Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay ngành du lịch nớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
(CHDCND Lào) nói chung, đối với tỉnh Luông Pha Bang nói riêng đang đứng
trớc nhu cầu lớn về sự phát triển. Du lịch đợc coi là ngành kinh tế quan trọng
trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển mạnh du lịch hình thành
công nghiệp du lịch có quy mô ngày càng tơng xứng với tiềm năng du lịch
trong nớc.
Những năm qua, ở nớc CHDCND Lào thực hiện đờng lối đổi mới toàn
diện đất nớc, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN bớc đầu cũng
đã thu đợc những thành tựu hết sức quan trọng. Cho nên, tỉnh Luông Pha Bang
là tâm điểm du lịch, kinh tế vừa là thành phố cố đô, di sản văn hoá thế giới
của nớc CHDCND Lào. Có tiềm năng về nhiều mặt để phát triển du lịch, có
điều kiện thiên nhiên phong phú, nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có
truyền thống lịch sử lâu đời. Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh
tế mũi nhọn nâng cao chất lợng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi
thế và điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá lịch sử, đáp ứng nhu
cầu du lịch trong nớc và phát triển du lịch quốc tế. Đó là yêu cầu cần thiết để
góp phần thúc đẩy và phát triển kinh tế - xã hội trong tỉnh. Tuy nhiên, sự phát
triển vẫn cha tơng xứng với tiềm năng hiện có, tính tự phát còn lớn, hiệu quả
thấp, sản phẩm và loại hình du lịch còn đơn điệu, ý thức trách nhiệm về phát
triển du lịch bền vững, về giữ gìn bảo vệ tài nguyên môi trờng cha cao.
Du lịch đã có những tác động tích cực, đồng thời cũng có những hạn chế
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phơng. Chính vì vậy, việc
nghiên cứu thực tiễn phát triển kinh tế du lịch tỉnh Luông Pha Bang vừa mang
tính cấp thiết trớc mắt, vừa có tính chiến lợc lâu dài nhằm đề xuất các giải
pháp phát triển ngành kinh tế mũi nhọn này ở tỉnh Luông Pha Bang. Xuất phát
từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: Phỏt trin du lch trờn a bn tnh Luụng
Pha Bang trong giai on hin nay làm luận văn thạc sỹ kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bang trong giai đoạn hiện nay và mai sau.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để góp phần phát triển du lịch ở tỉnh
Luông Pha Bang.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chơng, nôi dung.
Chơng 1: Một số vấn đề chung về phát triển du lịch ở CHDCND Lào.
Chơng 2: Thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luông Pha Bang.
Chơng 3: Phơng hớng và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch trên địa
bàn tỉnh Luông Pha Bang trong giai đoạn hiện nay.
Chơng 1
Một số vấn đề chung về phát triển
du lịch ở cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của du lịch trong phát
triển kinh tế- xã hội
1.1.1. Một số khái niệm
- Khái niệm du lịch, hoạt động du lịch
Du lịch là hoạt động của con ngời đi tới một môi trờng ngoài nơi c trú
hoặc không c trú, trong một khoảng thời gian nhất định nhằm nghỉ ngơi, chữa
bệnh phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức kèm theo
việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá xã hội và nhu cầu giao
lu trong cuộc sống, đồng thời, du lịch là một nhân tố của phát triển kinh tế - xã
hội.
Từ định nghĩa trên theo tác giả có ý nghĩa và bản chất đích thực của du
lịch là du ngoạn để hởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hoá
cao, kể cả việc kết hợp để dỡng bệnh, thăm viếng và các hoạt động khác Bản
chất kinh tế của du lịch là ở chỗ sản xuất và cung cấp hàng hoá phục vụ việc
thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của khách du lịch. Và để đáp ứng nhu
cầu đó ngành du lịch ra đời và dần dần trở thành một nghành kinh tế độc lập
chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nớc [4, tr. 8].
kinh tế - xã hội [4, tr. 8].
