Luận văn "Thị trường đầu ra cho sản phẩm thuỷ sản - thực trạng và tiềm
năng"
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Chương I. Lư luận chung về thị trường bản chất chức năng và vai tṛ của thị trường 2
1. Bản chất của thị trường 2
2. Chức năng của thị trường 2
3. Vai tṛ của thị trường 4
Chương II. Cơ cấu, chức năng và đặc điểm của thị trường thuỷ sản 6
I. Cơ cấu, chức năng của thị trường thuỷ sản 6
II. Đặc điểm của thị trường thuỷ sản 7
1. Độ cận biên thị trường và giá cả sản phẩm thuỷ sản 8
2. Sự h́nh thành giá cả theo thời vụ 9
3. Tính độc quyền của thị trường thuỷ sản 10
4. Thị trường sản phẩm trong nước c̣n mang tính nhỏ, lẻ 11
Chương III. Thị trường sản phẩm thuỷ sản thực trạng và tiềm năng 12
I. Thị trường nội địa 12
1. Cung - cầu và giá của các sản phẩm thuỷ sản trong nước 12
2. Những yếu tố ảnh hưởng tới thị trường thuỷ sản nội địa 18
3. Những tiềm năng của thị trường thuỷ sản nội địa 19
II. Thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam 20
1. Thị trường các nước Châu Á 20
2. Thị trường EU 21
3. Thị trường Mỹ 22
III. Một số nhận xét và đánh giá về thực trạng và tiềm năng 24
1. Khai thác hải sản 24
2. Chế biến và dự trữ 26
3. Tiêu thụ sản phẩm 26
Kết luận 28
Tài liệu tham khảo 29
LỜI MỞ ĐẦU
giá trị; quy luật cạnh tranh....
- Thị trường là sự trao đổi ngang giá và tự do đối với sản phẩm làm ra; gắn sản xuất với
tiêu dùng, buộc sản xuất phải phục tùng nhu cầu tiêu dùng.
- Một thị trường cân đối th́ giá cả của nó phải phản ánh chí phí sản xuất xă hội trung b́nh,
do đó buộc người sản xuất phải giảm chi phí, tiết kiệm nguồn lực, nâng cao năng suất và
chất lượng sản phẩm.
2- Chức năng của thị trường.
a- Cơ cấu của thị trường.
Cơ cấu tổ chức của thị trường gồm các nhóm chủ thể kinh tế với chức năng riêng biệt
của nó trong hệ thống thị trường.
Các nhóm chủ thể kinh tế này có quan hệ với nhau thông qua dây chuyền Marketinh
sau:
Người sản xuất - Người bán buôn - Người chế biến - Người bán lẻ - Người tiêu dùng.
Mỗi mắt xích hay mỗi nhóm chủ thể trong dây chuyền Marketinh trên có một chức năng
riêng biệt trong hệ thống thị trường:
+ Người sản xuất: Người sản xuất bao gồm các doanh nghiệp, công ty sản xuất, hợp tác xă,
hộ gia đ́nh, trang trại có chức năng tạo ra sản phẩm trên cơ sở sử dụng các yếu tố đầu vào
của sản xuất, tạo ra giá trị mới bổ sung vào giá trị cũ được chuyển từ các yếu tố đầu vào.
+ Người bán buôn: Người bán buôn gồm các doanh nghiệp thương mại, hợp tác xă thương
mại, hộ gia đ́nh có chức năng đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người chế biến và do
phải thu gom, bảo quản, sơ chế...nên tạo thêm giá trị mới bổ sung vào sản phẩm làm tăng
giá trị sản phẩm.
+ Người chế biến: Người chế biến cũng bao gồm các doanh nghiệp, hợp tác xă, hộ gia đ́nh
có chức năng chế biến sản phẩm từ dạng thô sang sản phẩm có tính công nghiệp làm chất
lượng sản phẩm tăng thêm và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Do phải chi phí cho
chế biến làm cho giá trị sản phẩm tăng thêm.
+ Người bán lẻ: Người bán lẻ bao gồm các doanh nghiệp, đơn vị tập thể, tư nhân có chức
năng đưa sản phẩm từ nơi chế biến đến người tiêu dùng cuối cùng. Do phải chi phí cho
hoạt động thương mại do đó làm cho giá trị sản phẩm tăng thêm.
