Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lơng thực nói chung và mặt hàng gạo nói riêng có tầm quan trọng đặc
biệt đối với đời sống của con ngời. Mặc khác, sản xuất lúa gạo lại liên quan
đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân, một khu vực nhạy cảm và có vai trò
rất quan trọng đối với nền kinh tế của nhiều nớc trên thế giới. Hơn nữa, lúa
gạo là một trong những lợi thế so sánh quan trọng của Việt Nam. Trong
điều kiện tự do hóa thơng mại, việc đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ
góp phần khai thác lợi thế so sánh cho phát triển kinh tế, ổn định chính trị
xã hội.
ở Việt Nam, trong nhiều năm qua, sản xuất và xuất khẩu gạo đã đạt đ-
ợc nhiều thành tích quan trọng. Gạo xuất khẩu đã trở thành một trong những
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Đóng góp vào thành tích chung đó
phải kể đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu gạo của các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long, trong đó có Cần Thơ. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu gạo của các
doanh nghiệp Cần Thơ trong thời gian qua còn nhiều hạn chế. Tình trạng sản
xuất, chế biến gạo xuất khẩu với quy mô nhỏ, phân tán, công nghệ xay xát,
chế biến lạc hậu đã ảnh hởng không nhỏ tới chất lợng gạo xuất khẩu, làm
giảm khả năng cạnh tranh của gạo xuất khẩu Cần Thơ trên thị trờng thế giới,
hạn chế hiệu quả xuất khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo
Cần Thơ. Tình trạng cạnh tranh mua gạo xuất khẩu của ngời sản xuất và cạnh
tranh bán gạo cho khách hàng nớc ngoài, giữa các doanh nghiệp kinh doanh
xuất khẩu vẫn cha đợc khắc phục, gây thiệt hại cho lợi ích quốc gia và cho
doanh nghiệp
Thực tế trên đòi hỏi cần phải có những giải pháp phù hợp, thúc đẩy
xuất khẩu gạo hơn nữa, để khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng, lợi thế
so sánh của Cần Thơ cho phát triển kinh tế của địa phơng và phát triển kinh tế
đất nớc. Thực tế đó cũng đòi hỏi cần có sự nghiên cứu một cách hệ thống và
sâu sắc hoạt động xuất khẩu gạo ở Cần Thơ, để đề ra một số giải pháp khắc
phục những hạn chế trong hoạt động xuất khẩu gạo, đảm bảo cho hoạt động
này phát triển cả về chất và lợng. Đây chính là lý do tác giả chọn đề tài: " Gii
Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1999.
- Tác giả Kim Quốc Chính: Dự báo khả năng xuất khẩu gạo của Việt
Nam thời kỳ 2001-2010, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 284, 1/2004.
- TS. Lu Văn Nghiêm: Marketing mở rộng thị trờng, tăng hiệu quả
xuất khẩu gạo của Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 88, 10/2004.
Nhóm các công trình, bài viết về thị trờng xuất khẩu nông sản tập
trung phân tích các động thái của thị trờng nông sản, giải pháp để mở rộng thị
2
trờng xuất khẩu. Bên cạnh đó, một số tác giả đa ra các giải pháp để phát huy
khả năng cạnh tranh hàng nông sản trên phạm vi một quốc gia.
Những công trình, bài viết về giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng
nông sản của Việt Nam
- TS. Nguyễn Khắc Thanh: Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam
trong thời gian trớc mắt, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 310, 3/2004.
- TS. Lê Thị Anh Vân: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu một số hàng nông
sản Việt Nam giai đoạn 2002-2010, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 92, 2/2005.
- PGS.TS. Nguyễn Trờng Sơn: Nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo ở
Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 96, 6/2005.
- TS. Mai Thị Thanh Xuân: Công nghiệp chế biến với việc nâng cao
giá trị hàng nông sản xuất khẩu ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số
341, 10/2006.
Đối với nhóm các công trình, bài viết về giải pháp thúc đẩy thúc xuất khẩu
hàng nông sản của Việt Nam, đây là nhóm các vấn đề liên quan trực tiếp đến luận
văn này. Những công trình, bài viết này có đặc điểm chung là nghiên cứu về các
giải pháp đồng bộ để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nông sản nói chung và xuất
khẩu gạo nói riêng ở phạm vi quốc gia. Ngoài ra, một số tác giả còn đa ra những
luận cứ để định hớng tập trung vào các mặt hàng nông sản xuất khẩu có lợi thế so
sánh của Việt Nam, trong đó có mặt hàng gạo xuất khẩu.
