MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế, chuyển sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lí của nhà nước, lĩnh vực tài chính - ngân sách nói chung
và quản lý quỹ ngân sách của Kho bạc nhà nước (KBNN) nói riêng đã có sự
đổi mới căn bản, nhờ đó đã mang lại những kết quả đáng khích lệ. Chi ngân
sách nhà nước (NSNN) đã trở thành công cụ đắc lực trong điều hành vĩ mô
nền kinh tế của Nhà nước. Chi tiêu NSNN những năm qua, ngoài việc đảm
bảo hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước, ổn định đời sống kinh tế - xã
hội, còn tạo tiền đề, những cơ sở vật chất quan trọng góp phần thúc đẩy nền
kinh tế phát triển, tác động tích cực vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong từng khâu hoặc từng bộ phận
của quy trình quản lý chi NSNN nói chung và kiểm soát chi qua KBNN nói
riêng còn bộc lộ những khiếm khuyết, kém hiệu quả. Năm 2006, kiểm toán
nhà nước đối với ngân sách 2005 cho thấy có 7.622,5 tỉ đồng thu, chi sai
nguyên tắc phải xử lý, trong đó có 1.339,5 tỉ đồng là tiền từ NSNN. Trong
lĩnh vực chi thường xuyên, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều hình thức
làm thất thoát, gây sai phạm như: lấy ngân sách cho vay, tạm ứng; tự chi các
khoản vượt thu, tăng thu; sử dụng ngân sách dự phòng sai qui định; hỗ trợ không
đúng chế độ, chi vượt tiêu chuẩn, định mức về mua sắm, Riêng trong lĩnh vực
chi tiêu hành chính, thất thoát lên đến 661,8 tỉ đồng. Hầu hết các tỉnh được kiểm
toán đều chi ngân sách thường xuyên vượt dự toán. Cá biệt, có những tỉnh chi
vượt dự toán rất cao, trên 100%.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tháng 12 năm 2005, Luật
Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được ban hành. Tất cả các bộ, ngành, địa
phương và tổ chức đã tích cực triển khai thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Tuy nhiên, tình trạng buông lỏng quản lý, vi phạm các nguyên tắc quản lý tài
1
chính, ngân sách, làm thất thoát tài sản của Nhà nước còn rất lớn. KBNN với
chức năng kiểm soát chi NSNN như “người gác cổng” giữ cho các chế độ về
dụng NSNN, của tác giả Nguyễn Thị Chắt, Tạp chí Quản lý ngân quỹ quốc
gia, số 38/ 2005.
- Một số ý kiến về công tác kiểm soát chi ngân sách qua KBNN, của tác
giả Nguyễn Văn Biểu, Tạp chí Quản lý ngân quỹ quốc gia, số 42/2005.
- Hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên qua một năm thực hiện
Luật NSNN sửa đổi, của tác giả Trần Thị Thảo, Tạp chí Quản lý ngân quỹ
quốc gia, số 37/2005.
- Kiểm soát một cửa hay giao dịch một cửa, của tác giả Vĩnh Sang, Tạp
chí Quản lý ngân quỹ quốc gia, số 62/2007.
Nhìn chung, các công trình trên đã đề cập đến một số vấn đề lí luận và
thực tiễn về chi thường xuyên NSNN và kiểm soát chi thường xuyên NSNN
dưới những giác độ nhất định. Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về
kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc nhà nước một cách toàn
diện, tổng thể trong cả nước và đặc biệt là ở tỉnh Bến Tre.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn có liên quan tới đề tài để đề xuất những giải pháp hoàn thiện
kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN trên địa bàn tỉnh Bến Tre, bảo
đảm cho việc quản lí, sử dụng NSNN đúng quy định, đúng chế độ và có hiệu
quả, góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí tài sản công.
Để hiện thực hoá mục đích nghiên cứu đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu của
luận văn đặt ra là:
- Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý và kiểm soát chi thường xuyên
NSNN qua KBNN trong điều kiện hiện nay.
