Tài liệu Bệnh lồi mắt do Basedow (Phần 2) - Pdf 10

Bệnh lồi mắt do Basedow
(Phần 2)
Bệnh mắt Basedow do có đặc tính đôi khi không song hành với bệnh chính
và có thể để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng liên quan đến giảm thị lực,
chính vì vậy mà nếu bệnh nhân có bệnh mắt Basedow cần được quan tâm
đúng mức cả từ phía chẩn đoán, điều trị và tiên lượng. Bệnh mắt Basedow
có thể giảm hoặc hồi phục hoàn toàn khi các biện pháp điều trị bệnh
Basedow đạt hiệu quả đưa bệnh nhân về tình trạng bình giáp và ổn định lâu
dài hoặc khỏi hoàn toàn. Tuy vậy, không ít các trường hợp bệnh mắt
Basedow tiếp tục tồn tại hoặc tiến triển sau khi bệnh nhân đã bình giáp. Điều
trị bệnh mắt Basedow bao gồm các biện pháp: Nội khoa, phóng xạ và phẫu
thuật.
1. Điều trị nội khoa bệnh mắt Basedow
Điều trị rối loạn chức nặng tuyến giáp là 1 biện pháp quan trọng hàng đầu ở
bệnh nhân bệnh mắt Basedow. Nhiễm độc hormon tuyến giáp có thể được
điều trị bằng các biện pháp dùng thuốc kháng giáp tổng hợp, iod phóng xạ
hoặc phẫu thuật cắt gần hoàn toàn tuyến giáp. Có khoảng 50% các trường
hợp bệnh mắt Basedow giảm hoặc hồi phục hoàn toàn khi bệnh nhân
Basedow về tình trạng bình giáp
Đối với những bệnh nhân có bệnh mắt Basedow mức độ nặng hoặc vẫn còn
bệnh mắt nhất là lồi mắt sau khi đã bình giác thì cần bổ sung các biện pháp
điều trị bệnh mắt Basedow. Điều trị nội khoa bệnh mắt Basedow bao gồm
các biện pháp sau:
+ Các biện pháp bảo vệ mắt tại chỗ: đeo kính tránh gió bụi, nhỏ thuốc chống
khô mắt và viêm kết mạc, nằm đầu cao để giảm phù ở mắt
+ Liệu pháp corticoid
Sử dụng corticoid nhằm mục đích làm giảm hoạt động của các phức hợp
miễn dịch bởi vì corticoid có tác dụng chống viêm và ức chế miễn dịch, làm

bình giáp, nồng độ TRAb có thể giảm song lồi mắt thì vẫn tiếp tục tồn tại
hoặc gia tăng mức độ. Liều lượng trung bình thyroxin sử dụng là 1,8
mcg/kg/ngày. Tuy vậy điều quan trọng vẫn phải duy trì thuốc kháng giáp
tổng hợp để giữ được tình trạng bình giáp. Khoảng 70-80% trường hợp dùng
thuốc kháng giáp tổng hợp kết hợp với thyroxin đã cải thiện được đáng kể
bệnh mắt Basedow

