiên cứu cụ thể, có chất lượng cao và
mẫu mãđa dạng. Song song với việc sản xuất doanh nghiệp cũng cần phải chú
trọng hoàn thiện kênh phân phối của doanh nghiệp sao cho phù hợp với việc
hiện đại hoá, chuyên môn hoá của doanh nghiệp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu
cầu quản lý, kinh doanh hiệu quả và xu hướng phát triển của doanh nghiệp
nói riêng, toàn xã hội nói chung.
Nhận thức được điều đó Công ty Cao su Sao vàng Hà Nội đã không
ngừng đầu tư theo chiều sâu, đa dạng hoá sản phẩm, cải tiến mẫu mã mặt
hàng, mở rộng thị trường tiêu thụ, công ty đãáp dụng phương thức bán hàng
mới nhằm mở rộng thị trường để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong
và ngoài nước.
Một trong những công cụ quản lý mang lại thành quả cho công ty như
ngày nay, không thể không kểđến vai trò của các công cụ marketing, trong đó
tiến hành thực hiện công tác quản lý tài chính mới và không ngừng đổi mới
nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công ty đóng một vai trò quan trọng, phản
ánh và giám sát tình hình sản xuất của doanh nghiệp nhằm góp phần đưa doanh
nghiệp vững bước tiến vào thế kỷ 21 và ngày càng có uy tín trên thị trường.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đặt ra cho công tác quản lý hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước nói chung vàở Công ty
Cao su Sao vàng Hà Nội nói riêng, sau khi đi sâu vào khảo sát và nghiên cứu
tình hình thực tếở Công ty, em đã chọn đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý sản xuất kinh doanh ở Công ty Cao su Sao vàng Hà Nội" làm
báo cáo thực tập của mình. Báo cáo của em gồm 3 phần:
Phần I: Tổng quan về Công ty Cao su Sao vàng Hà Nội
Phần II: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cao
su Sao vàng
không cóđối thủ cạnh tranh, bộ máy gián tiếp thì cồng kềnh, người đông song
3
hoạt động thì trì trệ, hiệu quả kém, thu nhập người lao động thấp, đời sống
khó khăn.
Năm 1988-1989, nhà máy trong thời kỳ quáđộ chuyển từ cơ chế hành
chính bao cấp sang cơ chế thị trường "Đây là thời kỳ thách thức và cực kỳ nan
giải của công ty, nó quyết định sự tồn vong của một doanh nghiệp xã hội chủ
nghĩa". Song với một đội ngũ lãnh đạo năng động, với tinh thần sáng tạo đoàn
kết, nhất trí, dám nghĩ, dám làm, nhà máy đã tiến hành tổ chức, sắp xếp lại
sản xuất có chọn lọc với phương châm vì lợi ích của nhà máy. Đến năm 1990,
tình hình sản xuất của công ty bắt đầu bước vào tình trạng ổn định, thu nhập
của công nhân viên chức có chiều hướng tăng lên. Điều này chứng tỏ nhà máy
có thể tồn tại và hoà nhập được trong cơ chế mới.
Từ năm 1991 đến nay, nhà máy đã khẳng định được vị thế của mình là
một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có doanh thu và các
khoản nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước. Thu nhập của người lao
động ngày càng được nâng cao, đời sống ngày càng được cải thiện.
Nhà máy được công nhận làđơn vị thi đua xuất sắc, được tặng nhiều cờ
và bằng khen của cấp trên. Các tổ chức đoàn thểđược công nhận làđơn vị
vững mạnh.
Từ những thành tích vẻ vang trên, theo quyết định của số 645/CNNG
ngày 27/8/1992 của Bộ Công nghiệp nặng đổi tên nhà máy cao su Sao vàng
thành Công ty Cao su Sao vàng. Ngày 1/1/1993 nhà máy được sử dụng con
dấu mang tên Công ty Sao Vàng.
Những năm gầm đâu (đặc biệt từ những năm 1995-1997), các sản phẩm
của công ty luôn được đánh giá cao, sản phẩm mang tên "Sao Vàng" luôn
được người tiêu dùng ưa chuộng vì truyền thống chất lượng. Công ty Cao su
Sao vàng trở thành biểu tượng tốt đẹp của chế biến cao su ở Việt Nam, xứng
đáng là con chim đầu đàn của ngành công nghiệp chế tạo các sản phẩm cao su
ở Việt Nam.
