Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 1
KHOA SAU ĐẠI HỌC TRƯỜNG ĐH KINH TẾ & QTKD TN
ĐỀ TÀI: Những giải pháp kích cầu tiêu dùng của Việt
nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng.
Người hướng dẫn khoa học: TS.Đỗ Quang Quý
Người thực hiện: Nguyễn Thị Minh Phương
Lớp: CHQLKT.K2
Thái Nguyên - 2010
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 2
Phần I: Tổng quan về kích cầu 3
I. Nguyên lý của tổng cầu 3
II. Kinh nghiệm kích cầu của thế giới và Việt nam 5
Phần II: Thực trạng phát triển kinh tế của Việt nam nói
chung và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng
8
I. Thực trạng phát triển kinh tế ở Việt nam hiện nay 8
II. Những chính sách kích cầu tiêu dùng của Việt Nam nói
chung và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng
14
Phần III: Giải pháp kích cầu của Việt nam nói chung và
của tỉnh Thái Nguyên nói riêng
19
I. Định hướng phát triển kinh tế của Việt nam nói chung
và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng
19
II. Lựa chọn, đề xuất giải pháp. 23
Kết luận 26
Tài liệu tham khảo 27
Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 2
và Thái Nguyên nói riêng
Phần III: Những giải pháp kích cầu tiêu dùng của Việt nam nói
chung và Thái Nguyên nói riêng.
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã cố gắng hết sức, song không thể
tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được sự đóng góp chân thành
của thầy và tất cả các bạn để bài tiểu luận có thể hoàn thành một cách tốt nhất.
Xin chân thành cảm ơn.
Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 3
Phần I
TỔNG QUAN VỀ KÍCH CẦU
I. NGUYÊN LÝ CỦA TỔNG CẦU
Tổng cầu, trong kinh tế học, là lượng nhu cầu có khả năng tài chính của toàn bộ
nền kinh tế đối với các hàng hóa cuối cùng.
Tổng cầu bao gồm nhu cầu trong nước và nhu cầu nước ngoài. Nhu cầu trong
nước lại bao gồm đầu tư của xí nghiệp, tiêu dùng của cá nhân, chi tiêu ròng của
chính phủ (chênh lệch giữa chi tiêu chính phủ và thu của chính phủ từ thuế). Nhu
cầu nước ngoài chính là xuất khẩu ròng (chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu).
Giả định rằng, trong toàn nền kinh tế, toàn bộ tiết kiệm sẽ được sử dụng để đầu
tư. Khi đó, tổng cầu cũng chính là thu nhập quốc dân
Chủ nghĩa Keynes cho rằng nếu quản lý được tổng cầu thì sẽ giữ được ổn định
kinh tế vĩ mô và đạt được tăng trưởng kinh tế tối ưu. Hoạt động này gọi là chính
sách quản lý tổng cầu hay chính sách Keynes, với hai phương tiện chính là chính
sách tài chính và chính sách tiền tệ. Chủ trương này đối lập với quan điểm của kinh
tế học trọng cung trọng thị cải cách mặt cung của nền kinh tế.
Tổng cầu là lượng hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trên lãnh thổ một
nước(GDP) mà các tác nhân kinh tế sẵn sàng và có khả năng mua tại mỗi mức giá.
Trong nền kinh tế mở thì tổng cầu bao gồm 4 nhân tố:
C: Tiêu dùng của các hộ gia đình
I: Đầu tư của doanh nghiệp
G: Chi tiêu của chính phủ
Số người tiêu dùng càng đông thì AD càng lớn và ngược lại.
• Sở thích của người tiêu dùng
Đây là mối quan hệ tỷ lệ thuận, và quan hệ này rất khó định lượng.
• Sự biến động của chính cơ cấu tổng cầu
Như trên đã biết tổng cầu gồm ba bộ phận hợp thành là cầu về đầu tư, cầu
tiêu dùng và nhu cầu nước ngoài. Nhưng cầu đầu tư và cầu tiêu dùng là những nhân
tố quyết định tổng cầu.
a. Sự biến động của cầu đầu tư và ảnh hưởng của nó tới tổng cầu
Cầu đầu tư tỷ lệ thuận với AD.