Nói tóm lại. Bản chất du lịch vầ hoạt động du lịch là du ngoạn của cong
ngời để đợc hởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang tính văn hoá
cao, đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hơng đất nớc họ, bao gồm hệ thống di
tích lịch sử - văn hoá- phong tục tập quán, cảnh quan thiên nhiên, văn học -
nghệ thuật, món ăn- thức uống dân tộc, cơ sở nghỉ dỡng- chữa bệnh, cơ sở thể
thao giải trí Trong đó quan trọng nhất là di tích lịch sử- văn hoá, danh lam
thắng cảch thiên nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc, cộng đồng anh em ở địa ph-
ơng đất nớc. Du lịch do ba yếu tố cơ bản là chủ thể du lịch và hoạt động du
lịch (du khách) khách thể du lịch (tài nguyên du lịch) và môi trờng du lịch
(ngành du lịch) cấu thành. Loài ngời có ba nhu cầu, tức nhu cầu sinh tồn, nhu
cầu hởng thụ và nhu cầu phát triển. Hoạt động du lịch phát triển tới quy mô to
lớn nh ngày nay chứng minh loài ngời đã bắt đầu vợt ra khỏi rằng buộc của
nhu cầu sinh tồn, có điều kiện hớng tới sự thoả mãn nhu cầu hởng thụ và phát
triển là một phần trong sinh hoạt văn hoá của con ngời hiên đại, vì thế hoạt
động du lịch dới sự chỉ đạo, đúng đắn của t tởng, đối với đời sống xã hội loài
ngời có một ý thức rất lớn [4, tr.9].
- Khái niệm kinh tế du lịch
"Kinh tế du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội
dung sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, phát triển du lịch
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dỡng của nhân dân và du
khách quốc tế. Góp phần nâng cao dân trí tạo việc làm và phát triển kinh tế- xã
hội đất nớc" [16, tr.10].
Dựa vào khái niệm trên có thể hiểu du lịch là ngành kinh tế có tính tổng
hợp, lấy khách du lịch làm đối tợng, cung cấp sản phẩm, du lịch cần thiết cho
khách du lịch tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch của họ.
Cách hiểu này dù là một phần lý giải tại sao đối với nhiều quốc gia,
trong bảng phân ngành của nền kinh tế quốc dân đã xếp du lịch là nghành dịch
vụ, hoạt động kinh doanh du lịch chủ yếu là các dịch vụ, nhằm trở giúp cho
con ngời trong quá trình đi thăm quan, du lịch nh: dịch vụ vẩn chuyển, dịch vụ
- Kinh doanh lữ hành nội địa và quốc tế.
- kinh doanh dịch vụ ăn uống.
- Kinh doanh các dịch vụ bổ sung.
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch.
Hoạt động kinh doanh du lịch tác động mạnh mẽ đến cán cân thu chi
của vùng du lịch, của một đất nớc. Đối với du lịch quốc tế, việc mang ngoại tệ
đến đổi và chi tiêu ở khu vực du lịch làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu
chi của vùng và của đất nớc.
1.1.2. Đặc điểm của du lịch
Sự phát triển cảu du lịch hiện nay càng có xu hớng đại chúng háo. Đợc
khôi phục phát triển nhanh chóng, thu nhập cá nhân và tố chất văn hoá của
toàn thể loài ngời đợc phổ biến ngày càng cao, từ đó làm cho hoạt động du lịch
phất triển thành một hoạt động mang tính quần chúng. Nếu nói rằng chủ của lữ
hành và du lịch trớc đây là ngời giàu có, thì trong giai đoạn du lịch này, quần
chúng lao động đã trở thành ngời tham gia chủ yếu của hoạt động du lịch.
Hình thức <du lịch đại chúng> đây là đặc điểm nội bật nhất của du lịch hiện
đại. Sự phát triển của du lịch hiện nay ngày càng đa dạng hoá. <hoạt động du
lịch thời kỳ đầu là du lịch thơng mại lấy kinh tế làm mục đích chính, du lịch
làm điều kiện và du lịch học lấy giáo dục làm mục đích cũng đã có lịch sử t-
ơng đối lâu đời nhng vẫn không có sự phát triển đáng kể> [7, tr.45]. Cùng với
sự phát triển của xã hội và sự tiến bộ về văn minh, vật chất, văn minh tinh thần
của loài ngời, du lịch nghỉ phép, nghỉ ngơi mang tính vui chơi, giải trí dần dần
trở thành thói quen của du lịch hiện nay.
- Du lịch vừa là kinh tế, văn hoá, tinh thần.
Ngành du lịch chỉ trở thành kinh tế mũi nhọn, khi phải đợc quốc gia đó
lựa chọn làm chiến lợc phát triển kinh tê - xã hội của quốc gia và có đủ điều
kiện cần thiết khác nh: Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực nhân văn, nguồn lực cơ
sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở hạ tầng, các cơ hội và nguồn lực bên
ngoài Để xác định ngành du lịch có phải là ngành kinh tế của một quốc gia,
một địa phơng cần làm rõ một số nội dung sau đây.
sắc văn hoá dân tộc, cộng đồng anh em ở địa phơng đất nớc, nhằm thoả mãn
nhu cầu và sự hài lòng của khách du lịch nội địa và khách quốc tế.
