Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
Mục lục
Lời mở đầu
Việt Nam chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN từ năm 1986. Cơ chế mới đã mở ra nhiều cơ hội và
những thách thức mới đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và với từng doanh
nghiệp nói riêng. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường này, để tiến hành bất kỳ hoạt
động sản xuất kinh doanh nào, chủ thể kinh tế nào cũng cần phải chủ động về vốn, vốn
là yếu tốt cực kỳ quan trọng trong mọi hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế của bất kỳ một
quốc gia nào.
Trước kia trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp được Nhà nước cấp phát vốn,
lãi Nhà nước thu, lỗ Nhà nước bù. Do đó các doanh nghiệp không quan tâm đến hiệu
quả của quá trình sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn. Ngày nay khi
tham gia vào nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự đối mặt với sự biến động
của thị trường, với sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Muốn có được hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh của mình
các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để huy động và sử dụng vốn sao cho hợp lý.
Chuyên đề Thực tập
Page 1
Sv: Hoàng Mai Anh
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
Đây là việc làm cần thiết, cấp bách và có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp
cũng như nền kinh tế quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn như hiện nay.
Xuất phát từ quan điểm này, trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH
Thương mại Thịnh Vượng trên cơ sở những lý luận đã được học ở Trường Đại học
Công nghiệp Hà Nội và những kiến thức học được trong thực tế của doanh nghiệp,
cùng sự giúp đỡ tận tình của PGS. TS Hà Xuân Quang và các anh chị trong phòng
Kế toán của Công ty TNHH Thương mại Thịnh Vượng, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề
tài: "Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH Thương mại
Thịnh Vượng " làm chuyên đề thực tập của mình.
Tôi mong rằng đề tài này trước hết có thể giúp bản thân mình củng cố được tất cả
Như vậy doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có thể được coi là một tổ chức
kinh doanh nhằm mục đích sinh lời thực hiện kinh doanh trên các lĩnh vực theo luật
định, có mức vốn không thấp hơn mức vốn pháp định có một chủ sở hữu trở nên và
chịu trách nhiệm trước pháp luật bằng tài sản của mình.
Nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, tuy nhiên ở
nước ta giữ vai trò chủ đạo vẫn là doanh nghiệp Nhà nước. Điêu I luật Doanh nghiệp
Nhà nước quy định: “doanh nghiệp Nhà nước là một đơn vị kinh tế do Nhà nước đầu
tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh, hoạt động công ích nhằm
thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp Nhà nước có
tư cách pháp nhân tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi
số vốn do doanh nghiệp quản lý. Doanh nghiệp Nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng
và có trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam”.
1.1.1.2. Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Đối với một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thì khi tiến hành kinh doanh
phải đặt ra nhiều vấn đề trong hoạt động của mình và tất nhiên là không thể thiếu được
lĩnh vực tài chính. Vấn đề quan trọng nhất của doanh nghiệp trong tài chính là phải trả
lời ba câu hỏi: Nên đầu tư dài hạn vào đâu? Nguồn tài trợ cho đầu tư là nguồn nào?
Doanh nghiệp quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế nào?
Muốn vậy doanh nghiệp trước tiên phải tiến hành nghiên cứu thị trường về mức
nhu cầu sản phẩm, giá cả, chủng loại… trên cơ sở đó đưa ra quyết định cần thiết theo
một quy mô, công nghệ nhất định. Đó là quyết định đầu tư. Sau khi ra quyết định đầu
tư doanh nghiệp cần tìm nguồn tài trợ cho quyết định này. Và để hoạt động dầu tư
mang lại hiệu quả thì doanh nghiệp cần phải kiểm soát chặt chẽ các khoản phải thu chi
có liên quan đến quyết định dầu tư đó. Đó là việc quản lý tài chính hàng ngày.
Để hoạt động đó được diễn ra thường xuyên, liên tục thì bất cứ một doanh nghiệp
nào cũng cần phải có vốn. Vì vậy chúng ta sẽ đi sâu vào nghiên cứu vốn kinh doanh
nói chung và vốn lưu động nói riêng.
1.1.2. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Như đã phân tích ở trên để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hay tiêu thụ
sản phầm doanh nghiệp phải có vốn. Vậy vốn là gì?
tiềm năng của vốn. Để biến thành vốn thì tiền đó phải đưa vào hoạt động kinh doanh
để kiếm lời.