Đầu tư tăng sẽ làm biến đổi nội dung vật chất của tổng cầu: Cầu đầu tư tăng
làm cho tỷ lệ tích lũy sẽ tăng lên, tỷ lệ tiêu dùng giảm xuống ⇒ các sản phẩm
phục vụ đầu tư tăng như nguyên, nhiên vật liệu,… tăng lên ⇒ từ đó nền sản
xuất sẽ chuyển từ nền sản xuất nhiều tư liệu sinh hoạt sang nền sản xuất nhiều
tư liệu sản xuất.
Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 5
b. Sự ảnh hưởng của cầu tiêu dùng đến tổng cầu
* Các nhân tố chi phối cầu tiêu dùng
- Tổng cung: đây là nhân tố cơ bản nhất, quyết định sự gia tăng quỹ tiêu
dùng, vì về cơ bản tiêu dùng bị hạn chế bởi trình độ phát triển của sản xuất.
- Tỷ lệ các bộ phận khi phân phối thu nhập quốc dân.
Sản xuất phát triển và thu nhập quốc dân tăng lên mới chỉ là tiền đề để tăng
quỹ tiêu dùng.
Trong điều kiện nhất định, sự tăng của quỹ tiêu dùng còn do tỷ lệ giá trị sản
xuất cuối cùng dành cho tích lũy và tiêu dùng quyết định.
Nguyên tắc xác định mức tối đa của quỹ tiêu dùng là phải đảm bảo mức tối
thiểu của quỹ tích lũy nghĩa là phải đảm bảo cho các doanh nghiệp tiến hành tái sản
xuất giản đơn một cách bình thường. Mức tối thiểu của quỹ tiêu dùng do cơ cấu dân
cư và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên quyết định. Nguyên tắc xác định mức tối thiểu của
quỹ tiêu dùng là phải đảm bảo mức tiêu dùng bình quân đầu người trong thời gian
kế hoạch không thấp hơn mức tối thiểu. Nếu thấp hơn mức tối thiểu thì sẽ ảnh
phương, cải thiện quá trình giám sát thị trường bất động sản.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng tung 4.000 tỷ Nhân dân tệ (công bố tháng
11/2008) kích cầu cho các lĩnh vực khác, đặc biệt là cắt giảm thuế đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa - bộ phận có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nước
này. Trong số 4,3 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa sở hữu tư nhân thì có tới 95%
hoạt động xuất khẩu, đóng góp gần 60% tổng sản phẩm quốc nội, 50% nguồn
thu từ thuế, 68% xuất khẩu và 75% công việc mới mỗi năm.
Qua một thời gian thực hiện các gói giải pháp kích cầu của Trung Quốc,
nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng bước đầu có thể rút ra bài học kinh nghiệm
quan trọng:
Trung Quốc đã sử dụng gói kích cầu để ứng phó với khủng hoảng theo hướng
tạo tiền đề để cải tổ toàn diện nền kinh tế; đổi mới cơ cấu và công nghệ, tăng
năng suất lao động; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục. Thứ hai, tăng
cường đầu tư vào nông thôn. Thứ ba, có những giải pháp cụ thể giúp đỡ người
nghèo.
Công tác kiểm tra, giám sát để đảm bảo các khoản đầu tư của Chính phủ
được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả. Trung Quốc đã lập 24 tổ kiểm tra
gồm các thành phần ủy ban cải cách, đại diện các bộ, ngành. Tổ kiểm tra đã đến
từng địa phương, từng công trình đầu tư cụ thể… kiểm tra tiến độ, không để xảy
ra lãng phí, tham nhũng.
2. Việt Nam không có năng lực cao để kích cầu các hoạt động kinh tế
nội địa của mình nhằm cân bằng lại sụt giảm từ xuất khẩu.
Bài của Abe de Ramos trên tạp chí Far Eastern Economic Review hôm
20/01/2010 gọi các nước Asean trong đó có Việt Nam là “những tiểu hổ trúng
thương”.
Theo tác giả, một nhà nghiên cứu ở Asia Society tại Hong Kong thì các nước
như Việt Nam và Philippines có nguy cơ không giành lại được vị thế “hổ châu
Á” của họ.
Bài viết cho rằng chiến lược thúc đẩy các hoạt động kinh tế nội địa của hai
nước này dựa trên chính sách kích cầu của chính phủ.
So với Đông Nam Á, Trung Quốc và Ấn Độ đều lợi dụng đầu tư nước ngoài
để tạo ra những tập đoàn vươn được ra quốc tế.
Còn Đông Nam Á thì không làm được điều này.
