LUẬN VĂN:
Phát triển du lịch trên địa bàn
tỉnh Luông Pha Bang trong giai
đoạn hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay ngành du lịch nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) nói
chung, đối với tỉnh Luông Pha Bang nói riêng đang đứng trước nhu cầu lớn về sự phát
triển. Du lịch được coi là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội. Phát triển mạnh du lịch hình thành công nghiệp du lịch có quy mô ngày càng tương
xứng với tiềm năng du lịch trong nước.
Những năm qua, ở nước CHDCND Lào thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất
nước, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN bước đầu cũng đã thu được những thành tựu
hết sức quan trọng. Cho nên, tỉnh Luông Pha Bang là tâm điểm du lịch, kinh tế vừa là thành
Đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển du lịch ở tỉnh Luông Pha Bang.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu phát triển du lịch là lĩnh vực rộng và mới mẻ có thể
nghiên cứu nhiều mặt khác nhau. ở đây chủ yếu nghiên cứu ở góc độ quản lý nhà nước
nhằm khuyến khích phát triển du lịch có hiệu quả chứ không đi sâu về tổ chức nội dung
kinh doanh du lịch.
- Về thời gian: Nghiên cứu phát triển du lịch chủ yếu từ năm 2005 - 2010.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng và
Nhà nước về phát triển du lịch, đồng thời, kế thừa những vấn đề lý luận về du lịch để đáp
ứng vào hoàn cảnh cụ thể ở tỉnh Luông Pha Bang.
Kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, phân tích du lịch và sự tác động của du
lịch để phát triển ngành du lịch của tỉnh.
6. Đóng góp của đề tài
Phát triển du lịch là ngành kinh tế - xã hội mũi nhọn của tỉnh Luông Pha Bang trong
giai đoạn hiện nay và mai sau.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để góp phần phát triển du lịch ở tỉnh Luông Pha
Bang.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương,
nôi dung.
Chương 1: Một số vấn đề chung về phát triển du lịch ở CHDCND Lào.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luông Pha Bang.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch trên địa bàn
tỉnh Luông Pha Bang trong giai đoạn hiện nay.
Chương 1
Một số vấn đề chung về phát triển
du lịch ở cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Pieasa ( người Bỉ) cho rằng: "Du lịch là tập hợp các tổ chức và các chức năng của nó,
không chỉ về phương dịên khách vãng lai mà cái chính là phương diện về giá trị mà khách
du lịch mang lại". [16, tr. 6]
Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du
lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch. Trong đó, chủ
thể quan trọng của hoạt động lịch là khách du lịch. Đó là người đi du lịch hoặc kết hợp đi
du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Hoạt
động du lịch là một tồn tại khách quan của con người nằm trong nội tại của sự phát triển xã
hội loại người. Hoạt động thông qua du lịch, nhu cầu giao lưu và hưởng thụ vật chất, tinh
thần của con người càng phát triển cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,
vùng, địa phương. Do vậy hoạt động du lịch luôn được đặt ra và phát triển theo nhu cầu của
con người.
Hoạt động du lịch là nhân tố của sự phát triển và tăng trưởng kinh tế.
Du lịch là một ngành "kinh tế mũi nhọn" quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã
hội [4, tr. 8].
Nói tóm lại. Bản chất du lịch vầ hoạt động du lịch là du ngoạn của cong người để
được hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang tính văn hoá cao, đặc sắc, độc đáo,
khác lạ với quê hương đất nước họ, bao gồm hệ thống di tích lịch sử - văn hoá- phong tục
tập quán, cảnh quan thiên nhiên, văn học - nghệ thuật, món ăn- thức uống dân tộc, cơ sở
nghỉ dưỡng- chữa bệnh, cơ sở thể thao giải trí Trong đó quan trọng nhất là di tích lịch sử-
văn hoá, danh lam thắng cảch thiên nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc, cộng đồng anh em ở
địa phương đất nước. Du lịch do ba yếu tố cơ bản là chủ thể du lịch và hoạt động du lịch
(du khách) khách thể du lịch (tài nguyên du lịch) và môi trường du lịch (ngành du lịch) cấu
thành. Loài người có ba nhu cầu, tức nhu cầu sinh tồn, nhu cầu hưởng thụ và nhu cầu phát
triển. Hoạt động du lịch phát triển tới quy mô to lớn như ngày nay chứng minh loài người
đã bắt đầu vượt ra khỏi rằng buộc của nhu cầu sinh tồn, có điều kiện hướng tới sự thoả mãn
nhu cầu hưởng thụ và phát triển là một phần trong sinh hoạt văn hoá của con người hiên
đại, vì thế hoạt động du lịch dưới sự chỉ đạo, đúng đắn của tư tưởng, đối với đời sống xã
hội loài người có một ý thức rất lớn [4, tr.9].