Tóm lại, các công trình, bài viết trên tiếp cận dới những góc độ khác
nhau cả về mặt lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động xuất khẩu nông
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài, luận văn đã sử dụng phơng pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng
các phơng pháp khác để nghiên cứu nh phơng pháp nghiên cứu thực tế, trừu t-
ợng hóa, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để giải quyết các vấn đề.
Đồng thời, đề tài cũng kế thừa và sử dụng có chọn lọc những thông tin trong
một số công trình nghiên cứu của các tác giả khác đã công bố.
6. Những đóng góp của luận văn
Hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn
hoạt động xuất khẩu gạo của thành phố Cần Thơ.
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
gạo trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong thời gian tới nh: giải pháp đẩy mạnh
và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thơng mại, liên kết 4 nhà, giải pháp
liên kết thị trờng gạo Cần Thơ với thị trờng gạo các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long.
4
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chơng, 8 tiết.
5
Chơng 1
MộT Số vấn đề CHUNG Về XUấT KHẩU GạO
1.1. Vai trò và ĐặC ĐIểM xuất khẩu gạo ở việt nam Và CầN THƠ
1.1.1. Vai trò xuất khẩu gạo đối với nền kinh tế Việt Nam và Cần Thơ
1.1.1.1. Xuất khẩu gạo với việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh
của đất nớc cho phát triển kinh tế
Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lý thuyết lợi thế tơng đối, trong điều
kiện tự do hóa thơng mại, các quốc gia đều đợc lợi từ việc tham gia thơng mại
quốc tế. Mỗi quốc gia đều có những lợi thế tuyệt đối và lợi thế tơng đối trong
việc sản xuất một mặt hàng nào đó. Nếu các quốc gia chuyên môn hóa sản
sao cho phù hợp với những tín hiệu của thị trờng gạo quốc tế. Điều đó, cũng
có nghĩa là nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế, cần phải biết rằng mọi hoạt động sản xuất và chế biến đều
phải xuất phát từ nhu cầu của thị trờng. Họ chỉ sản xuất và chế biến những sản
phẩm gạo theo nhu cầu mà thị trờng cần. Theo đó, sẽ hình thành những vùng
sản xuất lúa gạo tập trung, qui mô lớn để phục vụ hoạt động xuất khẩu đáp
ứng nhu cầu thị trờng. Bằng cách đó, xuất khẩu gạo sẽ giúp hình thành cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn hợp lý theo tín hiệu của thị trờng. Khi đó, nền
kinh tế thị trờng sẽ chỉ thừa nhận những cơ cấu kinh tế hiệu quả, nghĩa là cơ
cấu có khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu thị trờng và đem lại thu nhập, lợi
nhuận cao nhất cho ngời sản xuất.
Xuất khẩu gạo không chỉ thúc đẩy sự hình thành cơ cấu vùng sản xuất
lúa gạo tập trung mà còn kéo theo sự hình thành và phát triển công nghiệp chế
biến, xay xát gạo. Chúng ta biết rằng, ngành công nghiệp chế biến, xay xát
gạo giữ vai trò rất quan trọng trong việc làm tăng giá trị mặt hàng xuất khẩu
gạo gấp nhiều lần. Điều đó cũng sẽ làm tăng tính cạnh tranh của gạo Việt
Nam trên thị trờng thế giới, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng và
phong phú của ngời tiêu dùng gạo trên thế giới.
Khi ngành công nghiệp chế biến, xay xát gạo phát triển sẽ kéo theo sự
phát triển các ngành nghề và dịch vụ phục vụ hoạt động xuất khẩu. Điều này
sẽ thúc đẩy việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng tích cực, góp
phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng tăng dần tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong GDP.