Kết luận lại, tác giả cho rằng cuộc suy thoái hiện nay đang thách thức các
chính phủ Asean phải xem lại viễn kiến về tương lai, làm sao để nền kinh tế nội
địa của họ có đủ sức quyết định số phận của mình.
Như vậy , kích cầu phải đi kèm chính sách tiền tệ phù hợp.
Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 8
Phần II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM NÓI
CHUNG VÀ CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN NÓI RIÊNG
I. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY
1. Thực trạng phát triển kinh tế Việt nam hiện nay:
Năm 2009, kinh tế nước ta phát triển trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn hơn
các năm trước. Ở trong nước, thiên tai xẩy ra trên diện rộng với mức độ rất nặng nề.
Cả năm có 11 cơn bão tràn qua lãnh thổ, trong đó có những cơn gây lũ lụt, ngập úng
sâu và dài ngày tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, gây thiệt hại hết sức
nghiêm trọng. Dịch bệnh, nhất là cúm A/H1N1, sốt xuất huyết, sâu bệnh bùng phát
ở nhiều vùng và địa phương. Ở ngoài nước, thị trường giá cả thế giới biến động
phức tạp. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động trực
tiếp đến nhiều ngành kinh tế nước ta như công nghiệp, xuất khẩu, thu hút vốn đầu
tư, du lịch. Thuận lợi tuy có nhưng không nhiều.
Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Quốc Hội, Chính phủ đã kịp thời đề ra các
quyết sách thích hợp và cụ thể bằng các chủ trương, chính sách kinh tế, tài chính
nhằm vượt qua khó khăn, phát huy thuận lợi, tập trung mọi nguồn lực cho phát triển
kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Tháng 12-2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết
số 30 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng
trưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Gói kích cầu hỗ trợ các doanh nghiệp và hộ gia đình
được thực hiện với nhiều giải pháp thích ứng như giảm lãi suất cơ bản, hỗ trợ lãi
Tuy nhiên, điều đáng lo ngại trong cân đối ngân sách nhà nước năm 2009 là
bội chi ngân sách nhà nước còn cao – 6,9% GDP, trong khi khoản bội chi này chưa
tính đến các khoản chi từ nguồn trái phiếu chính phủ, các khoản chính phủ vay về
cho doanh nghiệp vay lại. Năm 2008, khi lạm phát gần 20% bội chi ngân sách chỉ có
5%, nhưng năm nay lạm phát dưới 6,9% mà bội chi ngân sách như trên là quá lớn,
rất đáng phải suy nghĩ. Tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP bằng 29,7%, tuy nhiên,
theo đánh giá của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB), thì vẫn nằm trong mức
an toàn. Nhưng, nếu tính thêm yếu tố tỷ giá hối đoái tăng, thì tổng nợ nước ngoài
lên tới mức cao hơn tổng thu ngân sách nhà nước năm 2009, là điều đáng quan ngại.
Các ngành sản xuất và dịch vụ tiếp tục tăng trưởng khá nhưng chưa đều và
chưa vững.
Sản xuất nông nghiệp phát triển và tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất nông,
lâm nghiệp và thủy sản năm 2009 ước tăng 4,2% so năm 2008 (năm 2008 tăng
5,6%), trong đó nông nghiệp tăng 3,5%, lâm nghiệp tăng 2,8% và thủy sản tăng
4,5%. Trong bối cảnh có nhiều khó khăn do thiên tai lớn gây thiệt hại nặng nề, nhất
là ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, thì đây là điều rất đáng ghi nhận, song hạn
chế vẫn còn nhiều.
Trong trồng trọt, sản lượng lúa cả năm ước đạt 39,3 triệu tấn, là mức cao nhất
từ trước đến nay và tăng hơn nửa triệu tấn so với năm 2008. Mặc dù diện tích gieo
cấy giảm do rét đậm trong vụ đông xuân các tỉnh phía Bắc và ảnh hưởng của mưa lũ
lớn trong vụ hè thu và vụ mùa, nhưng nhờ năng suất lúa tăng nên sản lượng tăng cả
3 vụ trong năm. Sản xuất ngô tiếp tục phát triển toàn diện cả diện tích, năng suất nên
sản lượng tăng khoảng 400 nghìn tấn so với năm 2008.