- Khái niệm kinh tế du lịch
thu hồi vốn đầu tư nhanh hơn so với các lĩnh vực khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng
của kinh doanh du lịch mà nếu được đầu tư khai thác tốt sẽ góp phần tăng nhanh nhịp độ
phát triển của nền kinh tế. Ngày nay ở nhiều nước công nghiệp phát triển, thu nhập tư kinh
doanh du lịch thường chiếm 20%. Hoặc cao hơn trong tổng sản phẩm quốc nội GDP. Hoạt
động kinh doanh du lịch còn tác động mạnh đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội như: Giao
thông vận tải, hàng không, bưu chính viễn thông, các nghề thủ công, mở rộng thị trường,
giải quyết việc làm cho nhân dân tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế, văn hoá- xã hội
phát triển.
Cấu trúc ngành kinh doanh du lịch
- Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch.
- Kinh doanh lữ hành nội địa và quốc tế.
- kinh doanh dịch vụ ăn uống.
- Kinh doanh các dịch vụ bổ sung.
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch.
Hoạt động kinh doanh du lịch tác động mạnh mẽ đến cán cân thu chi của vùng du
lịch, của một đất nước. Đối với du lịch quốc tế, việc mang ngoại tệ đến đổi và chi tiêu ở
khu vực du lịch làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước.
1.1.2. Đặc điểm của du lịch
Sự phát triển cảu du lịch hiện nay càng có xu hướng đại chúng háo. Được khôi phục
phát triển nhanh chóng, thu nhập cá nhân và tố chất văn hoá của toàn thể loài người được
phổ biến ngày càng cao, từ đó làm cho hoạt động du lịch phất triển thành một hoạt động
mang tính quần chúng. Nếu nói rằng chủ của lữ hành và du lịch trước đây là người giàu có,
thì trong giai đoạn du lịch này, quần chúng lao động đã trở thành người tham gia chủ yếu
của hoạt động du lịch. Hình thức <du lịch đại chúng> đây là đặc điểm nội bật nhất của du
lịch hiện đại. Sự phát triển của du lịch hiện nay ngày càng đa dạng hoá. <hoạt động du lịch
thời kỳ đầu là du lịch thương mại lấy kinh tế làm mục đích chính, du lịch làm điều kiện và
du lịch học lấy giáo dục làm mục đích cũng đã có lịch sử tương đối lâu đời nhưng vẫn
không có sự phát triển đáng kể> [7, tr.45]. Cùng với sự phát triển của xã hội và sự tiến bộ
về văn minh, vật chất, văn minh tinh thần của loài người, du lịch nghỉ phép, nghỉ ngơi
đất nước, bao gồm hệ thống di tích lịch sử- văn hoá, cảnh quan thiên nhiên, phong tục tập
quán văn học- nghệ thuật, món ăn thức uống dân tộc, cơ sở nghỉ dưỡng- chữa bệnh, cơ sở
thể thao giải trí Trong đó quan trọng nhất là di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng
cảnh thiên nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc, cộng đồng anh em ở địa phương đất nước,
nhằm thoả mãn nhu cầu và sự hài lòng của khách du lịch nội địa và khách quốc tế.
Điều này chứng minh rằng loài người đã thoát ra sự rằng buộc của nhu cầu sinh tồn,
có điều kiện hướng tới sự thoả mãn nhu cầu hưởng thu và phát triển một bộ phận trong sinh
hoạt văn hoá của con người hiện đại.