Cùng với quá trình hình thành và phát triển các ngành công nghiệp chế
biến xay xát gạo và dịch vụ trên địa bàn nông thôn, khi đó cơ cấu lao động
trong nông nghiệp và nông thôn cũng có sự chuyển biến theo hớng giải phóng
lao động nông nghiệp và chuyển sang các hoạt động công nghiệp và dịch vụ
tại chỗ, tất yếu dẫn đến việc phân công lao động nông thôn theo hớng đa
7
ngành nghề, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn
Những năm gần đây, hoạt động thơng mại nói chung và xuất khẩu gạo
trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã có chuyển biến quan trọng và thu đợc
8
những thành tích đáng khích lệ. Thị trờng từng bớc đợc mở rộng với nhiều
thành phần kinh tế tham gia. Hàng hoá đa dạng, phong phú, lu thông thông
suốt, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, cải thiện đời sống dân c và đóng
góp đáng kể vào tăng trởng GDP của Thành phố.
Trong giai đoạn 2004 - 2007, với cơ chế chính sách khuyến khích sản
xuất hàng xuất khẩu của Nhà nớc, hoạt động xuất khẩu trên địa bàn thành phố
Cần Thơ khá sôi động. Kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều tăng khá cao, góp
phần tích cực vào phát triển kinh tế Cần Thơ trong quá trình hội nhập với nền
kinh tế khu vực và thế giới. Năm 2004, giá trị xuất khẩu đạt gần 317,668 triệu
USD, đến năm 2007, tăng lên 551,813 triệu USD; gấp 1,74 lần năm 2004. Tốc
độ tăng trởng bình quân kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố giai đoạn
2004 - 2007 đạt 20,29%/năm. Riêng năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của
thành phố Cần Thơ tăng 16,58% so với năm 2006. Trong đó xuất khẩu gạo
mang về cho thành phố 145 triệu USD, chiếm 26,27% tỷ trọng kim ngạch xuất
khẩu của thành phố Cần Thơ [7, tr.207].
1.1.2. Đặc điểm xuất khẩu gạo
Hoạt động sản xuất và xuất khẩu gạo luôn gắn liền với thị trờng gạo
xuất khẩu. Do vậy, hoạt động xuất khẩu gạo cũng mang một số đặc điểm nh
thị trờng gạo xuất khẩu. Chúng ta có thể thấy rằng, hoạt động xuất khẩu gạo
có một số đặc điểm cơ bản sau:
1.1.2.1. Xuất khẩu gạo mang tính thời vụ và tính khu vực (vùng miền)
Sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng phụ thuộc
nhiều vào các yếu tố tự nhiên nh đất đai, khí hậu, thổ nhỡng, vị trí địa lý
Quy mô, sản lợng của các ngành sản xuất nông nghiệp bị giới hạn bởi diện
tích đất đai, giới hạn năng suất. Mặt khác, sản xuất nông sản còn chịu ảnh h-
ởng lớn của thời tiết, khí hậu, sâu hại, dịch bệnhSản phẩm nông nghiệp có
quy luật sinh trởng và phát triển tự nhiên, không giống nh các sản phẩm công
công nghiệp bảo quản sau thu hoạch, giao thông vận tải có vai trò rất quan
trọng trong việc bảo đảm chất lợng gạo xuất khẩu. Tại khâu cuối cùng của
hoạt động xuất khẩu là bán gạo cho khách hàng nớc ngoài, các ngành ngân
hàng, bảo hiểm, vận tải biển, tòa án, hải quan, thơng mại là những ngành có
vai trò trực tiếp đối với xuất khẩu gạo.
Nh vậy, có thể thấy rằng, xuất khẩu gạo là hoạt động có tính liên
ngành rất cao. Hoạt động xuất khẩu gạo sẽ đạt hiệu quả cao khi các ngành
có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng. Bởi lẽ, chính sự liên kết chặt
chẽ giữa các ngành trong từng khâu và liên kết giữa các khâu một cách
hợp lý sẽ là điều kiện nâng cao năng suất và giảm chi phí sản xuất và xuất
10
khẩu gạo, theo đó, nâng cao khả năng cạnh tranh về giá và lợng của gạo
xuất khẩu.
1.1.2.3. Xuất khẩu gạo có tính nhạy cảm cao
Gạo là mặt hàng có tính nhạy cảm cao do nó là mặt hàng thiết yếu, đáp
ứng nhu cầu cần thiết cơ bản của con ngời, của cả xã hội. Do đó, xuất khẩu
gạo cũng mang tính nhạy cảm cao. Tính nhạy cảm đó đợc thể hiện ở chỗ sự
biến động của hoạt động xuất khẩu gạo sẽ ảnh hởng rất lớn đến nguồn cung
gạo của thị trờng trong nớc, dẫn đến giá gạo ở thị trờng trong nớc cũng biến
động theo. Mặt khác, nông dân là lực lợng chiếm tỷ lệ cao trong dân số cả nớc,
thu nhập của họ chủ yếu từ việc bán nông sản, trong đó lúa gạo chiếm tỷ trọng
rất cao. Vì vậy, thu nhập của họ sẽ bấp bênh khi hoạt động xuất khẩu gạo có
những biến động lớn.