Sản lượng lương thực có hạt năm 2009 đạt trên 44 triệu tấn, tăng khoảng 700
nghìn tấn so với năm 2008, là mức cao nhất từ trước đến nay. Lương thực bình quân
nhân khẩu đạt khoảng 513 kg/người, tăng 11 kg so với năm 2008 (502kg), dù dân số
tăng hơn 1 triệu người. Do đó an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm ổn định
trong mọi tình huống. Lượng gạo xuất khẩu cả năm đạt hơn 6 triệu tấn, tăng 33% so
với năm 2008. Thiếu đói giáp hạt giảm 31% về số hộ, giảm 27,6% về số khẩu so với
năm 2008, dù thiên tai, bão lũ gây thiệt hại nặng nề hơn. Sản xuất rau, màu, cây
tăng, nhưng kim ngạch lại giảm do giá giảm: Lượng gạo tăng 33% nhưng kim ngạch
giảm 5,8%, cà-phê tăng 15,5% về lượng nhưng giảm 17,4% về trị giá, thủy sản xuất
khẩu cũng tăng chậm.
Sản xuất công nghiệp bắt đầu phục hồi và tăng trưởng dần qua các quý. Giá
trị sản xuất công nghiệp cả năm ước đạt 8%, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà
nước tăng 3,7%, khu vực ngoài nhà nước tăng trên 10% và khu vực FDI tăng trên
8%. Các tốc độ này thấp hơn tốc độ tăng của các năm trước do tác động tiêu cực của
khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, nét tiến bộ đáng ghi nhận là tốc độ tăng
trưởng công nghiệp quý sau cao hơn quý trước: Quý I tăng 2,2%, quý II tăng 7%, 6
tháng đầu năm tăng 4,3%, quý III tăng 8,5%, 9 tháng tăng 6,5%. Trong 34 sản phẩm
công nghiệp chủ yếu có 18 sản phẩm tăng so với năm 2008. Một số tỉnh, thành phố
vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, trong đó Thanh Hóa tăng 13%, Quảng
Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 11
Ninh tăng 13%, Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 10%. Tuy nhiên, công nghiệp vẫn hồi phục
chưa đều, chưa vững. Giá trị sản xuất công nghiệp của nhiều mặt hàng và địa
phương giảm mạnh so với năm 2008 do ảnh hưởng của thị trường tiêu thụ, nhất là
xuất khẩu, như: phân hóa học, khí đốt thiên nhiên, xe chở khách, khí hóa lỏng, vải
dệt từ sợi bông, quần áo người lớn. Các tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp lớn
hoặc có nhiều khu công nghiệp tập trung, nhiều dự án FDI, là những địa phương có
giá trị sản xuất công nghiệp tăng chậm hoặc ít bị giảm sút so với năm 2008.
Đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước đạt kế hoạch đề ra, trong đó vốn trung
ương vượt kế hoạch 5%. Thu hút vốn FDI giảm mạnh (70%) so với năm 2008, chỉ
đạt trên 22 tỉ USD. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt trên 17 tỉ USD, vốn đăng ký bổ
sung đạt trên 5 tỉ USD. Tuy nhiên, tỷ lệ vốn thực hiện đạt khá, bằng 47% (10 tỉ
USD) vốn đăng ký, cao hơn năm 2008 (18%).
Hạn chế khác của đầu tư nước ngoài trong năm 2009 là tỷ trọng vốn đầu tư
vào bất động sản tăng quá nhanh: từ 25% năm 2007, 36,8% năm 2008 lên tới 60%
năm 2009. Với cơ cấu đầu tư như vậy, khu vực FDI không tạo thêm nhiều việc làm
và ít có khả năng tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, không đẩy mạnh được xuất
khẩu.
Bản…
Nhập siêu cả năm là 12 tỉ USD, giảm 33% so với năm 2008 (18 tỉ USD).
Nguyên nhân giảm nhập siêu, một mặt, do lượng hàng hóa nhập khẩu giảm hoặc
tăng chậm; mặt khác, chủ yếu do giá giảm. Tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất
khẩu cả năm là 16,39% (năm 2008 là 29%). Tính bền vững của thị trường xuất –
nhập khẩu năm 2009 vẫn chưa ổn định, nhập khẩu giảm mạnh nhưng mức nhập siêu
vẫn cao là điều đáng suy nghĩ.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12-2009 tăng 6,28% so với tháng 12-2008.
Mục tiêu kiềm chế lạm phát được bảo đảm ổn định hơn hẳn năm 2008 (tăng 19,8%).