- Du lịch gắn với điều kiện thiên nhiên, khí hậu phong tục tập quán.
Du lịch gắn liền với thiên nhiên là tài nguyên, thiên nhiên ban tặng để cho con người
tiến hành các hoạt động du lịch như nghỉ ngơi điều dưỡng, du ngoạn thăm quan bao gồm:
Sông núi, hang động, thác, rừng, ánh sáng, chim thú quý hiếm, hoa thơm, cỏ lạ quy nạp
lại có thể chia ra ba phạm vi chủ lực là, tài nguyên du lịch sông núi, tài nguyên du lịch khí
hậu và tài nguyên du lịch sinh vật cụ thể đó là do thuận lợi vị trí địa lý mang lại như thông
thường với các nước dễ dàng, có đường sông đường suối, đường bộ, đường hàng không là
trung tâm của vùng kinh tế phát triển năng động, trên thế giới. Đây là một nhân tố cơ bản
để phát triển du lịch. Quốc gia nào có nhiều tài nguyên tự nhiên thì quốc gia đó có tiềm
năng lớn để thu hút được nhiều khách du kịch đến thăm quan.
Do ảnh hưởng của nhân tố địa lý tụe nhiên và thời tiết, khí hậu nên du lịch ở hầu hết
các nước đều mang tính thời vụ đặc trưng. Đối với một nước thuộc khu vực nhiệt đới, gió
mùa đông bắc, khí hậu bốn mùa thay đổi xuân, hạ, thu, đông. Khách du lịch nội địa, quốc tế
đi du lịch tham quan thắng cảnh ai cũng hưởng thụ khí hậu ấm áp, thời tiết trong sạch
thoáng mát, loại trừ gây hại ô nhiễm môi trường, bên cạnh những tiềm năng du lịch rất lớn
và đa dạng, thì tính thời vụ trong du lịch càng rõ nét.
Du lịch gắn liền với phong tục tập quán, phong tục tập quán là những thói quen
được đưa vào nếp sống hàng ngày. Một dân tộc đều có những thói quen cá biệt lúc ban đầu,
về sau do sự tiếp súc với nhau nên có sự ảnh hưởng, bắt trước và có những cái lẫn nhau.
Phong tục tập quán có hai loại: mỹ tục là những tập tục tốt, như thờ phụng tổ tiên, và hủ tục
là những tập tục xấu như mê tín dị đoan, tin vào bùa phép. Thế giới văn minh mỗi ngày
vật chất và tinh thần. Hơn nữa, nhiều dịch vụ lại được thực hiện bởi nhiều doanh ngiệp
kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau. Vì thế sản phẩm du lịch, có chất lượng có uy tín
của ngành là sự phấn đấu của toàn công đoạn, từng doanh nghiệp và của sự phối hợp liên
ngành, cuối cùng phải được du khách chấp nhận. Nâng cao chất lượng của sản phẩm du
lịch sẽ trở thành một chiến lược trong hoạt động kinh doanh du lịch. ở một số nước một số
nước phát triển sự dụng rất nhiều hình thức độc đáo, nên thu hút được khách trong và ngoài
nước và quốc tế đến càng ngày càng đông.
Xã hội càng văn minh, kinh tế càng phất triển nhu cầu của du khách càng phong phú
đa dạng. Do vậy việc tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo hấp dẫn khách du lịch là một tất yếu
khách quan, nhằm phát triển du lịch ở nhiều quốc gia hiện nay.
1.1.3. Vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế- xã hội ở cộng hoà nhân dân
Lào
- Về kinh tế
Du lich trước hết là một thị trường vừa rộng vừa lớn với nhu cầu hoá du lịch rất đa
dạng và khả năng thanh toán của khách hàng kha cao, vừa mang tính đặc thù. Thị trường
du lịch hoạt động trong không gian lãnh thổ thị trường nay lại hoàn toàn có khả năng "xuất
khẩu tại chỗ" nhiều hàng hoá đặc biệt là hàng hoá nang tính chất đặc trưng của dân tộc
phân bổ giải rác khắp mọi miền của đất nước như món ăn dân tộc hàng thủ công mỹ nghệ
lưu niệm.