+ Người tiêu dùng: Người tiêu dùng là tất cả các thành viên trong xă hội có chức năng
Có nhiều kênh thông tin kinh tế, trong đó thông tin thị trường là rất quan trọng. Chức
năng thông tin thị trường bao gồm: Tổng cung, tổng cầu hàng hoá, dịch vụ, cơ cấu cung
cầu các loại sản phẩm hàng hoá trên thị trường, chất lượng, giá cả hàng hoá, thậm chí cả
thị hiếu, cách thức, phong tục tiêu dùng của người dân...Những thông tin thị trường chính
xác là cơ sở quan trọng cho việc ra các quyết định.
Các chức năng trên của thị trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, làm cho thị trường
thể hiện đầy đủ vai tṛ bản chất của ḿnh. Chức năng thừa nhận là quan trọng nhất, có tính
quyết định. Chừng nào chức năng này được thực hiện th́ các chức năng khác mới phát huy
tác dụng. Nếu chức năng thừa nhận đă được thực hiện mà các chức năng khác không thể
hiện ra th́ chắc chắn đă có những yếu tố phi kinh tế nào đó can thiệp vào thị trường làm
cho nó biến dạng đi.
3- Vai tṛ của thị trường.
Thị trường có một vai tṛ vô cùng quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế thị
trường . Thị trường là lĩnh vực trao đổi hàng hoá và dịch vụ thông qua các quy luật của
kinh tế hàng hoá, do đó nó là điều kiện cần và buộc phải có để kết thúc một chu tŕnh sản
xuất kinh doanh, thực hiện lợi nhuận cho nhà đầu tư. Thông qua thị trường, tất cả các chủ
thể kinh tế đều có thể tự do mua những ǵ ḿnh cần, bán những ǵ khách hàng muốn cũng
như ḿnh có thể đáp ứng, nhằm thu lợi nhuận. Giá cả thị trường được xác định bởi sự cân
bằng cung – cầu, do đó bí quyết để thành công trong kinh doanh là phải làm sao chiếm
được ḷng tin của khách hàng, mở rộng thị trường, thị phần cho sản phẩm của ḿnh. Ngoài
vai tṛ thực hiện lợi nhuận cho người kinh doanh, thị trường c̣n có vai tṛ trong việc phân bổ
những nguồn lực khan hiếm đều cho các ngành, các lĩnh vực và các chủ thể kinh tế thông
qua giá cả thị trường.
Qua những vai tṛ trên, hơn ai hết những người làm kinh tế và những người nghiên cứu
kinh tế phải đánh giá đúng tầm quan trọng của thị trường, từ đó có những giải pháp để t́m
kiếm và phát triển thị trường cho sản phẩm của ḿnh một cách phù hợp. Nắm được bí quyết
để tiêu thụ tốt, nhiều sản phẩm trên thị trường là một trong những thành công lớn mà bất
cứ người làm kinh tế nào cũng mong đạt được. Nhưng để đạt được thành công đó không
phải là vấn đề đơn giản, mà là cả một quá tŕnh nghiên cứu, t́m ṭi cũng như chấp nhận mạo
hiểm, rủi ro trong kinh doanh do chính thị trường mang lại.
tiếp cho các đơn vị chế biến hoặc những người bản lẻ ở các chợ hàng.
Người chế biến.
Người chế biến thuỷ sản bao gồm các doanh nghiệp, các đơn vị tập thể, các hộ gia đ́nh cá
thể. Họ thực hiện công việc mua gom sản phẩm thuỷ sản sơ chế từ những người bán buôn,
sau đó đem chế biến sản phẩm thuỷ sản này thành những sản phẩm có tính công nghiệp
phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của con người,
Người bán lẻ.
Người bán lẻ ở đây gồm các đơn vị tập thể, hộ gia đ́nh cá thể có nhiệm vụ cung cấp hàng
tiêu dùng thuỷ sản từ những đơn vị chế biến hoặc các đại lý tới tay người tiêu dùng cuối
cùng.
Người tiêu dùng.
Người tiêu dùng là tất cả các thành viên trong xă hội có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm
thuỷ sản. Họ có trách nhiệm thanh toán tất cả các chi phí từ khi khai thác, chế biến, lưu
thông hay nói khác đi là từ khâu sản xuất tới lúc tiêu dùng.
Các quá tŕnh trên được diễn ra liên tiếp để đảm bảo quá tŕnh sản xuất được khép kín,
đồng vốn được quay ṿng nhanh đem lại hiệu quả kinh doanh cho người sản xuất thuỷ sản.