Đáng chú ý là giá cả nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống chỉ tăng 3,8%, trong đó
giá lương thực tăng thấp nhất (2%), nhóm thực phẩm tăng 3,5%, nên thị trường
lương thực, thực phẩm nói chung ổn định. Nhóm hàng tăng giá cao nhất là nhà ở và
vật liệu xây dựng, kế đến là đồ dùng và dịch vụ khác, đồ uống, thuốc lá và giáo dục.
Giá USD tăng nhẹ: 8,5%, trong khi giá vàng tăng mạnh: 50% so với tháng
12-2008. Vấn đề đáng lo ngại của CPI trong năm 2009 là tính bền vững chưa cao.
Tình trạng sốt giá vàng, giá USD và cả giá lương thực ở mức độ khác nhau diễn ra
trong năm, một mặt, do giá thế giới biến động; mặt khác, do công tác quản lý, tuyên
truyền còn nhiều bất cập.
Hoạt động du lịch tăng chậm. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam cả năm đạt
3,8 triệu lượt người, bằng 88% so với năm 2008. Các nước và vùng lãnh thổ có
nhiều khách du lịch đến nước ta những năm trước, năm nay đều giảm, trong đó có
Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản,… Hoạt động du lịch trong nước cũng
trong tình trạng đó với số lượt khách và doanh thu từ du lịch, nghỉ dưỡng đều tăng
chậm hơn năm 2008. Nguyên nhân một phần do tác động tiêu cực của khủng hoảng
kinh tế thế giới, mặt khác do chất lượng và sản phẩm du lịch nước ta còn hạn chế,
bất cập.
Tóm lại, kinh tế nước ta năm 2009 về cơ bản đã phục hồi và tăng trưởng hợp
lý, nhất là những tháng cuối năm. Trong bối cảnh tác động tiêu cực của khủng
hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, những kết quả đạt được là rất đáng ghi nhận.
Các tổ chức tài chính quốc tế như IMF, WB, ADB… đều đánh giá cao kết quả này,
phần kinh tế đều có sự tăng trưởng, nhất là khu vực ngoài quốc doanh; tiếp đến là
khu vực dịch vụ, mức đóng góp 4,11% vào tốc độ tăng chung, trong đó nhóm
ngành dịch vụ kinh tế tăng 13,8%, riêng ngành thương nghiệp tăng 16%, vận tải,
bưu điện tăng 17,89%, các ngành dịch vụ xã hội tăng 10,15% và khu vực nông, lâm
nghiệp và thuỷ sản có mức đóng góp là 1,24%, riêng ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ
lớn nhất và có vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng chung của khu vực này,
mức đóng góp của ngành nông nghiệp tăng khoảng 4,75% so với năm 2006.
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, GDP bình quân đầu người cũng có
sự tăng đáng kể, năm 2009 đạt 10,6 triệu đồng/người/năm, tăng 1,5 triệu
đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế trên địa bàn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích
cực. Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng khu vực Công nghiệp – Xây dựng
tăng nhanh và cao hơn nhiều so với mức bình quân chung , khu vực Dịch vụ tăng
xấp xỉ mức bình quân chung toàn tỉnh, trong khi đó khu vục Nông lâm nghiệp và
thuỷ sản tăng chậm nên cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu
vực Nông lâm thuỷ sản và tăng tỷ trọng khu vực Công nghiệp – Xây dựng.
Đánh giá chung, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh những năm gần
đây, đặc biệt là năm 2009, tiếp tục phát triển theo hướng tích cực, các chỉ tiêu kinh
Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 14
tế - xã hội chủ yếu của tỉnh đều hoàn thành so với kế hoạch và tăng khá so với cùng
kỳ. Một số lĩnh vực xã hội cũng có sự cải thiện đáng kể.
II. NHỮNG CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
1. Một số giải pháp kích cầu hiện nay ở nước ta
Trên thực tế, bất cứ một giải pháp kích cầu tầm vĩ mô nào cũng xoay quanh 2
trục sản xuất và tiêu dùng, đều có những ưu điểm và nhược điểm, thậm chí trong
nhiều trường hợp người ta không thể chọn lựa cái tốt nhất mà bắt buộc phải chọn
lựa giải pháp ít xấu hơn. Dưới đây, chúng tôi xin đề xuất một số suy nghĩ bước đầu
về giải pháp thuộc 2 nhóm kích cầu sản xuất và kích cầu tiêu dùng nhằm giải quyết
“đầu vào” và “đầu ra” của sản phẩm hàng hóa gắn với lao động, việc làm và thu
nhập của dân cư trong thời kỳ suy giảm kinh tế toàn cầu.
chưa sản xuất được, phải nhập khẩu để tạo tài sản cố định của DN. Đối với thuế
nhập khẩu, thực hiện giảm thuế cho nhiều mặt hàng là nguyên liệu đầu vào và hàng
tiêu dùng.