Nếu xuất khẩu gạo trong năm theo chiều hớng có lợi sẽ làm giảm áp lực
nguồn cung gạo trong năm, khi đó giá lúa ở thị trờng trong nớc sẽ tăng, thu
nhập ngời nông dân đợc cải thiện, giảm thiểu tình trạng đói nghèo, tệ nạn xã
hội ở nông thôn và ngợc lại. Điều này có ảnh hởng rất lớn đến ổn định chính
trị, xã hội của quốc gia.
Cuối cùng, xuất khẩu gạo là hoạt động không chỉ có tính nhạy cảm ở
Việt Nam, mà còn nhạy cảm ở hầu hết các nớc có nhu cầu tiêu dùng gạo trên
1.2.1. Nội dung của hoạt động xuất khẩu gạo
Hoạt động xuất khẩu gạo bao gồm nhiều khâu. Khi nghiên cứu hoạt
động xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp chúng ta có thể xét tới ba nội dung
chủ yếu. Một là, hoạt động nghiên cứu thị trờng của các doanh nghiệp; hai là,
hoạt động thu mua và chế biến xay xát gạo xuất khẩu; ba là, hoạt động bán
gạo cho khách hàng nớc ngoài.
1.2.1.1. Hoạt động nghiên cứu thị trờng
Vấn đề đầu tiên mà các doanh nghiệp xuất khẩu cần quan tâm đó là nghiên
cứu thị trờng một cách cụ thể và chi tiết. Nghiên cứu thị trờng càng cụ thể và chi
tiết sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động, linh hoạt trong hoạt động xuất khẩu.
Thị trờng là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Đối với bất kỳ một
doanh nghiệp kinh doanh nào, công tác nghiên cứu thị trờng luôn là công việc
đầu tiên giúp các doanh nghiệp nắm vững các yếu tố thị trờng, hiểu biết các
quy luật vận động của thị trờng từ đó đa ra các ứng xử kịp thời, phù hợp. Đặc
biệt là đối với hoạt động kinh doanh xuất khẩu, việc nghiên cứu thị trờng lại
càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Nghiên cứu thị trờng là cả một quá trình tìm hiểu khách quan, có hệ
thống cùng với việc phân tích tổng hợp các thông tin cần thiết để giải quyết
các vấn đề về hoạt động marketing. Đối với hoạt động xuất khẩu, quá trình
nghiên cứu thị trờng đòi hỏi phải công phu, tỉ mỉ hơn vì khối lợng và giá trị
12
của những mặt hàng xuất khẩu thờng rất lớn so với buôn bán trong nớc. Hơn
nữa, dới góc độ nào đó kinh doanh ngoại thơng chứa đựng nhiều rủi ro hơn so
với kinh doanh nội địa nếu chỉ cần một sự bất cẩn sẽ dẫn đến những hậu quả
khôn lờng.
Tham gia hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp phải nghiên cứu thị tr-
ờng gạo trong nớc (thị trờng thu mua lúa gạo xuất khẩu) và thị trờng gạo thế
giới (thị trờng xuất khẩu gạo):
- Nghiên cứu thị trờng gạo trong nớc, các doanh nghiệp cần nghiên cứu
tình hình sản xuất lúa gạo và nhu cầu gạo trong nớc; nghiên cứu các đối thủ
- Khâu chế biến xay xát
Đây là khâu đảm bảo chất lợng gạo xuất khẩu theo yêu cầu của khách
hàng nhập khẩu. Để khâu chế biến và xay xát đạt hiệu quả, các doanh nghiệp
phải bảo đảm lựa chọn công nghệ xay xát chế biến hiện đại, đồng thời xây
dựng các nhà máy xay xát, kho chứa đạt tiêu chuẩn. Các doanh nghiệp cũng
có thể thuê các cơ sở chế biến t nhân xay xát gạo. Hiện nay, ở Việt Nam, gạo
sau khi xay xát chế biến sẽ đợc phân ra thành các loại: gạo trắng hạt dài 5%
tấm, 10% tấm, 15% tấm, 25% tấm, 35% tấm, 100% tấm, nếp, gạo thơm.