Điều này chứng minh rằng loài ngời đã thoát ra sự rằng buộc của nhu
cầu sinh tồn, có điều kiện hớng tới sự thoả mãn nhu cầu hởng thu và phát triển
một bộ phận trong sinh hoạt văn hoá của con ngời hiện đại.
- Du lịch gắn với điều kiện thiên nhiên, khí hậu phong tục tập quán.
Du lịch gắn liền với thiên nhiên là tài nguyên, thiên nhiên ban tặng để
cho con ngời tiến hành các hoạt động du lịch nh nghỉ ngơi điều dỡng, du
ngoạn thăm quan bao gồm: Sông núi, hang động, thác, rừng, ánh sáng, chim
thú quý hiếm, hoa thơm, cỏ lạ quy nạp lại có thể chia ra ba phạm vi chủ lực
là, tài nguyên du lịch sông núi, tài nguyên du lịch khí hậu và tài nguyên du
lịch sinh vật cụ thể đó là do thuận lợi vị trí địa lý mang lại nh thông thờng với
các nớc dễ dàng, có đờng sông đờng suối, đờng bộ, đờng hàng không là trung
tâm của vùng kinh tế phát triển năng động, trên thế giới. Đây là một nhân tố cơ
bản để phát triển du lịch. Quốc gia nào có nhiều tài nguyên tự nhiên thì quốc
gia đó có tiềm năng lớn để thu hút đợc nhiều khách du kịch đến thăm quan.
Do ảnh hởng của nhân tố địa lý tụe nhiên và thời tiết, khí hậu nên du
lịch ở hầu hết các nớc đều mang tính thời vụ đặc trng. Đối với một nớc thuộc
khu vực nhiệt đới, gió mùa đông bắc, khí hậu bốn mùa thay đổi xuân, hạ, thu,
đông. Khách du lịch nội địa, quốc tế đi du lịch tham quan thắng cảnh ai cũng
hởng thụ khí hậu ấm áp, thời tiết trong sạch thoáng mát, loại trừ gây hại ô
nhiễm môi trờng, bên cạnh những tiềm năng du lịch rất lớn và đa dạng, thì tính
thời vụ trong du lịch càng rõ nét.
Du lịch gắn liền với phong tục tập quán, phong tục tập quán là những
thói quen đợc đa vào nếp sống hàng ngày. Một dân tộc đều có những thói quen
cá biệt lúc ban đầu, về sau do sự tiếp súc với nhau nên có sự ảnh hởng, bắt trớc
và có những cái lẫn nhau. Phong tục tập quán có hai loại: mỹ tục là những tập
tục tốt, nh thờ phụng tổ tiên, và hủ tục là những tập tục xấu nh mê tín dị đoan,
tin vào bùa phép. Thế giới văn minh mỗi ngày thay đổi, và nếp sống cũng vậy,
nhân loại ngày nay đều cố gắng phát huy mỹ tục và đẩy lùi hủ tục vào bóng tối
Chất lợng của chuỗi dịch vụ này sẽ quyết định thoả mãn nhu cầu của
khách cả về vật chất và tinh thần. Hơn nữa, nhiều dịch vụ lại đợc thực hiện bởi
nhiều doanh ngiệp kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau. Vì thế sản phẩm
du lịch, có chất lợng có uy tín của ngành là sự phấn đấu của toàn công đoạn,
từng doanh nghiệp và của sự phối hợp liên ngành, cuối cùng phải đợc du
khách chấp nhận. Nâng cao chất lợng của sản phẩm du lịch sẽ trở thành một
chiến lợc trong hoạt động kinh doanh du lịch. ở một số nớc một số nớc phát
triển sự dụng rất nhiều hình thức độc đáo, nên thu hút đợc khách trong và
ngoài nớc và quốc tế đến càng ngày càng đông.
Xã hội càng văn minh, kinh tế càng phất triển nhu cầu của du khách
càng phong phú đa dạng. Do vậy việc tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo hấp dẫn
khách du lịch là một tất yếu khách quan, nhằm phát triển du lịch ở nhiều quốc
gia hiện nay.