Để thực hiện chính sách kích cầu, Chính phủ đã cho phép giảm 30% số thuế
thu nhập DN (TNDN) phải nộp của quý IV/2008 và cả năm 2009 của DN nhỏ và
vừa. Đồng thời, giãn thời hạn nộp thuế TNDN trong thời gian 9 tháng của năm 2009
đối với thu nhập từ các hoạt động: sản xuất sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất, sản
xuất vật liệu xây dựng, dịch vụ du lịch, kinh doanh lương thực, phân bón,
5. Đẩy mạnh, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, đồng thời phát triển mạng lưới
phân phối, hệ thống bán lẻ, nhất là ở vùng sâu vùng xa để cung cấp vật tư và hàng
tiêu dùng thiết yếu.
6. Về chính sách tài chính, tiền tệ, sẽ tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn
tín dụng cho các DN. Tiếp tục hạ lãi suất cơ bản và cho phép các tổ chức tín dụng,
các quỹ tín dụng nhân dân cho vay theo lãi suất thỏa thuận.
7. Chính phủ sẽ điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ theo nguyên tắc linh hoạt, nhằm
khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
Tổng nguồn lực sử dụng để kích cầu đầu tư và tiêu dùng của Việt Nam là rất
lớn, nếu tính thêm cả 17.000 tỷ đồng tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho DN thì
tổng giá trị các gói kích cầu của Chính phủ Việt Nam hiện nay lên đến 160.000 tỷ
đồng, tương đương 9 tỷ USD, chiếm gần 10% GDP của Việt Nam hiện nay.
2. Tác động của các giải pháp kích cầu ở nước ta
Nhằm đối phó với khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, đầu
năm 2009, Việt Nam đã kịp thời triển khai các gói kích cầu. Cụ thể, Chính phủ đã
dùng quỹ tài chính lớn trực tiếp chi cho các hoạt động kích cầu đầu tư và tiêu dùng,
chống suy giảm kinh tế, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội.
* Một số tác động tích cực
Có thể nói, gói kích cầu trước hết có hiệu ứng tâm lý tích cực, làm tăng tức
thời lòng tin của các DN, các ngân hàng và nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào
trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ các DN đang gặp khó khăn, cũng như
tin vào triển vọng thị trường và môi trường đầu tư Việt Nam.
và đến thời điểm này đang đẩy mạnh sản xuất để kịp giao hàng trong sáu tháng cuối
năm.
Còn với Công ty cổ phần Chế biến Nông lâm sản Yên Thành (huyện Yên
Bình, tỉnh Yên Bái), vốn hỗ trợ lãi suất được vay là 1,2 tỷ đồng đã tạo điều kiện cho
Công ty tăng giá thu mua măng nguyên liệu của nông dân để có đủ nguyên liệu sản
xuất, đáp ứng kịp thời cho đơn hàng xuất khẩu 10 container sản phẩm măng chế
biến của đối tác Đài Loan (Trung Quốc). Giám đốc Nguyễn Ðức Dũng cho biết: Do
Công ty là DN nhỏ nên toàn bộ phần vốn lưu động đều phải đi vay ngân hàng. Năm
2008, có thời điểm, Công ty phải vay ngân hàng 700 triệu đồng với lãi suất
21%/năm, nên làm bao nhiêu cũng chỉ đủ để trả lãi vay ngân hàng. Nay nhờ vốn hỗ
trợ lãi suất, Công ty đã khôi phục sản xuất, duy trì việc làm cho người lao động.
* Những vấn đề đang và sẽ phát sinh
Thứ nhất, số tiền cung ứng đưa vào lưu thông rất lớn, nếu triển khai chậm và
không có giới hạn về thời gian thì khi kinh tế hồi phục trở lại sẽ tiềm ẩn rủi ro lạm
phát cao. Sau khi lạm phát được đẩy lùi từ cuối năm 2008 do chính sách thắt chặt
tiền tệ của Chính phủ, thì nguy cơ tái lạm phát lại đang xuất hiện trở lại dưới tác
động của các chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế.