Qua mỗi một mắt xích, sản phẩm thuỷ sản lại được tăng thêm giá trị cho đến khi tới tay
người tiêu dùng cuối cùng nó trở thành một sản phẩm hoàn hảo, phù hợp với nhu cầu, thị
hiếu của người tiêu dùng. Mỗi một nhóm chủ thể kinh tế trong dây chuyền Marketinh trên,
tuy có chức năng khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau, sản
phẩm của mắt xích này là nguyên liệu đầu vào của mắt xích tiếp theo. V́ vậy, tất cả các quá
tŕnh lưu thông hàng hoá qua các mắt xích trong dây chuyền Marketinh có diễn ra thông
suốt th́ mới đảm bảo cho thị trường sản phẩm thuỷ sản được ổn định và phát triển,
II- ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG THUỶ SẢN.
Do đặc điểm của sản xuất, chế biến và tiêu dùng hàng thuỷ sản, thị trường đầu ra cho
sản phẩm thuỷ sản là một thị trường đa cấp. Việc t́m hiểu, phân tích thị trường sản phẩm
đầu ra cho thuỷ sản là phân tích trạng thái cân bằng ở mỗi cấp thị trường.
Mỗi một loại sản phẩm thuỷ sản ( sản phẩm tươi, sản phẩm chế biến, sản phẩm khô...)
đáp ứng đ̣i hỏi của thị trường về tất cả các mặt như: thời gian, không gian, chất lượng, giá
cả, số lượng...Do vậy, chủ thể kinh tế tham gia trên dây chuyền marketinh cần bỏ ra những
phẩm thuỷ sản chưa qua chế biến gọi là nhu cầu phái sinh, xuất phát từ nhu cầu ban đầu ở
cấp bán lẻ có kết hợp cả sản phẩm thuỷ sản thô và dịch vụ. Đường cầu này được tạo ra khi
đem mỗi điểm trên đường cầu ban đầu trừ đi giá trị về các dịch vụ. Tương tự như vậy,
đường cung phái sinh cũng được tạo ra khi đem các giá trị trên đường cung ban đầu cộng
với các giá trị về các dịch vụ mà người tiêu dùng yêu cầu đối với người sản xuất. Giao
điểm của các đường cung và cầu này sẽ tạo nên giá cả của sản phẩm thuỷ sản trên thị
trường.
Khi người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cho độ thoả dụng mà hệ thống thị trường tạo ra về
thời gian, không gian, h́nh thức sản phẩm...th́ ở đây độ cận biên thị trường phản ánh mức
chuẩn bị đầy đủ thoả dụng đó cho người tiêu dùng. Mức độ và các loại chi phí cho sự “
chuẩn bị “ này hoàn toàn tuỳ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường
Muốn phân tích đầy đủ và cụ thể ta phải đi xét hai trường hợp cụ thể đó là:
Trường hợp độ cận biên thị trường không thay đổi ( trong thời gian ngắn) và trường hợp
độ cận biên thị trường thay đổi ( xét trong khoảng thời gian dài).
Sự h́nh thành giá cả theo thời vụ.
Ngành nông nghiệp nói chung và thuỷ sản nói riêng là một ngành sản xuất vật chất có
nhiều đặc điểm riêng, trong đó t́nh thời vụ khá cao là nét đặc trưng nhất. T́nh thời vụ của
sản xuất thuỷ sản thể hiện rơ ở sự biến động của giá cả thị trường theo thời vụ, đặc biệt là
tính không ổn định của giá cả thị trường đầu ra. ở đây, việc phân tích thị trường đầu ra cho
sản phẩm thuỷ sản tập trung vào sự h́nh thành giá cả thị trường theo thời gian.
Do đặc của ngành thuỷ sản, việc sản xuất kinh doanh phải dựa trên các qui luật sinh học
động thực vật thuỷ sinh nên tính mùa vụ của ngành thuỷ sản là khá cao. Vào đúng mùa vụ,
người sản xuất cung ứng sản phẩm theo nhu cầu của người tiêu dùng và do đó giá cả được
h́nh thành dựa trên quan hệ cung cầu. Nhưng vào lúc trái vụ, trong khi nhu cầu của người
tiêu dùng là không thay đổi th́ người sản xuất lại không có sản phẩm để bán hoặc do chi
phí để dự trữ sản phẩm thuỷ sản là quá lớn làm cho giá cả của sản phẩm trên thị trường
tăng lên, và ta dễ dàng nhận thấy là mức tăng lên của giá phải lớn hơn chi phí mà người
cung ứng bỏ ra để dự trữ sản phẩm( ở đây ta phải hiểu là sản phẩm thuỷ sản rất khó dự trữ
v́ đặc tính mau ươn, chóng hỏng của nó..)
Qua những phân tích trên ta thấy rằng tính mùa vụ trong sản xuất thuỷ sản đă làm cho giá