1.1.3. Vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế- xã hội ở cộng hoà
nhân dân Lào
- Về kinh tế
Du lich trớc hết là một thị trờng vừa rộng vừa lớn với nhu cầu hoá du
lịch rất đa dạng và khả năng thanh toán của khách hàng kha cao, vừa mang
tính đặc thù. Thị trờng du lịch hoạt động trong không gian lãnh thổ thị trờng
nay lại hoàn toàn có khả năng "xuất khẩu tại chỗ" nhiều hàng hoá đặc biệt là
hàng hoá nang tính chất đặc trng của dân tộc phân bổ giải rác khắp mọi miền
của đất nớc nh món ăn dân tộc hàng thủ công mỹ nghệ lu niệm.
Những hàng hoá này thờng có giá trị và giá trị sự dụng không đáng kể
đối với thị trờng nội địa nhng lại có giá trị cao, lợi nhuận lớn do thoả mãn đợc
"gu" hay thị trờng hiếm nào đó của khách du lịch nớc ngoài. Mặt khác, có rất
nhiều loại "hàng hoá" phục vụ du khách không thể vận chuyển đi bán ở thị tr-
ờng thế giới đợc thì lại có thể bán với giá cả cao, thu lợi nhuận lớn tại nớc
mình nh cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, di tích lịch sử, công trình văn hoá nổi
tiếng, phong tục tập quan đặc sắc.vv [12, tr.8].
xuất phát từ những đặc điểm kinh tế và khả năng kinh doanh nh trên nền
cấp xã hội của vùng này đến vùng khác và nớc khác.
Sự tiếp nhận đó bao gồm cả những mặt tốt nh trên, nhng đồng thời du
khách cũng mang theo cả những mặt tiêu cực về chính trị - xã hội không nhỏ
và không ít khó khăn phức tạp.
Vấn đề lớn đầu tiên là phải biết và có đủ bản lĩnh để chắt lọc và tiếp thu
có phê phán nền văn minh nhân loại, văn minh thời đại sao cho phù hợp với
truyền thống văn hoá, lịch sử và con ngời Lào đề phòng ngay từ đầu tình trạng
lai căng nền văn hoá ngoại lai, hỗn tạp là một vẫ đề có ý nghĩa sống còn đối
với tơng lai dân tộc, vấn đề đặt ra không phải là tinh thần dân tộc cực đoan, bài
ngoại mà là sự chắt lọc một cách chủ động những gì phù hợp trên nền tảng
kinh tế lào.
Điều này đòi hỏi nhà nớc phải với t cách là chủ thể định hớng chứ không
thể để nhân dân tự sàng lọc một cách tự nhiên chủ nghĩa.
Đã có không ít những quốc gia đã và đang đứng trớc nguy cơ nền văn
hoá dân tộc bị băng hoại, lai căng và do vậy sự phát triển không những phải trả
giá quá đắt mà sẽ không bền vững.
Sự mở rộng hoạt động du lịch, nhất là du lịch hớng ngoại, đồng thời
cũng tạo ra những điều kiện và cơ hội cho một số dịch bệnh phát triển, cho
một số ngời nhập c bất hợp pháp, cho một số tệ nạn xã hội nh: Cờ bạc, mại
dâm, nghiện hút, lối sống hiện sinh nảy nở. Cùng với sự phát triển du lịch thì
yêu cầu bảo vệ môi trờng sinh thái, chống sự lợi dụng để hoạt động phá hoại
gây mất ổn định về chính trị- xã hội càng đắt ra một cách gay gắt hơn. Chính
vì vậy, công tác quản lý Nhà nớc đối với du lịch đợc đặt ra nhiều nội dung
phong phú và phải đợc thực hiện với những yêu cầu rất riêng của du lịch.
1.2. Nội dung về điều kịên phát triển du lịch
Du lịch là một trong những ngành có định hớng tài nguyên rõ rệt."Tài
nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích các mạng, giá
trị nhân văn , công trình lao động sáng tạo của con ngời có thể đợc sự dụng
nhằm thoả măn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để có thể hình thành các điểm
du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn su lịch" [20,tr.2]. Tài nguyên du
trình độ văn hoá cao, thì nhu cầu đòi hỏi du lịch càng lớn, đòi hỏi chất lợng du
lịch cũng phải hoàn thiện và đa dạng.
1.2.1. Đầu t cơ sở hạ tầng
Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng, đây là một nguồn lực một
điều kiện không thể thiếu đợc để phát triển du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật và
kết cấu hạ tầng tốt, đồng bộ tạo điều kiện thuận cho phát triển du lịch, ngợc lại
sẽ gây khó khăn cho phát triển du lịch. Đầu t cơ sở hạ tầng bao gồm:
- Đầu t vào cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng nhằm đảm bảo nơi
ănn chốn ở cho khách du lịch. Đây là hai dịch vụ đặc trng nhất của hoạt động
kinh doanh du lịch, chúng đáp ứng nhu cầu bản năng của con ngời (ăn và ngủ),
khi họ sống ngoài nơi c trú thờng xuyên của họ. Dịch vụ lu trú và dịch vụ ăn
uống chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành của các sản phẩm du lịch.