săm xe
Cân đong
Luyện
Lọc
ép xuất săm
Làm lạnh
Kiểm tra vàđịnh
dải cắt
Ráp van
Nối đầu săm
Lưu hoá
KSC
Phế bỏ
Đóng gói
nhập kho
Quá trình công nghệ sản xuất lốp xe đạp
Giải thích quy trình công nghệ sản xuất săm xe máy
7
Nguyên vật liệu
Cao su sống Hoá chất Vải mành Thép tanh
Cắt sống Sàng sấy Sấy Đảo tanh
Sơ luyện Phối liệu Cán tráng Cắt ran
Hồn luyện Xé vải Luồn ống
Nhiệt luyện Cắt cuộc ống Dập, cắt
Cán hình lốp Vòng tanh
Thành hình lốpCốt hơi
Định hình lốp
Lưu hoá lốp
KCS
Nhập kho
3.2. Cơ cấu sản xuất của Công ty
Kết cấu sản xuất của Công ty Cao su Sao vàng Hà Nội được phân làm 3
cấp: cấp công ty, cấp xí nghiệp, cấp phân xưởng. Mỗi cấp đều được phân
thành các bộ phận sản xuất: chính, phụ, phụ trợ. Em xin chỉ xét đến kết cấu
sản xuất ở cấp độ công ty. Quá trình sản xuất các sản phẩm của Công ty Cao
su Sao vàng được tổ chức thực hiện ở 4 xí nghiệp sản xuất chính và các chi
nhánh sản xuất khác: Chi nhánh cao su Thái Bình, chi nhánh cao su Nghệ An,
nhà máy cao su pin Xuân Hoà và một số xí nghiệp phụ trợ khác.
Sản xuất chính:
Xí nghiệp cao su số 1: Chuyên sản xuất săm lốp cao su, săm lốp xe
máy, roan cao su, dây cu roa, cao su chống ăn mòn, ống cao su…
Xí nghiệp cao su số 2: Chuyên sản xuất lốp xe đạp các loại ngoài ra còn
sản xuất tăm xe đạp các loại.
Xí nghiệp cao su số 3: Chuyên sản xuất săm lốp ô tô và sản xuất lốp
máy bay.
Xí nghiệp cao su số 4: Chuyên sản xuất các loại săm xe đạp.
Sản xuất phụ:
Chi nhánh cao su Thái Bình: sản xuất một số loại săm xe đạp (phần lớn
là săm lốp xe thồ) nằm trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Chi nhánh cao su Nghệ An: Chuyên sản xuất lốp xe đạp
Nhà máy pin cao su Xuân Hoà: Chuyên sản xuất pin, acquy, điện cực,
chất đốt hoá học và một số thiết bịđiện nằm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Các đơn vị phụ trợ:
+ Xí nghiệp năng lượng: Có nhiệm vụ cung cấp hơi nén, hơi nóng và
nước cho các đơn vị sản xuất kinh doanh.
+ Xí nghiệp cơđiện: Cung cấp điện máy, lắp đặt, sửa chữa điện cho toàn
công ty.
9
+ Xí nghiệp dịch vụ thương mại: có nhiệm vụ tiêu thụ các sản phẩm do
công ty sản xuất ra.
ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh của
công ty đứng đầu là trưởng phòng và phó phòng chịu sự lãnh đạo trực tiếp của
ban giám đốc.
Tại các xí nghiệp, phân xưởng có Giám đốc xí nghiệp và quản đốc phân
xưởng.
Quá trình sản xuất các sản phẩm của Công ty Cao su Sao vàng Hà Nội
được tổ chức thực hiện ở 4 xí nghiệp sản xuất chính và các chi nhánh sản xuất
khác: Chi nhánh cao su Thái Bình, chi nhánh cao su Nghệ An, nhà máy cao
su pin Xuân Hoà và một số xí nghiệp phụ trợ khác.
Xí nghiệp cao su số 1: Chuyên sản xuất săm lốp xe đạp, săm lốp xe
máy, roan cao su, dây cu roa, cao su chống ăn mòn, ống cao su…
Xí nghiệp cao su số 3: Chuyên sản xuất săm lốp ô tô và sản xuất lốp
máy bay.
Xí nghiệp cao su số 4: Chuyên sản xuất các loại săm xe đạp.
Chi nhánh cao su Thái Bình, sản xuất một số loại săm lốp xe đạp (phần
lớn là săm lốp xe thồ) nằm trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Chi nhánh cao su Nghệ An: Chuyên sản xuất lốp xe đạp.
Nhà máy pin cao su Xuân Hoà: Chuyên sản xuất pin, acquy, điện cực,
chất đốt hoá học và một số thiêt bịđiện nằm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Các đơn vị phụ trợ:
+ Xí nghiệp năng lượng: có nhiệm vụ cung cấp hơi nén, hơi nóng và
nước cho các đơn vị sản xuất kinh doanh.
+ Xí nghiệp cơđiện: Cung cấp điện máy, lắp đặt, sửa chữa điện cho toàn
công ty.
+ Xí nghiệp dịch vụ thương mại: Có nhiệm vụ tiêu thụ các sản phẩm do
công ty sản xuất ra.