Vốn không tách rời chủ sở hữu trong quá trình vận động, mỗi đồng vốn phải được
gẵn với một chủ sở hữu nhất định. Trong nền kinh tế thị trường thì chỉ có xác định
được chủ sở hữu thì đồng vốn mới được sử dụng hợp lý không gây lãng phí và đạt
được hiệu quả cao
Vốn có giá trị về mặt thời gian và phải được tích tụ tới một lượng nhất định thì mới
có thể phát huy tác dụng. Doanh nghiệp không chỉ khai thác hết tiềm năng vốn của
mình mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài như vay trong nươc, vay
nước ngoài, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp
khác. Nhờ vậy vốn của doanh nghiệp tăng lên
Chuyên đề Thực tập
Page 4
Sv: Hoàng Mai Anh
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
Vốn được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.
Những người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn có thể đi vay, có nghĩa là
mua quyền sử dụng vốn của người có quyền sở hữu
1.1.2.3. Phân loại vốn
Người ta đứng trên các giác độ khác nhau để xem xét vốn của một kinh doanh của
một doanh nghiệp
- Trên giác độ pháp luật vốn kinh doanh bao gồm:
+ Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu cần phải có để thành lập doanh nghiệp do
pháp luật quy định với từng ngành, nghề và từng loại hình sở hữu doanh nghiệp. Dưới
mức vốn pháp định thì không thể thành lập doanh nghiệp
+ Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ của
công ty (doanh nghiệp). Tuỳ theo từng loại hình sở hữu, theo từng ngành, nghề, vốn
điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định
- Đứng trên giác độ hình thành vốn
+ Vốn đầu tư ban đầu: là vốn phải có khi thành lập doanh nghiệp, tức là vốn cần
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có tư
liệu sản xuất, đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất
kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ
một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện. Biểu
hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản lưu động, tài sản lưu
động của doanh nghiệp gồm tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông.
Tài sản lưu động sản xuất gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình
sản xuất được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tư
liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định. Thuộc về tài sản lưu động sản
xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm
dở dang, công cụ lao động nhỏ.
Tài sản lưu động lưu thông gồm: sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ, vốn bằng
tiền, vốn trong thanh toán.
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông.
Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản lưu động sản
xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn chuyển hoá lẫn nhau, vận động không ngừng
làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục trong điều kiện nền kinh tế hàng
hoá - tiền tệ. Để hình thành nên tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu
thông, doanh nghiệp cần phải có một số vốn thích ứng để đầu tư vào các tài sản ấy, số
tiền ứng trước về những tài sản ấy được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Như vậy, vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất là số tiền ứng trước về
tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình
Chuyên đề Thực tập
Page 6
Sv: Hoàng Mai Anh
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp diễn ra liên tục nên vốn lưu động cũng vận động liên tục, chuyển hoá từ hình
Chuyên đề Thực tập
Page 7
Sv: Hoàng Mai Anh
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường
xuyên liên tục nên vốn lưu động của doanh nghiệp cũng tuần hoàn không ngừng, lặp
đi lặp lại có tính chất chu kỳ gọi là sự chu chuyển của vốn lưu động. Do sự chu chuyển
của vốn lưu động diễn ra không ngừng nên trong cùng một lúc thường xuyên tồn tại
các bộ phận khác nhau trên các giai đoạn vận động khác nhau của vốn lưu động. Khác
với vốn cố định, khi tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu động
luôn thay đổi hình thái biểu hiện, chu chuyển giá trị toàn bộ một lần vào giá trị sản
phẩm và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm.
1.2.1.2. Phân loại vốn lưu động.
Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại vốn
lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Thông thường có những cách
phân loại sau đây:
* Phân loại theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành 3
loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản nguyên
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở
dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành phẩm,
vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý ); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn(đầu tư chứng
khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn ) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn;
các khoản vốn trong thanh toán(các khoản phải thu, các khoản tạm ứng ).
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong từng
trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài
chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.
* Phân loại theo nguồn hình thành.
Nếu xét theo nguồn hình thành vốn lưu động có thể chia thành các nguồn như
sau:
- Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn điều lệ
ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điêù lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
- Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá
trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết; là số vốn lưu động được hình thành từ vốn
góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên doanh có
thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá theo thoả thuận của các bên
liên doanh.