2. Chiếu xạ hốc mắt
Điều trị bệnh mắt bằng tia xạ đã được dùng trong 60 năm qua và hiện tại
vẫn là 1 trong những biện pháp chính để điều trị bệnh mắt Basedow. Thời kỳ
đầu các tác giả dùng tia xạ để chiếu vào vùng dưới đồi và vùng tuyến yên vì
dựa trên giả thiết cho rằng bệnh mắt là do yếu tố gây lồi mắt của vùng dưới
đồi và tuyến yên tiết ra. Sau khi đã có cơ chế bệnh sinh bệnh mắt Basedow
là do rối loạn miễn dịch gây ra những thay đổi ở các tổ chức của mắt thì tia
xạ được sử dụng chiếu trực tiếp vào hốc mắt – nơi diễn ra quá trình sinh
bệnh học của bệnh mắt Basedow
Chỉ định chiếu xạ hốc mắt:
- Lồi mắt Basedow không đáp ứng với liệu pháp corticoid
- Bệnh nhân có chống chỉ định hoặc có nhiều tác dụng không mong muốn do
dùng corticoid
- Bệnh nhân mất thị lực
Cơ chế tác dụng của tia xạ là chống viêm không đặc hiệu. Các tế bào
lympho có trong hốc mắt có độ nhạy cảm cao với tia xạ. Tia xạ còn ức chế
các tế bào sợi sản xuất ra GAG. Hiện nay hầu hết các trung tâm xạ trị đều
dùng tia từ 4-6 megavol, diện chiếu 4*4cm chếch từ ngoài vào ra sau hậu
nhãn để tránh tổn thương thể thủy tinh. Tổng liều chiếu là 20 Gy/1 mắt được
chia ra trong 10 ngày để tránh gây tổn thương thể thủy tinh và võng mạc.
Trong hầu hết các nghiên cứu, chiếu xạ hốc mắt tỏ ra rất có hiệu quả trên
bệnh nhân mức độ nhẹ hoặc trung bình khi bệnh mắt đang ở giai đoạn tiến
triển hoặc mới mắc. Hầu như không có chống chỉ định hoặc tác dụng phụ do

pháp điều trị chủ yếu bệnh mắt Basedow. Mục đích của phẫu thuật hạ áp hốc
mắt là lấy bớt đi các tổ chức phần mềm chứa đựng trong hốc mắt và / hoặc
cắt các thành xương hốc mắt để tăng thể tích hốc mắt nhằm giải phóng chèn
ép thị thần kinh, giảm độ lồi mắt và các biểu hiện khác ở mắt do chèn ép
mạch máu gây ra. Trước đây, do hạn chế về kỹ thuật, chỉ định mổ hạ áp chủ
yếu đặt ra khi bệnh nhân có giảm thị lực do chèn ép thị thần kinh hoặc có
chống chỉ định với chiếu xạ và corticoid. Trong 1 nghiên cứu tại trung tâm
Mayo Clinic ở 428 mắt các tác giả nhận thấy: chỉ định phẫu thuật giảm áp do
chèn ép thị thần kinh là 51%, do viêm tổ chức hốc mắt nặng – 27%, do lồi
mắt – 21% và do tác dụng không mong muốn của corticoid -1%. Tuy nhiên
do tiến bộ về kỹ thuật mà trong những nghiên cứu gần đây của Hiệp hội
nhãn khoa Hoa Kỳ thì có tới 20% trường hợp được chỉ định điều trị ngoại
khoa là do thẩm mỹ.
Phẫu thuật hạ áp hốc mắt được chia làm 2 phương pháp chính:
- Lấy mỡ tổ chức hốc mắt mà không cắt thành xương.
- Giảm áp bằng cắt thành xương hốc mắt
Tùy theo số lượng thành xương được lấy đi và đường vào hốc mắt mà cũng
có nhiều phương pháp mổ giảm áp hốc mắt. Mổ cắt bỏ thành ngoài có kỹ
thuật của Dollinger (năm 1911), mổ cắt bỏ thành trên của Naffziger (1931),
mổ cắt bỏ thành trong của Sewall (1936), mổ cắt bỏ thành dưới của Hirsch
và Urbanek (1930), mổ phối hợp cắt bỏ thành dưới và thành trong qua
đường xoang của Ogura và Walsh (1948) và đi đường trực tiếp vào ổ mắt
(đường j) của Anderson (1981).
Xu hướng phẫu thuật hiện nay là cắt bỏ thành trong và sàn hốc mắt bằng
đường đi qua kết mạc mi dưới hoặc qua bờ mi dưới có kết hợp lấy mỡ tổ
chức hốc mắt để giảm áp bởi vì kỹ thuật này quen thuộc với các nhà nhãn
khoa hơn và giảm được tỉ lệ nhìn đôi sau phẫu thuật (6% so với 41%) khi đi
vào hốc mắt qua xoang.
+ Phẫu thuật điều trị lác ở bệnh mắt Basedow nhằm mục đích khắc phục tình
trạng nhìn đôi. Với những bệnh nhân có độ lồi trung bình trở lên thì phẫu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status