11
+ Phân xưởng thiết kế nội bộ và vệ sinh công nghiệp: Có nhiệm vụ xây
dựng và thiết kế nội bộ, sửa chữa bảo dưỡng các công trình kiến trúc và máy
móc trong công ty.
ngoại, xuất nhập khẩu nguyên vật liệu và thành phẩm. Đồng thời giải quyết
các vấn đề có liên quan đến liên doanh, liên kết với các đơn vị nước ngoài.
Nghiên cứu nhu cầu thị trường, tìm và mở rộng thị trường (các đại lý, văn
phòng đại diện ở trong và ngoài nước).
Phòng quân sự bảo vệ: Tham mưu cho giám đốc về bảo vệ (bảo vệ
chính trị và kinh tế của công ty). Tổ chức kiểm tra sản phẩm ra vào của công
ty theo đúng quy chế hiện hành. Tổ chức hướng dẫn và thường xuyên trực
phòng cháy, chữa cháy đểđảm bảo an toàn cho công ty. Tham gia giải quyết
các vấn đề có liên quan đến an ninh chính trị của toàn công ty.
Phòng kỹ thuật: Tham mưu cho giám đốc về mặt kỹ thuật cao su bao
gồm quản lý và ban hành các quy trình các công nghệ sản xuất cao su, kiểm
tra để các đơn vị thực hiện tốt các quy trình đó, xây dựng ban hành và hướng
dẫn các định mức quy định tiêu chuẩn cấp bậc chuyên môn, tổ chức, thống kê
và cải tạo sản phẩm. Tổ chức nghiên cứu thực hiện các đề tài kế hoạch kinh
tế, phát triển các mặt hàng cao su mới, xử lý kịp thời các biến động trong
công nghệ sản xuất.
Phòng kỹ thuật cơ năng: Tham mưu cho giám đốc về mặt kỹ thuật cơ
khí, điện năng lượng. Quản lý ban hành các quy định về vận hành máy, về nội
quy an toàn và bảo vệ lao động, về vệ sinh môi trường. Giám sát kiểm tra để
các đơn vị thực hiện tốt các qui trình đó, đồng thời hướng dẫn, ban hành và
kiểm tra các định mức cơđiện và năng lượng.
Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS): Tham mưu cho giám đốc
về mặt chất lượng sản phẩm, tổ chức kiểm tra chất lượng các nguyên vật liệu,
các sản phẩm trước khi nhập kho theo đúng tiêu chuẩn Nhà nước ban hành.
Đồng thời chịu trách nhiệm đóng dấu các sản phẩm trước khi xuất xưởng.
13
Phòng thiết kế cơ bản: Tham mưu cho giám đốc về công ty xây dựng cơ
bản và thiết kế các công trình, lập kế hoạch tổ chức các phương án thi công và
kiểm tra nghiệm thu các công trình xây dựng, lắp đặt thiết bị trong công ty,
giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai, nhàđất theo đúng quy chế hiện
su được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực đời sống. Với những tính năng
đặc biệt như tính đàn hồi cao, sức bền lớn, ít bị mài mòn, không thêm nước
thấm khí… cao su được coi là nguyên liệu lý tưởng mà chưa có nguyên liệu
nào có thể thay thếđược, nhất là trong việc phục vụ ngành giao thông vận tải.
Do vậy nói đến cao su là nói đến ngành sản xuất săm lốp.
Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 50.000 chủng loại sản phẩm cao
su, chúng có mặt trong hầu hết các ngành của nền kinh tế quốc dân vàđược
phân bổ như sau:
+ 68% dùng trong ngành giao thông vận tải để sản xuất săm lốp các
loại.
+ 13.5% dùng trong công nghiệp để sản xuất các sản phẩm cơ học (dây
đai, băng tải, rulô cao su…)
+ 9,5% dùng trong công nghiệp sản xuất để các sản phẩm màn mỏng
(bang bay, găng tay phẫu thuật, capốt tránh thai..)
+ 5,5% dùng để sản xuất giày dép.
15
+ 2,5% dùng để sản xuất các sản phẩm cao su khác (laket lang bàn,
bang cao su…)
+ 1% dùng để sản xuất keo dán.
* Với những đặc điểm của sản phẩm cao su như trên khi sản xuất và
tiêu thụ cần phải chúý những yêu cầu sau đây:
+ Phải có hệ thống kế hoạch càng lớn vàđảm bảo thông thoáng với các
kệ giáđể hàng.
+ Người lao động phải được phụ cấp độc hại, chếđộ an toàn về môi
trường ở mức độ cao.
+ Các sản phẩm của công ty phải có ký hiệu, bao bì riêng để dễ nhận
biết. Thường xuyên quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng các
sản phẩm với các thông số cụ thể về kích thước mẫu mã, nhãn hiệu để người
tiêu dùng biết về sản phẩm và dễ phân biệt với các sản phẩm cùng loại của
công ty khác.