- Phân tích thực trạng kiểm soát chi thường xuyên tại KBNN tỉnh Bến
Tre trong thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và
nguyên nhân chủ yếu.
3
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên NSNN
qua KBNN tỉnh Bến Tre phù hợp với bối cảnh mới hiện nay.
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái quát về ngân sách nhà nước
NSNN là một phạm trù lịch sử, phản ánh các quan hệ kinh tế trong điều
kiện kinh tế hàng hoá - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ để thực hiện
chức năng của nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của NSNN gắn liền với sự tồn
tại và phát triển của nhà nước.
Tuy đã tồn tại khá lâu, nhưng đến nay, NSNN vẫn được nhìn nhận dưới
nhiều giác độ khác nhau và khái niệm NSNN cũng chưa thống nhất. Nếu xem
xét bề ngoài hay chỉ quan tâm về mặt lượng thì ngân sách là bảng liệt kê các
khoản thu và chi bằng tiền của nhà nước trong một giai đoạn nhất định. Có ý
kiến cho rằng, ngân sách là văn kiện được nghị viện thảo luận và phê chuẩn
mà trong đó, các nghiệp vụ tài chính của nhà nước được dự kiến và cho phép.
Một số ý kiến lại cho rằng, NSNN là kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của
nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định.
Theo Luật NSNN được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ hai thông qua
ngày 16/12/2002: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của
Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được
thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước” [29].
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận khái quát hơn và sâu xa hơn thì NSNN phản
ánh các quan hệ phân phối cơ bản của nền tài chính quốc gia. Về mặt kinh tế,
NSNN thể hiện trong mối quan hệ kinh tế - tài chính giữa nhà nước với các
5
chủ thể của nền kinh tế trong quá trình hình thành, phân bổ và sử dụng
NSNN, quá trình phân phân phối và phân phối lại thu nhập nhằm thực hiện
các mục tiêu kinh tế - xã hội của nhà nước.
NSNN có tính niên hạn với niên độ hay năm tài khoá thường là một
năm. Ở nước ta hiện nay, năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và kết thúc
Chi NSNN bao gồm nhiều khoản chi khác nhau tuỳ theo cách phân
loại. Theo lĩnh vực hoạt động, chi NSNN bao gồm: chi quản lý hành chính,
chi đầu tư kinh tế, chi cho y tế, chi cho giáo dục, chi cho phúc lợi xã hội, chi
cho an ninh quốc phòng; theo mục đích chi tiêu, chi NSNN bao gồm chi tích
luỹ, chi tiêu dùng; theo thời hạn tác động của các khoản chi, chi NSNN bao
gồm: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác (như chi cho vay, trả
nợ, viện trợ ).
Chi thường xuyên là nhóm chi NSNN đặc biệt quan trọng, gồm rất
nhiều khoản chi và bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
1.1.2. Nội dung, vai trò của chi thường xuyên ngân sách nhà nước
1.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của chi thường xuyên ngân
sách nhà nước
Chi thường xuyên NSNN là các khoản chi nhằm duy trì hoạt động
thường xuyên của nhà nước với các nội dung chủ yếu: chi tiền công, tiền lương;
chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ; chi chuyển giao thường xuyên [17, tr.97].
Về thực chất, chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối lại nguồn
vốn từ quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm duy trì hoạt động bình
thường của bộ máy nhà nước gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà
Nhà nước đảm nhiệm.
Chi thường xuyên NSNN có một số đặc điểm cơ bản như sau:
7
Một là, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên từ NSNN đều
mang tính ổn định và có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian hàng
tháng, hàng quý, hàng năm.
Hai là, các khoản chi thường xuyên phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng.