Những hàng hoá này thường có giá trị và giá trị sự dụng không đáng kể đối với thị
trường nội địa nhưng lại có giá trị cao, lợi nhuận lớn do thoả mãn được "gu" hay thị trường
hiếm nào đó của khách du lịch nước ngoài. Mặt khác, có rất nhiều loại "hàng hoá" phục vụ
du khách không thể vận chuyển đi bán ở thị trường thế giới được thì lại có thể bán với giá
cả cao, thu lợi nhuận lớn tại nước mình như cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, di tích lịch sử,
công trình văn hoá nổi tiếng, phong tục tập quan đặc sắc.vv [12, tr.8].
xuất phát từ những đặc điểm kinh tế và khả năng kinh doanh như trên nền du lịch và
lĩnh vực kinh doanh có khả năng thu lợi nhuận cao và do đó thu hồi vốn đầu tư nhanh hơn
so với các lĩnh vực khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng của ngành du lịch, mà nếu được
đầu tư khai thác tốt sẽ góp phần tăng nhanh nhịp độ phát triển của nền kinh tế. Ngày nay ở
sử và con người Lào đề phòng ngay từ đầu tình trạng lai căng nền văn hoá ngoại lai, hỗn
tạp là một vẫ đề có ý nghĩa sống còn đối với tương lai dân tộc, vấn đề đặt ra không phải là
tinh thần dân tộc cực đoan, bài ngoại mà là sự chắt lọc một cách chủ động những gì phù
hợp trên nền tảng kinh tế lào.
Điều này đòi hỏi nhà nước phải với tư cách là chủ thể định hướng chứ không thể để
nhân dân tự sàng lọc một cách tự nhiên chủ nghĩa.
Đã có không ít những quốc gia đã và đang đứng trước nguy cơ nền văn hoá dân tộc
bị băng hoại, lai căng và do vậy sự phát triển không những phải trả giá quá đắt mà sẽ không
bền vững.
Sự mở rộng hoạt động du lịch, nhất là du lịch hướng ngoại, đồng thời cũng tạo ra
những điều kiện và cơ hội cho một số dịch bệnh phát triển, cho một số người nhập cư bất
hợp pháp, cho một số tệ nạn xã hội như: Cờ bạc, mại dâm, nghiện hút, lối sống hiện
sinh nảy nở. Cùng với sự phát triển du lịch thì yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, chống
sự lợi dụng để hoạt động phá hoại gây mất ổn định về chính trị- xã hội càng đắt ra một cách
gay gắt hơn. Chính vì vậy, công tác quản lý Nhà nước đối với du lịch được đặt ra nhiều nội
dung phong phú và phải được thực hiện với những yêu cầu rất riêng của du lịch.
1.2. Nội dung về điều kịên phát triển du lịch
Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt."Tài nguyên du
lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích các mạng, giá trị nhân văn , công trình
lao động sáng tạo của con người có thể được sự dụng nhằm thoả măn nhu cầu du lịch, là
yếu tố cơ bản để có thể hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn su
lịch" [20,tr.2]. Tài nguyên du lịch là cơ sở phát triển du lịch bao gồm:
Một là, nguồn lực thiên nhiên. Nguồn lực thiên nhiên bao gồm vị trí địa lý, tài
nguyên thiên nhiên, khí hậu, núi rừng, hang động, sông, thác nước, suối, môi trường sinh
thái cụ thể đó là sự thuận lợi do vị trí đia lý mang lại như thông thương với các nước dễ
dàng, có đường bộ, đường sông, đường hàng không là trung tâm của vùng kinh tế phát triển
năng động trên thê giới. Đây là một nhân tố cơ bản để phát triển du lịch. Quốc gia nào có nhiều
tai nguyên tự nhiên thì quốc gia đó có tiềm năng lớn để thu hút khách du lịch đến tham quan.