Đầu t vào cơ sơ vật chất kỹ thuật kết cấu hạ tầng và dịch vụ ăn uống:
Bao gồm toàn bộ các phơng tiện vật chất, tham gia vao việc sản xuất và cung
ứng các dịch vụ hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu ăn uống và giả trí của du
khách. Chúng bao gồm tất cả các phòng ăn, phòng uống nhà kho, nhà bếp, các
trang thiết bị tiện nghi phục vụ khách ngủ qua đêm. Các loại hình cơ sở lu trữ
gồm: Khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, lang du lịch trang trại.
- Mạng lới bán hàng: là một thành phần tròn cơ sở vật chất kỹ thuật du
lịch nhằm đáp ứng nhu câu của khách du lịch về mua sắm, bằng việc bán các
hàng hoá đặc trng của địa phơng mình, của đất nớc minh, hàng thực phẩm và
các hàng hoá khác. Cơ sở vật chất kỹ thuật này gồm hai phần: Một phần thuộc
các trung tâm dịch vụ du lịch, phục vụ khách du lịch là chủ yếu. Phần khác
thuộc mạng lới thơng nghiệp địa phơng, với nhiệm vụ phục vụ nhân dân địa
phơng, đồng thời càng đóng vai trò quan trọng đối với phục vụ khách du lịch,
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nơi đó.
- Đầu t vào cơ sở thể thao: Là bộ phận của cơ sở vật chất kỹ thuật du
lịch, có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách làm cho nó
trở nên tích cực hơn. Các cơ sở thể thao bao gồm cả các công trình thể thao,
các phòng thể thao với nhiều loại khác nhau, các thiết bị chuyên dùng cho mỗi
du lịch trong tổng thể các ngành kinh tế - xã hội và các định hớng, biện pháp
đúng đắn để phát triển ngành này. Tổ chức du lịch thế giới (WTO), trong một
báo cáo của mình năm1978 đã nhận xét: "kinh tế du lịch ở mốt số nớc phát
triển mạnh, đây không phải là một sự ngẫu nhiên, đột xuất mà do một số nớc
chính phủ các nớc đã quan tâm, đặt du lịch theo hớng phát triển thành ngành
kinh tế mũi nhọn. Do đó, ngành du lịch phát triển rất năng động trong việc kế
hoạch hoá đầu t thành ngành du lịch quốc gia liên kết chặt chẽ với ngành th-
ơng mại du lịch của các nớc trên thế giới". Nớc nào có đờng lối chính sách
phát triển du lịch đúng đắn thắt chặt sẽ làm ổn định chính trị- kinh tế- xã hôi.
Các nớc có nền kinh tế phát triển, chính trị trong nớc ổn định, có đờng lối hoà
nhập cộng đồng, làm bạn với tất cả mọi ngời thì nhu cầu đi du lịch của nggời
dân đến các nớc khác đến du lịch ngày càng tăng.
Nếu kinh tế có nhiều biến động, chính trị bất ổn, đồng tiền lam phát ng-
ời dân đi du lịch giảm.
Tiềm lực kinh tế, đó là sự phát triển kinh tế của một nớc, t công nghiệp,
nông nghiệp, xuất nhập khẩu, giao thông vận tải, tài chính ngân hàng kéo
theo nó là sự gia tăng các doanh nhân, những nhà đầu t, những nhà tiếp thị đến
với các nớc mình. Chính nguồn khách này sẽ tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ
dịch vụ của ngành du lịch nh dịch vụ lu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận
chuyển, dịch vụ thăm quan Một đất nuớc trong một năm tổ chức đợc nhiều
hội trợ quốc tế về thơng mại, công nghiệp. Thì đồng thời cũng là nguồn cung
ứng khách du lịch, một cửa khẩu mà mật độ, khối lợng giao, nhận hàng hoá
với khách hàng quốc tế lớn, thì ở đó số lợng khách qua cửa khẩu sẽ nhiều và
nh vây sẽ tạo điều kiện cho kinh doanh khách sạn nhà hàng. Đó là đờng lối
chính sách phát triển du lịch đúng đắn.