Hầu hết các khoản chi thường xuyên nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản
lý hành chính, hoạt động sự nghiệp, về an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã
hội và các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức. Các hoạt động này
hầu như không trực tiếp tạo ra của cải vật chất. Tuy nhiên, những khoản chi
thường xuyên có tác dụng quan trọng đối với phát triển kinh tế vì nó tạo ra
- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông
tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự
nghiệp xã hội khác;
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế;
- Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước;
- Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao
động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến
binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam;
- Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
- Phần chi thường xuyên thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự
án nhà nước;
- Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội;
- Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;
- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
9
tổ chức xã hội - nghề nghiệp;
- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật.
Theo đối tượng chi trả, chi thường xuyên NSNN bao gồm các nội dung
chủ yếu sau:
- Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính - sự nghiệp
như: tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, y tế, vệ sinh, học bổng
cho học sinh và sinh viên v.v
- Các khoản chi về hàng hoá, dịch vụ tại các cơ quan nhà nước như: văn
phòng phẩm, sách, báo, dịch vụ viễn thông và thông tin, điện, nước, công tác
phí, chi phí hội nghị v.v
- Các khoản chi hỗ trợ và bổ sung nhằm thực hiện các chính sách xã hội
hay thực hiện điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước.
- Các khoản chi trả lãi tiền vay trong và ngoài nước.
tiếp thuộc các chương trình quốc gia.
- Chi từ nguồn tăng thu so dự toán được giao và từ nguồn dự phòng
ngân sách theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Hai là, bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm
quyền quy định.
Ba là, đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người được ủy
quyền quyết định chi.
Bốn là, trường hợp sử dụng vốn, kinh phí NSNN để mua sắm trang thiết bị,
phương tiện làm việc và các công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá
thì còn phải tổ chức đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật;
Năm là, các khoản chi có tính chất thường xuyên được chia đều trong
năm để chi; các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số
thời điểm như mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi có tính chất không
thường xuyên khác phải thực hiện theo dự toán quý được đơn vị dự toán cấp I
giao cùng với giao dự toán năm.
1.2. KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA
11
KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của kiểm soát chi thường xuyên ngân
sách nhà nước qua kho bạc nhà nước
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là việc KBNN sử dụng
các công cụ nghiệp vụ của mình thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các
khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN nhằm đảm bảo các khoản chi đó
được thực hiện đúng đối tượng, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà
nước quy định và theo những nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lý tài
chính của Nhà nước.
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN có một số đặc điểm như sau:
Một là, kiểm soát chi thường xuyên gắn liền với những khoản chi
thường xuyên nên phần lớn công tác kiểm soát chi diễn ra đều đặn trong năm,
ít có tính thời vụ, ngoại trừ những khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài
toán NSNN được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí
NSNN chuẩn chi.
Hai là, tất cả các cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí NSNN phải mở tài
khoản tại KBNN; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, KBNN
trong quá trình lập, phân bổ, và thực hiện dự toán được giao.
Ba là, mọi khoản chi NSNN phải được hạch toán bằng đồng Việt Nam
theo từng niên độ ngân sách, cấp ngân sách và theo Mục lục NSNN. Các
khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và
hạch toán chi bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày
công lao động do cơ quan có thẩm quyền quy định.
Bốn là, trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN, các
khoản chi sai phải thu hồi giảm chi. Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài
chính hoặt cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện thu hồi giảm
chi NSNN.
13
Năm là, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều
kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN
theo đúng quy định; tham gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và
xác nhận số thực chi NSNN qua KBNN của các đơn vị sử dụng NSNN.
KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thông báo cho
đơn vị sử dụng NSNN biết, đồng thời gửi cơ quan tài chính đồng cấp giải
quyết trong các trường hợp: chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự
toán được duyệt; chi không đúng chế độ, định mức chi tiêu, không đủ các
điều kiện theo quy định.
Thủ tục kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước được thực
hiện theo luật định. Căn vào yêu cầu quản lý, mục đích sử dụng kinh phí khi
cấp phát thanh toán các khoản chi thường xuyên, KBNN đòi hỏi các khoản
chi đó phải đáp ứng các thủ tục sau:
có chữ ký của thủ trưởng, kế toán trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người
được uỷ quyền; các hồ sơ chứng từ khác có liên quan.