Hai là, nguồn lực nhân văn bao gồm bề dày lịch sử và truyền thống văn hoá, thể
Đầu tư vào cơ sơ vật chất kỹ thuật kết cấu hạ tầng và dịch vụ ăn uống: Bao gồm
toàn bộ các phương tiện vật chất, tham gia vao việc sản xuất và cung ứng các dịch vụ hàng
hoá nhằm đáp ứng nhu cầu ăn uống và giả trí của du khách. Chúng bao gồm tất cả các
phòng ăn, phòng uống nhà kho, nhà bếp, các trang thiết bị tiện nghi phục vụ khách ngủ qua
đêm. Các loại hình cơ sở lưu trữ gồm: Khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, lang du lịch trang trại.
- Mạng lưới bán hàng: là một thành phần tròn cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nhằm
đáp ứng nhu câu của khách du lịch về mua sắm, bằng việc bán các hàng hoá đặc trưng của
địa phương mình, của đất nước minh, hàng thực phẩm và các hàng hoá khác. Cơ sở vật
chất kỹ thuật này gồm hai phần: Một phần thuộc các trung tâm dịch vụ du lịch, phục vụ
khách du lịch là chủ yếu. Phần khác thuộc mạng lưới thương nghiệp địa phương, với nhiệm
vụ phục vụ nhân dân địa phương, đồng thời càng đóng vai trò quan trọng đối với phục vụ
khách du lịch, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nơi đó.
- Đầu tư vào cơ sở thể thao: Là bộ phận của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, có tác
dụng tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách làm cho nó trở nên tích cực hơn.
Các cơ sở thể thao bao gồm cả các công trình thể thao, các phòng thể thao với nhiều loại
khác nhau, các thiết bị chuyên dùng cho mỗi lại thể thao như: bể bơi, xe đạp nước, sân
quần vợt sân bóng đá, sân golf,, trường đua ngựa Ngày nay, công trình thể thao là một bộ
phận không thể tách rời, cơ sở vật chất của các trung tâm du lịch. chúng làm phong phú và
đa dạng các loại hình hoạt động du lịch, làm tăng sự hấp dẫn, kéo dài thời giam lưu trú của
khách, làm tăng hiệu quả sự dụng khách sạn, nhà nghỉ nhà trọ
- Đầu tư vào cơ sở y tế: nhằm mục đích phục vụ du khách chữa bệnh và cung cấp
dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật ở đây bao gồm: các trung tâm
chữa bệnh (bằng nước khoáng, ánh nắng mặt trời, xông hơi nóng, mát xa, các món ăn
kiêng), các phòng y tế khác.
- Đầu tư vào công trình phục vụ văn hoá thông tin: Bao gômg các trung tâm văn hoá
thông tin, phòng chiếu phim, câu lạc bộ, phòng triển lãm, internet, phòng đọc sách hoạt
động văn hoá thông tin có thể được tổ chức thông qua các buổi dạ hội hữu nghị, dạ hội hoá
trang, đêm ca nhạc, tổ chức các buổi gặp gỡ trao đổi giữa những người khách du lịch có
cùng nghề, buổi chiếu phim, xem kịch, tham quan bảo tang
các doanh nhân, những nhà đầu tư, những nhà tiếp thị đến với các nước mình. Chính nguồn
khách này sẽ tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ dịch vụ của ngành du lịch như dịch vụ lưu
trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ thăm quan Một đất nuớc trong một
năm tổ chức được nhiều hội trợ quốc tế về thương mại, công nghiệp. Thì đồng thời cũng là
nguồn cung ứng khách du lịch, một cửa khẩu mà mật độ, khối lượng giao, nhận hàng hoá
với khách hàng quốc tế lớn, thì ở đó số lượng khách qua cửa khẩu sẽ nhiều và như vây sẽ
tạo điều kiện cho kinh doanh khách sạn nhà hàng. Đó là đường lối chính sách phát triển du
lịch đúng đắn.
1.2.3. Hoạt động quảng bá thương hiệu và khuyến khích phát triển du lịch
Mục đích của hoạt động quảng bá thương hiệu khuyến khích phát triển du lịch là
nhằm cung cấp thông tin cho du khách bao gồm thồn tin các khu du lịch, khách sạn, nhà
hàng, khu vui chơi giải trí, cơ sở thể thao, các di tích lịch sử - văn hoá, truyền thống và
phong tục tập quán của các dân tộc làm cho khách du lịch họ nhận thức đúng và đây đủ
hơn các sản phẩm du lịch, đồng thời thuyết phục họ mua hàng mua sản phẩm ở các khu du
lịch.