Chuyên đề Thực tập
Page 9
Sv: Hoàng Mai Anh
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
- Nguồn vốn đi vay: vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín
dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác.
- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, trái
phiếu.
Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp thấy
được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanh của mình.
Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó. Do đó
doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng
vốn của mình.
* Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn.
Theo cách này nguồn vốn lưu động được chia thành nguồn vốn lưu động tạm
Các khoản đầu tư ngắn hạn bao gồm chứng khoán ngắn hạn, góp vốn kinh doanh
ngắn hạn.
Các khoản phải thu: thực chất của việc quản lý các khoản phải thu trong doanh
nghiệp là việc quản lý và hoàn thiện chính sách tín dụng thương mại của doanh
nghiệp. Trong nên kinh tế thị trường chính sách tín dụng thương mại hợp lý vừa là
công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp đồng thời cũng giúp cho doanh nghiệp không bị
chiếm dụng vốn quá lớn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh
Hàng tồn kho bao gồm: nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang,
thành phẩm, bán thành phẩm, hàng hoá
Tài sản lưu động khác là biểu hiện bằng tiền của các khoản tạm ứng, chi phí trả
trước, chi phí chờ kết chuyển đây là những khoản mục cần thiết phục vụ cho nhu cầu
thiết yếu cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1.4. Huy động vốn lưu động
• Huy động vốn lưu động dài hạn
Vốn lưu động dài hạn có thể do Nhà nước cấp hoặc vốn tự có của các cổ đông
đóng vào. Trong hoạt động kinh doanh vốn lưu động dài hạn có vai trò cực kỳ quan
trọng trong việc thay đổi phương thức kinh doanh, phương thức đáp ứng nhu cầu của
khách hàng trên thị trường. Bên cạnh các nguồn có thể huy động trong nội bộ doanh
nghiệp còn có thể huy động vốn lưu động từ các nguồn sau:
+ Phát hành cổ phiếu
+ Phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi
+ Phát hành trái phiếu Công ty
+ Vay vốn dài hạn và vốn trung hạn của ngân hàng
+ Sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại theo hình thức tín dụng thuê mua
+ Liên kết đầu tư dài hạn với các doanh nghiệp trong ngoài nước để phát triển
Công ty
• Huy động vốn lưu động ngắn hạn
Tuỳ vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà lựa chọn các biện pháp huy
động vốn lưu động ngắn hạn như:
Vay ngắn hạn của các ngân hàng, vay các tổ chức tín dụng, vay cán bộ công nhân
pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh
nghiệp.
1.2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động.
Có ba nhóm nhân tố chính ảnh hưởng tới kết cấu vốn lưu động của doanh
nghiệp. Bao gồm:
- Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh nghiệp với
nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư
được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp.
Chuyên đề Thực tập
Page 12
Sv: Hoàng Mai Anh
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
- Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất của
doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản xuất;
trình độ tổ chức quá trình sản xuất.
_ Các nhân tố về mặt thanh toán như: phương thức thanh toán được lựa chọn
theo các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hành kỷ luật thanh toán
giữa các doanh nghiệp.
1.3. Sự cần thiết phải tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động ở các doanh nghiệp.
1.3.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng Vốn lưu động.
Trong điều kiện hiện nay, để tồn tại và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình, các doanh nghiệp phải đạt được hiệu quả, điều này phụ thuộc rất lớn vào
việc tổ chức quản lý và sử dụng nguồn vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng. Hiệu
quả sử dụng vốn lưu động là một phạm trù kinh tế phản ánh quá trình sử dụng các tài
sản lưu động, nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp sao cho đảm bảo mang lại kết quả
sản xuất kinh doanh là cao nhất với chi phí sử dụng vốn là thấp nhất.
Để đem lại hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh đồi hỏi các doanh nghiệp
phải sử dụng có hiệu quả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh trong đó có vốn
lưu động. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là những đại lượng phản ánh mối quan hệ so
thời kỳ nhất định, thường tính trong 1 năm. Công thức tính như sau:
M
VLĐ
Trong đó:
L: số lần luân chuyển(số vòng quay) của VLĐ trong kỳ.
M: tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ.
VLĐ; vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Kỳ luân chuyển VLĐ phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay VLĐ.