1.2.2.2. Nội dung và qui trình kiểm soát chi thường xuyên ngân sách
nhà nước
Nội dung kiểm soát chi NSNN nói chung và kiểm soát chi thường
xuyên nói riêng thể hiện qua ba giai đoạn kiểm soát: kiểm soát trước khi chi,
kiểm soát trong khi chi và kiểm soát sau khi chi.
Kiểm soát trước khi chi là kiểm soát việc lập, quyết định, phân bổ dự
toán chi NSNN. Đây là khâu đầu tiên trong chu trình kiểm soát chi. Nó giúp
nâng cao chất lượng dự toán, tránh tình trạng giao dự toán quá thấp không đủ
kinh phí hoạt động cho đơn vị hoặt giao dự toán quá cao dễ dẫn đến lãng phí
trong sử dụng NSNN.
Kiểm soát trong khi chi là kiểm soát quá trình thực hiện dự toán nhằm
15
đảm bảo các khoản chi phải đủ điều kiện theo quy định trước khi xuất quỹ
NSNN chi trả cho đối tượng thụ hưởng NSNN. Kiểm soát trong khi chi là
khâu chủ yếu của chu trình kiểm soát chi và cũng là nhiệm vụ quan trọng nhất
của KBNN trong việc quản lý chi quỹ NSNN. Kiểm soát trong khi chi giúp
ngăn chặn kịp thời những khoản chi không đúng chế độ quy định, tránh lãng
phí và thất thoát tiền và tài sản nhà nước.
Kiểm soát sau khi chi là kiểm tra tình hình sử dụng kinh phí của đơn vị
sử dụng NSNN sau khi KBNN đã xuất quỹ NSNN. Kiểm soát sau khi chi do
các cơ quan có thẩm quyền quyết định dự toán, cơ quan kiểm toán và cơ quan
tài chính đảm nhiệm.
Kiểm soát chi NSNN qua KBNN được tiến hành theo ba nội dung cơ
bản như sau:
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ chi: Chứng từ chi
phải được lập đúng mẫu qui định đối với từng khoản chi. Chẳng hạn, với chi
dự toán bằng tiền mặt, khi sử dụng kinh phí thường xuyên áp dụng mẫu C2-
04/NS, kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng mẫu C2- 04b/NS, dự
có trong dự toán được duyệt, không đúng đối tượng, tiêu chuẩn, định mức,
không đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ ), KBNN từ chối chi trả và thông
báo cho đơn vị, cơ quan tài chính cùng cấp biết để xử lý. Thủ trưởng cơ quan
KBNN là người có quyền đưa ra quyết định từ chối và hoàn toàn chịu trách
nhiệm về quyết định từ chối của mình.
1.2.2.3. Công cụ kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước
qua Kho bạc nhà nước
Một là, công cụ kế toán NSNN. Kế toán NSNN là một trong những
công cụ quan trọng gắn liền với hoạt động quản lý NSNN của KBNN. Nó có
vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát hoạt động thu, chi
17
NSNN. Kế toán NSNN phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời tình hình thu, chi
NSNN, qua đó cung cấp những thông tinh cần thiết để các cơ quan chức năng
điều hành ngân sách có hiệu quả cao. Một trong những chức năng quan trọng
của kế toán NSNN là hạch toán kế toán, kiểm tra tình hình cấp phát kinh phí
NSNN. Nó là công cụ chủ yếu để kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua
KBNN. Cụ thể, kế toán NSNN cung cấp số liệu tồn quỹ NSNN, số liệu về
tình hình nhập, xuất, tồn dự toán chi của đơn vị sử dụng NSNN. Đây là một
trong những căn cứ quan trọng để KBNN xem xét các khoản chi của đơn vị
có đủ điều kiện hay không từ đó đưa ra quyết định cấp phát hay từ chối cấp
phát. Về nguyên tắc, các khoản chi thường xuyên của mõi đơn vị sử dụng
NSNN không được vượt quá số tồn dự toán của đơn vị đó và không được
vượt quá tồn quỹ NSNN.