1.2.3. Hoạt động quảng bá thơng hiệu và khuyến khích phát triển
du lịch
Mục đích của hoạt động quảng bá thơng hiệu khuyến khích phát triển du
lịch là nhằm cung cấp thông tin cho du khách bao gồm thồn tin các khu du
lịch, khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí, cơ sở thể thao, các di tích lịch
Trớc đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn phát triển du lịch, vẫn đề tăng cờng
quản lý nhà nớc về du lịch cần đợc tiến hành khẩn trơng đồng bộ. Về thể chế
quản lý nhà nớc về du lịch cần coi hoạt động của khách du lịch là đối tợng
quản lý và phải xác định rõ và đủ mọi hoạt động của khách du lịch để không
bỏ sót các lĩnh vực cần quản lý. Bảo vệ quền và lợi ích của khách du lịch,
chính là bảo vệ danh tiếng, giữ gìn sự hấp dẫn du lịch của cả nớc và uy tín, thể
hiện của quốc gia. Bên cạnh đó, cần có những yêu cầu và quy định đối với
khách du lịch, Vì vậy thể chế quản lý du lịch không những phải điều chỉnh
quan hệ mua và bán mà còn hàm chứa cả việc hoạt động khác của khách nh
thủ tục xuất nhập cảnh, quá cảnh, đi lại, tiếp xúc, giao lu Do đó, hệ thống
văn bản về pháp luật về du lịch phải đồng bộ, nhất quán giữa các cấp, các
ngành, tránh dùng biện pháp hành chính máy móc. Trong quản lý hoạt động du
lịch quốc tế, thể chất quản lý phải thể hiện yêu cầu quản lý trong nớc, đồng
thời. Cần vận dụng linh hoạt và phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế.
Hiện nay, đòi hỏi của khách du lịch về sản phẩm du lịch rất cao, xuất
phát từ sự đa dạng trong văn hoá tín ngỡng, phong tục và kinh nghiệm đi du
lịch, quen tiếp xúc với sản phẩm cao cấp, hoàn chỉnh của các nớc phát triển. Vì
vậy, để lu giữ khách cần phải tôn tạo, nâng cấp các danh thắng, tài nguyên để
khai thác lâu dài , bền vững chứ không thể chạy theo lợi nhuận kinh tế trớc
mắt. Vai trò của quy hoạch trong quá trình xây dựng các điểm du lịch, khu du
lịch, tuyến du lịch hết sức quan trọng. Trong quy hoạch và xây dựng dự án phải
hớng tới đạt hiệu quả nhiều mặt, không chỉ về kinh tế mà còn đảm bảo tính
thẩm mỹ, văn hoá và giữ gìn bản sắc dân tộc. Hoạt động du lịch đa dạng mang
tính liên ngành, liên vùng nên quản lý nhà nớc về du lịch là quản lý liên ngành.
Bộ máy quản lý nhà nớc về du lịch trong hoạt động của mình cũng thể hiện
tính liên ngành rõ rệt. Ngoài cơ quan đảm nhiệm trực tiếp chức năng quản lý
nhà nớc về du lịch, còn có những bộ phận của các cơ quan khác thực hiện chức
năng quản lý du lịch. Những hoạt động quản lý du lịch của tất cả các cơ quan
này rất cần sự điều phối, chỉ đạo tập trung của Chính phủ. Hoạt động du lịch
của một đất nớc, tự thân nó, nhất là trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, th-
Việc thuyết minh cho du khách hiểu những giá trị văn hoá, lịch sử của
một địa danh nào đó có ý nghãi rất quan trọng đặc biệt là khách quốc tế. Trong
đó, xu thế du lịch văn hoá, du lịch cộng đồng ngày càng đợc khẳng định và
phát triển. Do vậy, đội ngũ hớng dẫn viên khó có thể đáp ứng đợc những nhu
cầu của du khách khi họ muốn khám phá, tìm hiểu giá trị văn hoá, lịch sử,
phong tục tập quán của ngời dân bản địa.
Ông Đỗ Đình Cờng, Giám đốc Công ty hỗ trợ du lịch cho biết: kiến thức
của hớng dẫn viên cho du khách đó là ngời có kinh nghiệm và trình độ cũng
không thể chuyển sau trong mọi lĩnh vực. Vì vậy, khi giới thiệu cho khách du
lịch tại điểm du lịch có giá trị văn hoá, lịch sử (đặc biệt là giá trị văn hoá cổ)
thờng không hiểu biết, do vậy không truyền đạt hết giá trị của các di tích đó.
Ông Cờng cũng đa ra so sánh với Thái Lan, một quốc gia trong khu vực Đông
Nam á có ngành du lịch khá phát triển nhng họ cũng quy định hớng dẫn viên
không thể hớng dẫn tại một số di tích văn hoá, lịch sử quan trọng thì không đ-
ợc quyền tác nghiệp tại những nơi đó.