1.2.1.3. Hoạt động bán gạo cho khách hàng nớc ngoài
Việc thực hiện hoạt động bán gạo cho khách hàng nớc ngoài bao gồm
những nội dung sau:
- Đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu: Đàm phán, thơng lợng là sự
bàn bạc trao đổi với nhau về các điều khoản mua bán giữa các nhà kinh doanh
để đi đến thống nhất ký hợp đồng. Sau khi đàm phán và đi đến thống nhất, hai
bên giao dịch phải thực hiện ký kết hợp đồng mua bán đặc biệt, đó là sự thoả
thuận bằng văn bản giữa những chủ thể có quốc tịch khác nhau, trong đó bên
bán có nghĩa vụ chuyển giao cho bên mua quyền sở hữu một tài sản nhất định
gọi là hàng hoá, còn bên mua có nghĩa vụ trả một khoản tiền ngang giá trị
hàng hoá cho bên xuất khẩu bằng các phơng thức thanh toán quốc tế và nhận
hàng.
- Thực hiện hợp đồng xuất khẩu: Sau khi các bên ký kết với nhau hợp
đồng mua bán quốc tế (hợp đồng ngoại thơng) thì cũng có nghĩa là các bên đã
gắn quyền lợi và trách nhiệm của mình vào các điều khoản của hợp đồng.
Công việc kế tiếp là đơn vị xuất khẩu và nhập khẩu phải tiến hành thực hiện
theo đúng hợp đồng nhằm tránh những tranh chấp, sai sót đáng tiếc xảy ra.
- Khiếu nại, giải quyết tranh chấp: Mục đích của công việc này của nhà
xuất khẩu là bảo vệ lợi ích của mình trong trờng hợp các nhà nhập khẩu hay
các nhà vận chuyển không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, gây thiệt hại cho ngời
14
xuất khẩu. Căn cứ để đơn vị xuất khẩu bảo vệ lợi ích của mình là: nội dung
Madagasca. Có nơi, ngời dân lại thích ăn gạo đỏ. Nhìn chung, ngời tiêu dùng
thế giới thích ăn gạo mới, có hơng vị tự nhiên, không lẫn các mùi ngoại lai.
15
Tuy nhiên, một số nơi ở ấn Độ, Pakistan, ngời dân thích ăn gạo đợc bảo quản
ít nhất 06 tháng sau khi gặt.
Sở thích ngời tiêu dùng đối với gạo hạt tròn, gạo hạt dài, gạo có tỷ lệ
tấm cao, thấp rất khác nhau. Nói chung, nếu phân chia theo chất lợng gạo hạt
tròn, hạt dài, xu hớng tiêu dùng gạo thế giới có những loại sau:
- Xu hớng tiêu dùng gạo hạt dài, chất lợng cao:
Các nớc phát triển ở khu vực Tây âu và Nhật Bản, sau đó là các nớc
NIC khu vực Châu á, Trung Đông và Đông Nam á, các nớc NIC khu vực châu
Mỹ La tinh là những khách hàng có xu hớng tiêu dùng gạo hạt dài, chất lợng cao.
Thực chất đây là xu hớng tiêu dùng gạo cao cấp, sản phẩm trực tiếp của chủng
loại lúa gạo Indica có giá trị cao. Loại gạo này chiếm khoảng 25% tổng lợng gạo
nhập khẩu của thế giới, đảm bảo hiệu quả cao cho nhà xuất khẩu. Đây là những
khách hàng tiêu dùng khó tính, đặc biệt chú trọng quy cách phẩm chất và tiêu
chuẩn vệ sinh công nghiệp. Các nhà xuất khẩu chính là Mỹ và Thái Lan. Thực tế
những năm qua, gạo xuất khẩu đạt tiêu chuẩn quốc tế cao đợc xếp cấp loại A là
gạo của Mỹ số 2, tỷ lệ tấm không quá 4% hạt dài, trắng trong, cỡ hạt đều, không
tạp chất, không có mùi vị lạ, cũng không lẫn hạt đỏ, vàng sọc, bạc bóng, giao
dịch với mức giá cao. Ngay gạo Mỹ số 5, loại hạt trung bình, 20% tấm vẫn tốt
hơn và đạt mức giá cao hơn gạo Thái 100 B (loại gạo trắng hạt dài 100% không
có tấm). Nói chung gạo Thái Lan chỉ đợc xếp cấp loại B, giá thấp hơn gạo Mỹ rất
nhiều. Gạo Việt Nam hiện nay vẫn cha đạt tiêu chuẩn chất lợng này nên giá xuất
khẩu còn thấp hơn nữa.