Hai là, công cụ mục lục NSNN. Hệ thống Mục lục NSNN là bảng phân
loại các khoản thu, chi NSNN theo hệ thống tổ chức nhà nước, ngành kinh tế
và các mục đích kinh tế - xã hội do Nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ công
tác lập, chấp hành, kế toán, quyết toán NSNN và phân tích các hoạt động kinh
tế tài chính thuộc khu vực nhà nước.
Mục lục NSNN là một trong những công cụ quan trọng, không thể
thiếu trong công tác kiểm soát chi. Nội dung, kết cấu và cách sử dụng công cụ
soát chi. Về mặt kỷ thuật, công tác kiểm soát chi thường xuyên có thể thực
hiện bằng phương pháp thủ công. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của tin học, một
số khâu của công tác kiểm soát chi được tiến hành nhanh chóng và chính
xác hơn rất nhiều so với thực hiện theo phương pháp thủ công. Chẳng hạn,
kiểm soát mức tồn quỹ ngân sách, mức tồn dự toán của từng đơn vị sử
dụng ngân sách, kiểm soát mục lục ngân sách. Công cụ tin học còn có ý
nghĩa đặc biệt đối với công tác kế toán và công tác thanh toán các khoản chi
NSNN qua KBNN.
19
1.2.3. Các yếu tố tác động đến kiểm soát chi thường xuyên ngân
sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước
Chi NSNN và kiểm soát chi thường xuyên NSNN là mội quá trình liên
quan đến tất cả các cấp, các ngành và nhiều cơ quan đơn vị. Đồng thời nó
cũng chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó có một số yếu tố chủ yếu sau:
Một là, yếu tố thể chế, pháp lí. Trong nhóm yếu tố này, Luật Ngân
sách nhà nước được coi là yếu tố rất quan trọng, là một trong những căn cứ
chủ yếu để kiểm soát NSNN nói chung và kiếm soát chi thường xuyên
NSNN nói riêng.
Luật NSNN qui định vai trò và trách nhiệm của KBNN trong quản lý
quỹ NSNN, kiểm soát và kế toán các khoản chi NSNN. Luật NSNN sửa đổi
năm 2002 có những điều khoản liên quan đến KBNN trong công tác chi
NSNN. Chẳng hạn, Điều 7 quy định: KBNN là cơ quan quản lý quỹ NSNN;
Điều 56 quy định: căn cứ vào dự toán NSNN được giao và yêu cầu thực hiện
nhiệm vụ, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách quyết định chi gửi KBNN.
KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của
pháp luật và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện quy định; trách
nhiệm của KBNN được quy định tại điều 58 như sau: thủ trưởng cơ quan
KBNN có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đủ các điều
kiện quy định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Về kế toán
ngân sách, Điều 61 tại Khoản 2 quy định: KBNN tổ chức thực hiện hạch toán
chiếu với các quy định hiện hành của Nhà nước, có phẩm chất đạo đức tốt để
có thể vừa làm tốt công tác kiểm soát chi vừa đảm bảo tính trung thực, khách
quan, không lợi dụng quyền hạn, trách nhiệm được giao để vụ lợi hay có thái
độ hách dịch, sách nhiễu đối với đơn vị trong quá trình kiểm soát chi.
21
Sáu là, ý thức chấp hành của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN. Nếu
thủ trưởng các đơn vị sử dụng NSNN có tính tự giác cao trong việc chấp hành
chế độ chi tiêu NSNN thì các khoản chi đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn,
định mức, đảm bảo có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ từ đó giúp
cho việc kiểm soát chi của KBNN được thuận lợi, nhanh chóng, tránh tình trạng
phải trả lại hồ sơ, chứng từ, thông báo từ chối cấp phát gây lãng phí thời giờ và
công sức. Do vậy, cần làm cho đơn vị sử dụng NSNN thấy được trách nhiệm của
mình trong tất cả các khâu của quy trình ngân sách.