Bên cạnh đó hớng dẫn viên thờng không phải là ngời địa phơng nên ít có
điều kiện tìm hiểu sâu cũng nh việc đào tạo đội ngũ này lại mất khá nhiều thời
gian và chi phí. Nh vậy có thể thấy rằng, đội ngũ thuyết minh viên tại chỗ là khá
quan trọng và cần thiết. Mặc dù có thể nhìn thấy rằng, đội ngũ thuyết minh viên
tại điểm còn một số hạn chế nhất định: trình độ văn hoá không cao, không đồng
đều đặc biệt là về kỹ năng nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ còn yếu.
Khi bàn về việc phải tập trung hơn nữa cho đội ngũ thuyết minh viên, ông
Cờng cũng cho rằng đó là cách giúp cho địa phơng phát triển du lịch cộng đồng
một cách đúng hớng và có hiệu quả. Bởi phần lớn các di tích văn hoá đều nằm
trong không gian phát triển du lịch cộng đồng mà mục tiêu phát triển loại hình du
lịch này là xoá đói giảm nghèo cho ngời dân địa phơng. Nh vậy, ngời làm việc h-
ớng dẫn viên trong ngành du lịch phải đợc đào tạo, huấn luyện một cách chính
quy, ngày càng đợc nâng cao trình độ bằng nhiều phơng thức nh: tập huấn, vừa
học vừa làm, nâng cao trình độ giáo viên của các trờng đại học chuyên ngành
hoặc các trờng nghiệp vụ du lịch hay đào tạo từ xa Việc nâng cao sự hiểu biết
triển bền vững kinh tế - xã hội của một quốc gia.
- Quản lý nhà nớc đối với bảo tồn di tích và giữ gìn bản sắc văn hoá.
Từ xa nền văn hoá lâu đời của dân tộc đã có trong niềm tự hào của cha
ông ta khi khẳng định về độc lập, chủ quyền của đất nớc trớc kẻ thù xâm lợc.
Văn hoá là một di sản cực kỳ quý báu đợc kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Ngày nay, văn hoá xuất hiện trên hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống:
văn hoá tình cảm, văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh, văn hoá tranh luận,
phê bình văn hoá là hành trang của đất nớc.
Tính dân tộc là nội dung quan trọng luôn đợc Đảng và Nhà nớc đặt lên
vị trí hàng đầu, vì đó là tính chất cốt lõi của một nền văn hoá. Nó là cơ sở của
nền văn hoá tiên tiến, kết tinh thành nguồn nội lực để xây dựng một quốc gia giầu
mạnh và phát triển bền vững. Chính do tác động của quy luật tính dân tộc mà văn
hoá mang bản sắc dân tộc. Lịch sử đã chứng kiến biết bao cuộc đấu tranh oanh
liệt, bao ngời sẵn sàng hy sinh để bảo vệ bản sắc văn hoá của dân tộc mình trớc
kẻ thù xâm lợc. Nhng ngày nay biết bao ngời dân ở hải ngoại khát khao muốn
hành hơng tìm về cội nguồn, tìm về bản sắc văn hoá dân tộc.
Văn hoá - dân tộc là hai phạm trù khác nhau nhng liên quan chặt chẽ với
nhau, vì sự khác nhau giữa các dân tộc là sự khác nhau về văn hoá. Bản sắc
mỗi dân tộc đợc thể hiện tập trung ở bản sắc văn hoá của chính dân tộc đó.
Mặt khác, chính đời sống văn hoá và giá trị tinh thần của một dân tộc là dấu
hiệu để đánh giá nền văn hoá đó ở trình độ nào thuộc các cộng đồng nào trên
thế giới. Nh vậy, đánh mất bản sắc riêng là đánh mất dân tộc.
Qua giao lu hội nhập, nền văn hoá nớc ngoài song song tồn tại cùng văn
hoá các dân tộc. Dân tộc không đồng nghĩa với quá khứ, nó vẫn không ngừng
tiếp thu những cái mới để làm phong phú cho mình, tuy nhiên cái bản chất,
tinh hoa thì không bao giờ đợc thay đổi mà phải đợc giữ gìn, vun đắp. Đó là
khí phách, tâm hồn, bản lĩnh dân tộc, là cơ sở để dân tộc hoà nhập với tiến
trình giao lu quốc tế mà không tự đánh mất mình.