Công thức được xác định như sau:
360 VLĐ
360x
L M
Trong đó:
K: Kỳ luân chuyển VLĐ.
M,VLĐ: Như công thức trên.
Vòng quay vốn lưu động càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút
ngắn và chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả.
1.3.2.2. Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển.
Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiện
bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tuyệt đối và mức tiết kiệm tương đối.
Chuyên đề Thực tập
Page 14
Sv: Hoàng Mai Anh
L =
Hay K =
K =
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
- Mức tiết kiệm tuyệt đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp
có thể tiết kiệm được một số vốn lưu động để sử dụng vào công việc khác. Nói một
cách khác với mức luân chuyển vốn không thay đổi(hoặc lớn hơn báo cáo) song do
động kỳ kế hoạch phải nhỏ hơn vốn lưu động kỳ báo cáo.
- Mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp
có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm hoặc tăng
không đáng kể quy mô vốn lưu động. Công thức xác định số vốn lưu động tiết kiệm
tương đối như sau:
M
1
V
tktgđ
= x (K
1
– K
0
)
360
Trong đó:
V
tktgđ
: Vốn lưu động tiết kiệm tương đối.
M
1
: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch.
K
0
, K
1
: Kỳ luân chuyển vốn năm báo cáo và năm kế hoạch.
Điều kiện để có vốn lưu động tiết kiệm tương đối là tổng mức luân chuyển vốn
kỳ kế hoạch phải lớn hơn kỳ báo cáo và vốn lưu động kỳ kế hoạch phải lớn hơn vốn
lưu động kỳ báo cáo.
Trong đó:
VLĐ: vốn lưu động bình quân trong kỳ.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động tính với lợi nhuận trước thuế.
Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của vốn lưu động chưa có sự tác động của
thuế TNDN.
Công thức tính như sau:
LN trước thuế
Tỷ suất VLĐ trước thuế = x 100%
VLĐ
Chuyên đề Thực tập
Page 16
Sv: Hoàng Mai Anh
VLĐ =
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
- Tỷ suất lợi nhuận thuần: chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của vốn lưu động,
một đồng vốn lưu động có thể đạt được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần. Chỉ tiêu này
phản ánh mức sinh lời của vốn lưu động đã chịu sự tác động của cả thuế TNDN và lãi
vay.
Công thức tính như sau:
LN sau thuế
Tỷ suất VLĐ sau thuế = x 100%
VLĐ
Trên đây là một số chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá hiệu quả tổ chức và sử
dụng vốn lưu động của doanh nghiệp giúp cho nhà quản lý tài chính đánh giá đúng
đắn tình hình của kỳ trước, từ đó có nhận xét và nêu ra những biện pháp nâng cao
hiệu quả tổ chức quản lý vốn cho kỳ tiếp theo.
1.3.3. Vai trò của việc nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và sử dụng vốn
lưu động trong doanh nghiệp.
vốn lưu động đóng một vai trò rất quan trọng trong hợp đồng sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Trong cùng một lúc, vốn lưu động được phân bổ trên khắp
triển thì doanh nghiệp hoạt động phải có hiệu quả. Như đã phân tích ở trên, sử dụng
hiệu quả vốn lưu động là một nhân tố tích cực nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, không thể phủ nhận vai trò của việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Trên thực tế những năm vừa qua, hiệu qủa sử dụng vốn nói chung và vốn lưu
động nói riêng của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước đạt thấp.
Nguyên nhân chính là các doanh nghiệp chưa bắt kịp với cơ chế thị trường nên còn
nhiều bất cập trong công tác quản lý và sử dụng vốn.
Mặt khác, hiệu quả sử dụng vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng phản ánh tổng
hợp những cố gắng, những biện pháp hữu hiệu về kĩ thuật, về tổ chức sản xuất, tổ chức
thúc đẩy sản xuất phát triển. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là đảm bảo với
số vốn hiện có, bằng các biện pháp quản lý và tổng hợp nhằm khai thác để khả năng
vốn có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp.
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý,
hỉệu quả từng đồng vốn lưu động nhằm làm cho vốn lưu động được thu hồi sau mỗi
chu kỳ sản xuất. Việc tăng tốc độ luân chuyển vốn cho phép rút ngắn thời gian chu
chuyển của vốn, qua đó, vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt được số vốn lưu
động cần thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hoá bằng hoặc lớn
hơn trước. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn có ý nghĩa quan trọng trong
việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản phẩm.