Tuyên truyền, quảng bá là phải nhằm vào thị trường khách cụ thể để đạt được mục
đích ở thị trường đó. Như vậy dựa vào thị trường mục tiêu để xúc lập mục tiêu cổ động.
Cần lựa chọn biện pháp xúc tiến là một trong năm hình thức sau: Tuyên truyền, quảng bá,
khuyến khích, trao hàng và xúc tiến bán hàng trực tiếp. Trên cơ sở đó xác định được thời
gian tiến hành tuyên truyền quảng bá thương hiệu, khuyến mại để phát triển du lịch.
Tuyên truyền, quảng bá đòi hỏi một chi phí khá lớn, nhưng rất cần thiết trong các
hoạt động quảng cáo sản phẩm của các kinh doanh du lịch, bởi vì hiệu quả nó rất lớn, khó
lượng hoá hết. Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO). ngân sách về tuyên truyền quảng bá
thương hiệu và khuyến khích của các nước đều tăng. Có nhiều nước đã dành một khoản
ngân sách rất lớn chi cho hoạt động này như: Canada 27 triệu USD, Hông Kông 15 triệu
USD, Sinhgaphore 13 triệu USD Theo các nhà kinh tế, nếu bỏ ra 1 USD cho việc truyền
truyền quảng bá du lịch thì sẽ thu được 150 USD. Nhưng ở châu Âu lại tăng lên đến 360
USD. Như vậy đây cũng là yếu tố rất quan trọng để phát triển du lịch của nước mình.
Ngoài ra nhà nước cũng đã có những chính sách và biện pháp hữu hiệu để xúc tiến quảng
dự án phải hướng tới đạt hiệu quả nhiều mặt, không chỉ về kinh tế mà còn đảm bảo tính
thẩm mỹ, văn hoá và giữ gìn bản sắc dân tộc. Hoạt động du lịch đa dạng mang tính liên
ngành, liên vùng nên quản lý nhà nước về du lịch là quản lý liên ngành. Bộ máy quản lý
nhà nước về du lịch trong hoạt động của mình cũng thể hiện tính liên ngành rõ rệt. Ngoài
cơ quan đảm nhiệm trực tiếp chức năng quản lý nhà nước về du lịch, còn có những bộ phận
của các cơ quan khác thực hiện chức năng quản lý du lịch. Những hoạt động quản lý du
lịch của tất cả các cơ quan này rất cần sự điều phối, chỉ đạo tập trung của Chính phủ. Hoạt
động du lịch của một đất nước, tự thân nó, nhất là trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá,
thường gắn chặt và tùy thuộc vào không ít mối quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế
về du lịch. Vì vậy, một trong những chức năng của bộ máy quản lý nhà nước về du lịch là
chức năng quản lý kinh tế đối ngoại.
Do có sự trùng hợp của đối tượng quản lý và kinh doanh đều là khách du lịch nên
việc tách bạch giữa quản lý và kinh doanh rất khó khăn. Việc xây dựng thể chế cần phải
làm rõ hai chức năng đó. Nhưng trong công việccụ thể, trong thực thi thì hai chức năng gắn
bó với nhau trong một cơ cấu tổ chức, thậm chí trong một con người. Người đứng đầu một
doanh nghiệp du lịch, một khách sạn, không thể không chịu trách nhiệm về an ninh chính
trị, về hướng dẫn khách tuân thủ luật pháp và tôn trọng phong tục tập quán của nước đến.
Những người đứng đầu một doanh nghiệp kinh doanh du lịch, trong hoạt động của
mình thực hiện cả hai chức năng quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh. Khi khách đi
tour, không thể có một cơ quan nhà nước nào đi theo để quản lý, mà chỉ có hướng dẫn viên
du lịch quản lý. Vì vậy có thể nói, trong công việc cụ thể, ở những khâu nhất định, cán bộ
trong hoạt động kinh doanh đồng thời cũng thực thi chức năng quản lý nhà nước về du lịch.