Quản lý nhà nớc đối với bảo tồn di tích và giữ gìn bản sắc văn hoá có
hiệu quả đối với hoạt động văn hoá, xuất bản báo chí, bảo tồn các giá trị văn
1.3.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số tỉnh ở Việt Nam
Kinh nghiệm phát triển du lịch ở Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
sử dụng rất nhiều hình thức phục vụ khách, với nhiều hình thức độc đáo, nên
đã thu hút đợc lợng khách trong nớc và quốc tế đến ngày càng đồng. Nh ở Việt
Nam có các cửa hàng miễn thuế, bán các sản phẩm truyền thống giá rẻ, chất l-
ợng cao, các mặt hàng xa xỉ phẩm của các nớc nổi tiếng, quần áo hợp thời
trang nhằm thu hút khách du lịch, t tởng chỉ đạo dịch vụ của Việt Nam là: luôn
luôn tìm cách thoả mãn một cách tối đa nhu cầu của khách cả về vật chất lẫn
tinh thần, tâm lý; khẩu hiệu phục vụ khách là "gây ấn tợng tốt cho khách ngay
từ bớc chân đầu tiên và làm cho khách hài lòng đến bớc chân cuối cùng".
Đối với các nớc phát triển, chẳng hạn nh: Trung Quốc ngành du lịch đã
đa ra những sản phẩm du lịch độc đáo, đa dạng nhằm thu hút khách du lịch, đ-
ợc xây dựng hàng năm theo chủ đề: năm 1995 là "Năm du lịch phong tục các
dân tộc", năm 1991 là "Năm du lịch nghỉ mát", năm 1997 là "Năm du lịch đón
Hồng Kông trở về với đất nớc".
1.3.3. Vận dụng vào tỉnh Luang Pra Bang
Một là, xây dựng chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch và các chính sách giải
pháp để thúc đẩy ngành du lịch phát triển.
Chiến lợc phát triển ngành du lịch phù hợp với chiến lợc phát triển kinh
tế đất nớc, phát triển du lịch đồng bộ, kiện toàn mối quan hệ giữa ngành du
lịch với các ngành khác có liên quan.
Chiến lợc tiếp thị, quảng cáo năng động đáp ứng đợc thị hiếu của khách
du lịch.
Chiến lợc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch, đồng thời tích cực
tuyên truyền giáo dục mọi ngời dân hiểu rõ tầm quan trọng của du lịch. Đã
đem lại kết quả đáng kể, mang lại nguồn thu ngoại tệ hàng năm 2-3 tỷ USD.
Chiến lợc sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm du lịch, chú trọng phát triển
sản phẩm du lịch đến với mọi tầng lớp nhân dân, có môi trờng du lịch an toàn
thuận tiện, có nền kinh tế và chế độ chính trị ổn định.
Hai là, mạnh dạn đầu t cơ sở vật chất nhằm phát triển du lịch.
tuyên truyền, quảng cáo, khuyến khích, chào hàng và xúc tiến bán hàng trực
tiếp. Trên cơ sở đó xác định đợc thời gian tiến hành.
Năm là, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho du lịch.
Đối tợng phục vụ du lịch là con ngời, bao gồm cả ngời trong nớc và
khách du lịch nên đòi hỏi trình độ của cán bộ, nhân viên du lịch phải cao. Do
vậy, việc đào tạo bồi dỡng, giáo dục cho đội ngũ nhân viên có ý nghĩa quan
trọng nên nhiều nớc phát triển du lịch đều rất chú ý vấn đề này. Cho nên ngời
làm việc trong ngành du lịch phải đợc đào tạo, huấn luyện một cách chính quy,
ngày càng đợc nâng cao trình độ bằng nhiều phơng pháp nh: vừa học vừa làm,
tập huấn nâng cao trình độ hiểu biết cho cán bộ nhân viên trong ngành du
lịch Việc nâng cao trình độ hiểu biết du lịch cho toàn dân là vô cùng quan
trọng.
Sáu là, phát triển du lịch đi đôi với việc bảo vệ tài nguyên môi trờng.
Việc phát triển du lịch hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề không thể xem
nhẹ: gây tổn hại môi trờng, tài nguyên sinh thái ở nhiều vùng, các công trình
văn hoá lịch sử, các tệ nạn xã hội. Tình trạng rác thải, tắc nghẽn giao thông
cũng là hiện tợng phổ biến. Phân tích theo cặp phạm trù "nhân quả" giữa du
lịch và môi trờng, thì du lịch là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trờng và đến lợt
du lịch phải chịu hậu quả của môi trờng ô nhiễm tác động, hạn chế đến khả
năng phát triển của ngành du lịch.