1.2.4. Sự cần thiết phải hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước
Việc hoàn thiện kiểm soát chi NSNN xuất phát từ những yêu cầu khách
quan. Cụ thể như sau:
Một là, hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên NSNN nhằm phù hợp
với quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật NSNN sửa đổi. Luật NSNN
và nhiều văn bản quy phạm pháp luật sau đó đã có những điều chỉnh, sửa đổi
rất căn bản đối với hoạt động NSNN nói chung và chi NSNN nói riêng. Đây
là cơ sở pháp lý quan trọng đối với kiểm soát chi NSNN nói chung và kiểm soát
chi thường xuyên NSNN nói riêng. Vì vậy, KBNN cũng phải đổi mới cơ chế
kiểm soát chi nói chung và kiểm soát chi thường xuyên nói riêng cho phù hợp
với Luật NSNN sửa đổi và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Hai là, yêu cầu đặt ra là các khoản chi NSNN phải đảm bảo đúng mục
đích, tiết kiệm và có hiệu quả. Hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên sẽ góp
phần quan trọng trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tập trung mọi
nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội, chống các hiện tượng tiêu
cực, chi tiêu lãng phí, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và lành
23
Long An là một trong những tỉnh có nguồn thu NSNN lớn trong khu
vực Đồng bằng sông Cửu Long. Từ năm 1990 đến năm 2006, tổng thu NSNN
trên địa bàn tỉnh là 19.178 tỷ đồng, riêng năm 2006 số thu đạt 3.061 tỷ đồng,
tăng 35 lần so với năm 1990 và bằng 135% so với năm 2005.
Đi đôi với công tác thu NSNN, KBNN Long An thực hiện tốt công tác
cấp phát và kiểm soát chi NSNN, đảm bảo các khoản chi đều có trong dự toán
được duyệt, đúng đối tượng, đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức quy định, giải
quyết kịp thời mọi khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, vừa đảm
bảo thực hiện đúng nguyên tắc quản lý, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các
đơn vị sử dụng ngân sách. Qua công tác kiểm soát chi, KBNN Long An đã
góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN, tham gia tích cực vào công
tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng chống tham nhũng. Từ năm
1990 đến năm 2006, tổng số chi NSNN qua KBNN Long An là 17.680 tỷ đồng.
Tính riêng năm 2006, tổng chi NSNN là 2.996 tỷ đồng, tăng 44 lần so với năm
1990, bằng 169% so với năm 2005. Thông qua công tác kiểm soát chi thường
xuyên NSNN, KBNN Long An đã từ chối hàng ngàn món tiền với tổng số tiền lên
đến hàng tỷ đồng. Tính riêng năm 2006, KBNN Long An đã từ chối thanh toán
493 món với tổng số tiền là 1,850 tỷ đồng [36].
Để đạt được kết quả trên, KBNN Long An đã tập trung làm tốt một số
công tác sau:
- Nâng cao hiểu biết về pháp luật liên quan đến quản lý NSNN và các quy
định trong công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN. Ngay từ khi Luật NSNN
có hiệu lực và các chế độ về quản lý chi được ban hành, KBNN Long An đã tổ
chức triển khai đến toàn thể cán bộ công chức thuộc KBNN Long An. Đồng thời,
Kho bạc phối hợp với cơ quan tài chính tham mưu cho UBND, HĐND tỉnh ban
hành các chế độ về chi NSĐP, tổ chức triển khai Luật NSNN và các văn bản liên
quan cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN trên địa bàn.
- Nghiên cứu ứng dụng tin học vào công tác chi và kiểm soát chi chi
24