Do yêu cầu quản lý và đặc điểm của đối tượng quản lý, những công chức làm chức năng
quản lý nhà nước về du lịch, một số cán bộ doanh nghiệp, nhất là cán bộ trực tiếp tiếp xúc
với khách không chỉ cần thông thạo pháp luật và nghiệp vụ, có phẩm chất tốt, ý thức trách
nhiệm cao mà còn cần phải am hiểu phong tục tập quán của từng địa phương, từng vùng và
quốc tế, có trình độ văn hoá cao trong ứng xử giao tiếp, trong việc yêu cầu khách nước
ngoài tuân thủ pháp luật, trong xử lý sai phạm xảy ra .
- Quản lý nhà nước đối với hướng dẫn viên.
luyện một cách chính quy, ngày càng được nâng cao trình độ bằng nhiều phương thức như: tập
huấn, vừa học vừa làm, nâng cao trình độ giáo viên của các trường đại học chuyên ngành hoặc
các trường nghiệp vụ du lịch hay đào tạo từ xa Việc nâng cao sự hiểu biết du lịch cho toàn
dân là vô cùng quan trọng [23].
- Quản lý nhà nước đối với cảnh quan môi trường.
Phát triển du lịch có tác động thúc đẩy cải tạo môi trường, làm cho cảnh quan, môi
trường sinh thái xanh, sạch đẹp hơn. Mặt khác, phát triển du lịch là động lực thúc đẩy xây
dựng các cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng
quốc gia đều là điều kiện tốt để bảo vệ các loại động vật hoang dã, thực vật quy hiếm,
bảo vệ môi trường.
Bên cạnh những mặt tích cực, phát triển du lịch có nguy cơ làm huỷ hoại, phá vỡ hệ
sinh thái môi trường, làm ô nhiễm nguồn nước, tàn phá các danh lam thắng cảnh, làm cạn
kiệt dần nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Du lịch là ngành hoạt động đòi hỏi môi trường và khoảng không rất lớn là yếu tố nội
tại của ngành du lịch. Văn hoá và môi trường là nguyên liệu thô của ngành công nghiệp du
lịch. Vấn đề đặt ra cho người lãnh đạo, người quản lý, người kinh doanh là phải có chiến
lược phát triển du lịch đúng đắn để phát huy mạnh mẽ những thế mạnh và hạn chế đến mức
tối đa những mặt tiêu cực do phát triển du lịch đem lại. Đồng thời, đây cũng là trách nhiệm
của mỗi người dân, là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Mục tiêu chủ yếu của công tác
quản lý nhà nước về môi trường bao gồm:
+ Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm về môi trường phát sinh trong hoạt
động sống của con người.
+ Phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia theo nguyên tắc của một xã hội bền
vững do Hội nghị RIO - 92 đề xuất. Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: Phát
triển bền vững kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy
thoái chất lượng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội.
+ Xây dựng công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ.
Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư.
Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ
công cộng, kinh doanh văn hoá phẩm, in, nhân băng, đĩa hình Đẩy mạnh công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, chuyên môn nhiệm vụ cho ngành văn hoá để góp phần nâng
cao yêu cầu giữ gìn và páht huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ mới để phát triển du
lịch của đất nước [1, tr.13-14].
1.3. Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số tỉnh ở Lào và Việt Nam
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số tỉnh ở Lào
Kinh nghiệm của tỉnh Viêng Chăn, khu du lịch Văng Viêng, các hoạt động du lịch
mang tính phổ biến trong vài thập niên trở lại đây. Tạo nên thành thị mới sôi động có sức
thu hút, lôi cuốn ngày càng nhiều du khách trong nước và quốc tế, nhất là du khách quốc tế.
Mới đầu các điểm du lịch của Văng Viêng chủ yếu là phục vụ người dân địa phương. Cùng
với sự phát triển của du lịch thì các điểm này phát triển nhờ khách du lịch đến tham quan
Văng Viêng. Đồng thời Văng Viêng không chỉ là điểm đến của khách du lịch mà còn là
điểm xuất phát cho các chuyến du lịch đến Luang Pra Bang. Đó chính là "cổng vào" để
hình thành chương trình du lịch của du khách quốc tế và trong nước. Chính vì vậy đã tập
trung làm tốt một số mặt sau đây:
+ Tạo ra các "cổng vào" thuận tiện, dễ dàng, nhanh chóng cho du khách vào tham
quan, mua sắm.