- Xu hớng tiêu dùng gạo hạt dài, chất lợng trung bình tốt
Loại gạo này chiếm khoảng 45-50% tổng lợng gạo nhập khẩu thế giới, phần
lớn do Thái Lan cung cấp, tỷ lệ tấm 5%-25%. Sau Thái Lan, những nớc xuất khẩu
khác là Việt Nam, ấn độ, gần đây có Pakistan xu hớng tiêu thụ chính loại gạo
này là những nớc Châu á, Châu Phi và Châu Mỹ La tinh [28, tr.111].
tín trên thị trờng. Thí dụ, khi nói đến gạo Basmati là ta nghĩ ngay đến gạo do
ấn Độ và Pakistan sản xuất. Nói đến gạo Kao Dawk Mali, gạo "Hơng Nhài -
Jasmine" là ta nghĩ đến Thái Lan. Vậy Việt Nam ta, thơng hiệu gạo vẫn đang
là vấn đề nan giải. Mặc dù từ xa gạo Việt Nam đã có những loại gạo rất nổi
tiếng nh: Tám Thơm, Tám Xoan, Dự Hơng, Nếp cái hoa vàng, Nàng Hơng,
v.v
Riêng đối với thành phố Cần Thơ, các doanh nghiệp đã bắt đầu quan
tâm và xây dựng thơng hiệu cho gạo xuất khẩu với tên gọi nh: Miss Can Tho
và White Stork (thơng hiệu gạo của Công ty cổ phần Thơng nghiệp tổng hợp
và chế biến lơng thực Thốt Nốt - Gentraco), Sohafarm (thơng hiệu gạo của
17
Nông trờng Sông Hậu), v.v Đây là những thơng hiệu đã và đang khẳng định
uy tín của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
1.2.2.3. Chất lợng gạo xuất khẩu
Chất lợng gạo xuất khẩu đợc thể hiện ở nhiều tiêu chí nh độ bạc bụng
của gạo, độ ẩm. Gạo có độ bạc bụng lớn, độ ẩm cao khi xay xát sẽ dễ bị vỡ
nên làm giảm tỷ lệ hạt gạo nguyên. Tỷ lệ gạo nguyên thay đổi tùy theo bản
chất giống và phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh nh nhiệt độ, độ ẩm
khi lúa chín và điều kiện bảo quản phơi sấy sau thu hoạch. Sự rạn nứt hạt th-
ờng do nắng, sự thay đổi nhanh và độ ẩm không khí, những bất thuận về môi
trờng trong quá trình chín của hạt và thu hoạch trễ trong vụ nắng làm hạt có độ
ẩm thấp. Bên cạnh đó, tỷ lệ độ ẩm cũng ảnh hởng đáng kể đến chất lợng gạo.
Những hạt đã khô nếu đột ngột hút ẩm cũng có thể tạo ra các vết rạn dọc trong
hạt và gây ra những mảnh vỡ nhỏ khi xay xát. Hạt càng khô bị hút ẩm trở lại sẽ bị vỡ
nhiều. Điều này làm cho gạo xuất khẩu sẽ không đợc giá.
Tỷ lệ tinh bột và hàm lợng protein trong gạo là những thông số quan
trọng của giá trị dinh dỡng hạt gạo. So với các loại hạt ngũ cốc khác, hạt gạo
có tỷ lệ tinh bột và hàm lợng protein cao. Hiện nay, các nhà chọn giống đã cố
gắng cải tiến nhằm nâng cao chất lợng hàm lợng protein trong các giống lúa
mới nhng ít thành công vì di truyền tính trạng protein trong hạt rất phức tạp và
tỷ bạt (300 triệu USD) trong năm 2008 để bù đắp các tổn thất về rủi ro giá
trong chơng trình ký gửi lúa gạo của Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã
nông nghiệp Thái Lan (BAAC), để khuyến khích các doanh nghiệp chế biến
lúa gạo nâng cấp năng lực dự trữ lúa gạo, nhằm nâng cao chất lợng lúa gạo.