Hơn nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu được
lợi nhuận và lợi ích xã hội chung nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trọng đặt ra tối
thiểu cho các doanh nghiệp là cần phải bảo toàn vốn lưu động. Do đặc điểm vốn lưu
động lưu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và hình thái vốn lưu động
thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn vốn lưu động chỉ xét trên mặt giá trị .
Bảo toàn vốn lưu động thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ được đủ mua một
lượng vật tư, hàng hoá tương đương với đầu kỳ khi giá cả hàng hoá tăng lên, thể hiện
Chuyên đề Thực tập
Page 18
Sv: Hoàng Mai Anh
thác triệt để nguồn vốn này sẽ vừa tạo ra được một lượng vốn cung ứng cho nhu cầu
sản xuất kinh doanh, lại vừa giảm được một khoản chi phí sử dụng vốn không cần
thiết do phải đi vay từ bên ngoài, đồng thời nâng cao được hiệu quả đồng vốn hiện
có.
Chuyên đề Thực tập
Page 19
Sv: Hoàng Mai Anh
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
- Nợ phải trả: là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay các
ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành
trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Trong nền kinh tế thị trường,
ngoài vốn chủ sở hữu doanh nghiệp còn huy động các khoản nợ phải trả để đáp ứng
nhu cầu vốn lưu động của mình. Việc huy động các khoản nợ phải trả không những
đáp ứng kịp thời vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh mà còn tạo cho doanh
nghiệp một cơ cấu vốn linh hoạt. Tuy nhiên, việc cân nhắc lựa chọn hình thức thu
hút vốn lưu động tích cực lại là nhân tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả của công
tác tổ chức vốn lưu động. Nếu doanh nghiệp xác định chính xác nhu cầu vốn lưu
động, lựa chọn phương án đầu tư vốn có hiệu quả, tìm được nguồn tài trợ thích ứng
sẽ đem lại thành công cho doanh nghiệp. Ngược lại nợ vay sẽ trở thành gánh nặng
rủi ro đối với doanh nghiệp.
1.4.1.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Vốn lưu động được vận động chuyển hoá không ngừng. Trong quá trình vận
động đó, vốn lưu động chịu tác động bởi nhiều nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử
dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
* Các nhân tố khách quan:
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của một số nhân tố:
+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Do tác động của nền kinh tế tăng trưởng
chậm nên sức mua của thị trường bị giảm sút. Điều này làm ảnh hưởng đến tình hình
tiêu thụ của doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ khó tiêu thụ hơn, doanh thu
sẽ ít hơn, lợi nhuận giảm sút và như thế sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn nói chung
động quá thấp sẽ gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh
nghiệp, Doanh nghiệp thiếu vốn sẽ không đảm bảo sản xuất liên tục gây ra những thiệt
hại do ngừng sản xuất, không có khả nang thanh toán và thực hiện các hợp đồng đã ký
kết với khách hàng.
+ Việc lựa chọn phương án đầu tư: là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất
ra những sản phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người
tiêu dùng, đồng thời giá thành hạ thì doanh nghiệp thực hiện được quá trình tiêu thụ
nhanh, tăng vòng quay của vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động và
ngược lại.
+ Do trình độ quản lý: trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém sẽ dẫn
đến thất thoát vật tư hàng hoá trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, dẫn đến sử dụng lãng phí vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
+ Do kinh doanh thua lỗ kéo dài, do lợi dụng sơ hở của các chính sách gây thất
thoát vốn lưu động, điều này trực tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng tới công tác tổ chức và sử
dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không tốt
tới hiệu quả tổ chức và sử dung vốn lưu động, các doanh nghiệp cần nghiên cứu xem
xét một cách kỹ lưỡng sự ảnh hưởng của từng nhân tố, tìm ra nguyên nhân của những
Chuyên đề Thực tập
Page 21
Sv: Hoàng Mai Anh
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
mặt tồn tại trong việc tổ chức sử dụng vốn lưu động, nhằm đưa ra những biện pháp
hữu hiệu nhất, để hiệu quả của đồng vốn lưu động mang lại là cao nhất.