+ Xây dựng các cơ sở lưu trú theo quy hoạch, phù hợp với đối tượng khách đến
Văng Viêng.
+ Quy hoạch, nâng cấp các điểm tham quan du lịch, các điểm vui chơi giải trí trong
thành phố và các điểm phụ cận phục vụ khách.
+ Xây dựng các trung tâm thương mại, trung tâm hội chợ triển lãm và trung tâm hội
nghị phục vụ du khách.
+ Đa dạng hoá các cơ sở kinh doanh du lịch lưu hành.
+ Xây dựng các cơ chế, chính sách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà
đầu tư trong nước và quốc tế.
1.3.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số tỉnh ở Việt Nam
Kinh nghiệm phát triển du lịch ở Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sử dụng rất
nhiều hình thức phục vụ khách, với nhiều hình thức độc đáo, nên đã thu hút được lượng
khách trong nước và quốc tế đến ngày càng đồng. Như ở Việt Nam có các cửa hàng miễn
thì cơ sở vật chất kỹ thuật càng được nâng cao và tính đồng bộ của nó ngày càng tăng.
Ba là, tạo ra những sản phẩm đa dạng, độc đáo, hấp dẫn lôi cuốn sự chú ý của
khách.
Tạo ra những sản phẩm có chất lượng co, hấp dẫn mạnh tới khách trong và ngoài
nước phải được coi là công việc quan trọng bậc nhất cho hoạt động kinh doanh du lịch của
mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Sự hấp dẫn của những sản phẩm du lịch phụ thuộc vào
chính những thứ mà quốc gia và địa phương mình đã và đang có, đồng thời không tách
khỏi sự cố gắng sáng tạo của mỗi nhân viên trong ngành du lịch phối hợp của các đơn vị có
liên quan. Sản phẩm du lịch chủ yếu là những dịch vụ, vì thế sản phẩm du lịch phải có chất
lượng, uy tín của toàn ngành là sự phấn đấu trong từng công đoạn, từng doanh nghiệp và
của sự phối hợp liên ngành, cuối cùng phải được du khách chấp nhận. Nâng cao chất lượng
sản phẩm du lịch sẽ trở thành một vấn đề chiến lược trong hoạt động kinh doanh du lịch.
Kinh nghiệm ở một số nước sử dụng rất nhiều hình thức sản xuất ra sản phẩm, nhiều hình
thức độc đáo, nên đã thu hút được nhiều khách trong nước và quốc tế.
Bốn là, tăng cường tuyên truyền quảng bá về du lịch.
Mục đích của tuyên truyền quảng bá hay kinh doanh du lịch là nhằm cung cấp thông
tin cho khách du lịch, làm cho họ nhận thức đúng và đầy đủ hơn các sản phẩm du lịch,
đồng thời thuyết phục họ mua sản phẩm.
Tuyên truyền, quảng bá phải nhằm vào thị trường khách cụ thể để đạt được mục
đích thị trường đó. Như vậy, dựa vào thị trường mục tiêu để xác lập mục tiêu cổ động, cần
lựa chọn biện pháp xúc tiến là một trong năm hình thức sau: tuyên truyền, quảng cáo,
khuyến khích, chào hàng và xúc tiến bán hàng trực tiếp. Trên cơ sở đó xác định được thời
gian tiến hành.
Năm là, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho du lịch.
Đối tượng phục vụ du lịch là con người, bao gồm cả người trong nước và khách du
lịch nên đòi hỏi trình độ của cán bộ, nhân viên du lịch phải cao. Do vậy, việc đào tạo bồi
dưỡng, giáo dục cho đội ngũ nhân viên có ý nghĩa quan trọng nên nhiều nước phát triển du
lịch đều rất chú ý vấn đề này. Cho nên người làm việc trong ngành du lịch phải được đào
tạo, huấn luyện một cách chính quy, ngày càng được nâng cao trình độ bằng nhiều phương