Với chính sách này, gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ khó khăn hơn khi phải
cạnh tranh với gạo của Thái Lan.
- Chính sách của ấn Độ: Bộ Nông nghiệp ấn Độ đã ký kết Hiệp định
về xuất khẩu gạo Basmati với Trung Quốc. Gạo Basmati ấn Độ xuất khẩu
sang Trung Quốc, đáp ứng các quy định về vệ sinh thực phẩm, phải tuân theo
các luật kiểm dịch của Trung Quốc, các qui định và phạm vi điều chỉnh của Tổ
chức Thơng mại thế giới (WTO). ấn Độ là nớc sản xuất và xuất khẩu gạo
basmati lớn nhất thế giới. Sản lợng gạo basmati hàng năm của nớc này vào
khoảng 1 triệu tấn đến 1,5 triệu tấn và 2/3 trong số này dành cho xuất khẩu.
- Campuchia là nớc có khí hậu thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Hàng năm Campuchia xuất khẩu hơn 1 triệu tấn gạo thô, chủ yếu cho hai nớc
láng giềng là Việt Nam và Thái Lan. Tuy nhiên, đến nay nớc này vẫn cha xuất
khẩu đợc nhiều gạo xay xát ra thị trờng quốc tế nh các nớc khác vì thiếu vốn.
Hiện nay các nhà máy trong nớc Campuchia cần khoảng 40 triệu USD để mua
19
gạo thô nguyên liệu phục vụ xay xát nhằm tăng khối lợng kho gạo dự trữ phục
vụ xuất khẩu, trong khi số vốn các nhà máy huy động đợc chỉ có 10 triệu
USD. Trong tơng lai, rất có thể Campuchia sẽ trở thành một trong những đối
thủ của Việt Nam trên thị trờng gạo thế giới.
Chính sách của một số nớc nhập khẩu gạo
- Chính sách của Indonesia: Theo Bộ Nông nghiệp Indonesia, nớc này
đang có kế hoạch đa 14 giống lúa mới vào sản xuất năm 2008 để đối phó với
tình trạng nóng lên của trái đất. Những giống lúa này đang trong quá trình
trồng thử nghiệm, chúng có thể chịu đợc điều kiện rất khắc nghiệt và có thể
sống trong lũ lụt 2 tuần. Nông dân Indonesia hiện đang sử dụng tổng cộng 287
giống lúa, trong đó 189 giống lúa đợc lai tạo bởi Viện ứng dụng công nghệ.
thị trờng, cạnh tranh với nhau ngay từ trong sản xuất để làm cho sản phẩm của
mình có chi phí thấp, chất lợng ngày càng tốt hơn. Đối với lu thông, cho phép
các thành phần kinh tế tự do kinh doanh, trên cơ sở tôn trọng pháp luật; các
thành phần kinh tế cạnh tranh với nhau cả trong mua và bán.
Chính sách thơng mại tự do thay thế cho tình trạng độc quyền kinh
doanh. Hoạt động kinh doanh lúa gạo trên thị trờng trớc năm 1989, với đặc tr-
ng cơ bản Nhà nớc quản lý nền kinh tế bằng cơ chế hành chính bao cấp với hệ
thống chằng chịt các chỉ tiêu pháp lệnh từ sản xuất đến lu thông, phân phối.
Nhà nớc vừa là chủ thể sản xuất vừa là chủ thể kinh doanh, đồng thời Nhà nớc
bảo hộ về thị trờng tiêu thụ lúa gạo bằng cách thu mua gần nh tất cả lúa gạo
thông qua việc Nhà nớc giao nghĩa vụ, bắt ngời sản xuất phải bán thóc cho
Nhà nớc theo giá cả do Nhà nớc ấn định. Trên thị trờng, các công ty thu mua
lơng thực quốc doanh của Nhà nớc đợc tổ chức thành một hệ thống thu mua l-
ơng thực quốc doanh từ Trung ơng đến địa phơng với nhiều tầng nấc, cấp nọ
phải bán cho cấp kia theo chỉ tiêu kế hoạch mang tính pháp lệnh bắt buộc.
Cùng với sự đổi mới chung của cơ chế kinh tế từ 1989 đến nay, chính sách th-
ơng mại đã đợc thay đổi căn bản từ độc quyền kinh doanh chuyển sang tự do
hóa lu thông với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia mua bán, tự do lu
thông đã tạo điều kiện để các thành phần kinh tế cạnh tranh với nhau trong
kinh doanh, ngời sản xuất tự do tìm kiếm nơi nào mua gạo có lợi nhất để bán.