1.4.2. Một số biện pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc tổ chức quản lý và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp nhà nước cũng như mọi doanh nghiệp
khác đều bình đẳng trước pháp luật, phải đối mặt với cạnh tranh, hoạt động vì mục tiêu
lợi nhuận, tự chủ về vốn. Do đó, việc nâng cao sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói
- Chính sách, chế độ về lao động và tiền lương được người lao động trong
Doanh nghiệp.
- Trình độ tổ chức, quản lý sử dụng vốn lưu động của Doanh nghiệp trong quá
trình dự trữ sản xuất, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Vì vậy để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, giảm thấp tương đối, nhu
cầu vốn lưu động không cần thiết Doanh nghiệp cần tìm các biện pháp phù hợp tác
đông jđến các nhân tố ảnh hưởng trên sao cho có hiệu quả nhất.
-Thứ hai, lựa chọn hình thức thu hút vốn lưu động. Tích cực tổ chức khai thác
triệt để các nguồn vốn lưu động bên trong doanh nghiệp, vừa đáp ứng kịp thời vốn cho
nhu cầu vốn lưu động tối thiểu cần thiết một cách chủ động, vừa giảm được một khoản
chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Tránh tình trạng vốn tồn tại dưới hình thái tài
sản không cần sử dụng, vật tư hàng hoá kém phẩm chất mà doanh nghiệp lại phải đi
vay để duy trì sản xuất với lãi suất cao, chịu sự giám sát của chủ nợ làm giảm hiệu quả
sản xuất kinh doanh.
Chuyên đề Thực tập
Page 23
Sv: Hoàng Mai Anh
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
Chương 2
Tình hình sử dụng vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu
động tại Công ty TNHH Thương mại Thịnh Vượng
2.1. Vài nét về Công ty TNHH Thương mại Thịnh Vượng
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Thương mại Thịnh
Vượng.
2.1.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty TNHH thương mại Thịnh Vượng là Công ty có đầy đủ tư cách pháp
nhân, tự chủ kinh doanh và hoạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản tại Ngân hàng, có
con dấu riêng.
- Tên Công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Vượng
- Tên giao dịch: Thinh Vuong Tranding Company Limited
và sẽ đẩy nhanh tốc độ đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng. Những
đòi hỏi về phát triển bền vững lúc này đặt ra một lượng cầu lớn về lĩnh vực sắt thép và
vật liệu xây dựng Công ty đang kinh doanh.
Ngày 31 tháng 12 năm 2008 Công ty đăng ký thay đổi chứng nhận đăng ký
kinh doanh lần 3 (đã thay đổi lần 2, nhưng không có giấy tờ cụ thể nên tôi xin phép
không đưa vào) tại lần thay đổi này Công ty đăng ký ngành nghề kinh doanh gồm 6
lĩnh vực sau:
- Buôn bán tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng.
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa.
- Vận tải hàng hóa, vận chuyển hành khách bằng ô tô.
- Kinh doanh bất động sản (chủ yếu xây dựng, cho thuê nhà xưởng, văn phòng,
kho bãi mặt bằng).
- Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, công trình
và trạm biến áp đến 110 KV.
- Thi công san lắp mặt bằng.
Đồng thời vốn điều lệ của Công ty tăng lên 7. 000. 000. 000 đồng (bảy tỷ đồng)
với số vốn góp của ông: Trần Xuân Huyên (60%) và bà: Nguyễn Đức Hạnh là (40%)
ông Trần Xuân Huyên giữ chức vụ giám đốc Công ty.
Cho tới nay Thịnh Vượng sau 2 năm tăng vốn điều lệ, mặc dù còn gặp nhiều
khó khăn do tính chất chung của thị trường và một phần Thịnh Vượng vẫn là Công ty
nhỏ. Nhưng cũng dần có được niềm tin của khách hàng về chất lượng sản phẩm mình
cung cấp với mức giá cả hợp lý.
2.1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại
Thịnh Vượng.
a) Chức năng:
Thịnh Vượng cũng như mọi Công ty kinh doanh thương mại khác, chức năng
chính là cung cấp sản phẩm dịch vụ từ nhà cung cấp hoặc kho của Công ty tới tay
khách hàng (Công ty xây dựng, các Công ty thương mại khác, khách hàng là hộ gia
Chuyên đề Thực tập
Page 25