Ngời nông dân phấn khởi và tăng gia sản xuất, ngời tiêu dùng thì tự giác sử
dụng lơng thực có hiệu quả từ đó dẫn đến sự điều hòa lơng thực từ nơi thừa
sang nơi thiếu. Để hỗ trợ cho nông dân tiêu thụ lúa hàng hóa dễ dàng và hiệu
quả, các doanh nghiệp áp dụng nhiều phơng thức mua bán linh hoạt hoặc ký
hợp đồng bao tiêu lợng lúa sau khi sản xuất nhằm giúp cho nông dân có nhiều
cơ hội bán lúa đạt giá cao, tạo mối liên kết hữu cơ về lợi ích giữa doanh
nghiệp với nông dân.
21
Đối với hoạt động xuất khẩu, gạo Việt Nam trở lại thơng trờng quốc tế
năm 1989 nhng cơ chế điều hành xuất khẩu gạo lại cha đợc định hình rõ nét.
23
Chơng 2
Thực trạng xuất khẩu gạo của Thành phố Cần Thơ
Từ năm 2004 đến nay
2.1. Vị TRí ĐịA Lý, điều kiện tự nhiên - xã hội tác động đến
hoạt động xuất khẩu gạo của thành phố cần thơ
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên - xã hội
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Cần Thơ thành lập trên cơ sở tách ra từ tỉnh Cần Thơ theo Nghị
quyết số 22/2003/QH-11, ngày 26/11/2003 của Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam
khóa 11 và Nghị định số 05/2004/NĐ- CP, ngày 02/01/2004 của Chính phủ.
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng trung - hạ lu sông Cửu Long, trải
dài trên 55 km dọc bờ Tây sông Hậu, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh
Long, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía Bắc giáp tỉnh An Giang và phía
Nam giáp tỉnh Hậu Giang. Diện tích tự nhiên của thành phố Cần Thơ là
1.389,6 km
2
, chiếm 3,49% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nằm ở
vị trí trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long, cách thành phố Hồ Chí Minh
170 km về hớng Đông Bắc theo quốc lộ 1A và cách các đô thị lớn vùng đồng
bằng sông Cửu Long với cự ly khoảng 60 - 120 km. Thành phố Cần Thơ có vị trí
rất thuận lợi về giao lu kinh tế văn hóa với các tỉnh trong vùng, có khả năng vơn
xa đến thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Thành phố Cần Thơ là nơi giao điểm của nhiều tuyến giao thông thủy-
bộ quan trọng, có cảng-tàu biển, có sân bay, các khu công nghiệp và khu chế
xuất là điều kiện rất thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu gạo. Đồng thời, đây
cũng là điều kiện quan trọng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa của thành phố và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố Cần Thơ
đợc xác định là đô thị trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của vùng
và hớng phát triển nhanh trở thành đô thị loại 1 trực thuộc Trung ơng.
Điều kiện thổ nhỡng này là u thế của Cần Thơ trong trồng lúa và phát triển
kinh tế vờn, các loại cây trồng cạn.
Tài nguyên khoáng sản ở Cần Thơ nghèo, chỉ bao gồm một số vùng đất
sét làm gạch ngói (16,8 triệu m
3
), cát nền (70 triệu m
3
) và than bùn (30.000
đến 150.000 tấn). Tuy nhiên, nớc ngầm ở Cần Thơ có trữ lợng khá dồi dào,
chất lợng tốt.
2.1.1.3. Điều kiện xã hội
- Về tổ chức hành chính
Thành phố Cần Thơ gồm 4 quận là Ninh Kiều, Bình Thuỷ, Cái Răng, Ô
Môn và 4 huyện là Phong Điền, Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh với 76 đơn vị
hành chính cấp xã, phờng, thị trấn (6 thị trấn, 35 xã, 35 phờng).
Trung tâm của Thành phố đặt tại quận Ninh Kiều, là nơi tập trung các
cơ quan Trung ơng, cơ quan Đảng, đoàn thể, trụ sở hành chính quản lý nhà
nớc, các cơ sở quan trọng về thơng mại, dịch vụ, tài chính, ngân hàng, viễn
25