Nguy cơ tái lạm phát sẽ đậm nét hơn bắt đầu từ nửa cuối năm 2009 do kết
quả trực tiếp có độ trễ của các gói kích cầu của Việt Nam và cả thế giới từ đầu năm
đến nay kèm với các chính sách nới lỏng tiền tệ, làm gia tăng tổng cung tiền cho nền
kinh tế. Nếu lượng tiền này không được đưa vào sản xuất tạo ra hàng hóa đối ứng sẽ
gây ra tình trạng lạm phát. Về mặt tiền tệ, dư âm lạm phát 20% của năm 2008 vẫn
Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 17
còn đó, nên chính sách tiền tệ cần được mở rộng một cách thận trọng để tránh kích
hoạt một làn sóng lạm phát mới.
Thứ hai, giảm thuế GTGT về lý thuyết là để hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trên
thị trường có giá thấp hơn, nhờ đó tăng cầu cho sản phẩm. Song, việc xác định giá
bán hàng hóa trên thị trường thuộc quyền của người bán. Do đó, không phải trường
hợp nào giảm thuế cũng đồng nghĩa với việc giảm giá hàng hóa, dịch vụ. Các nhà
làm chính sách kỳ vọng rằng việc hoãn thuế thu nhập cá nhân sẽ giúp tăng thu nhập
Thứ ba, chính sách bù lãi suất có một số hạn chế tiềm tàng có thể nhận thấy,
cụ thể là: chính sách này không trực tiếp giúp giải quyết khó khăn lớn nhất của DN
hiện nay là thiếu nhu cầu thị trường; chính sách này có thể không đến được những
đối tượng cần hỗ trợ, thậm chí có thể hỗ trợ nhầm đối tượng do tình trạng bất cân
Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 18
xứng về thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước với ngân hàng thương mại và giữa
ngân hàng thương mại với DN.
Ngân hàng thương mại rất khó kiểm soát việc sử dụng đúng mục đích của
đồng vốn do tính có thể hoán đổi mục đích sử dụng của đồng tiền; Đồng thời, chi
phí cho công tác hậu kiểm của Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ rất tốn kém khi chỉ
trong vòng hơn một tuần, riêng 5 ngân hàng thương mại có sở hữu nhà nước đã cho
vay 32.000 tỷ đồng trong chương trình hỗ trợ lãi suất. Với tốc độ tăng trưởng tín
dụng nhanh như vậy, việc kiểm soát kịp thời và đầy đủ của Ngân hàng Nhà nước là
rất khó khăn và tốn kém.
Giữa các ngân hàng thương mại và khách hàng, việc thiếu thông tin sẽ khiến
nhiệm vụ của ngân hàng thương mại trong việc bảo đảm khách hàng sử dụng vốn hỗ
trợ đúng mục đích cũng trở nên khó khăn, đặc biệt là đối với các DN có hoạt động
phức tạp và có quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng. Nếu không kiểm soát chặt
chẽ, các khoản vay này có khả năng được sử dụng không đúng mục đích. Vốn vay
được hỗ trợ lãi suất có thể được DN dùng để đầu cơ mua cổ phiếu, tích trữ vàng,
ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư quá mức vào bất động sản thay vì đưa vào sản xuất kinh
doanh.
Thứ tư, tác động của giải pháp hỗ trợ lãi suất đối với các tổ chức, cá nhân
vay vốn trung dài hạn thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất, kinh doanh cũng
rất hạn chế trong giai đoạn hiện nay. Bởi lẽ, ít có chủ DN dám mạo hiểm vay vốn
ngân hàng trung và dài hạn để đầu tư cho một dự án khi thị trường tiêu thụ hàng
hóa, dịch vụ trầm lắng. Khó khăn chủ yếu của DN hiện nay không phải là vốn mà là
thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và ngoài nước, thiếu đơn hàng và hợp đồng
sản xuất.
Không có đầu ra cho sản phẩm hàng hóa sản xuất ra, nên sản xuất bị thu hẹp,
VÀ CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN NÓI RIÊNG
I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
1. Định hướng phát triển kinh tế xã hội của Việt nam nói chung:
Dự báo năm 2010 kinh tế nước ta có triển vọng tăng trưởng cao hơn năm
2009, nhưng vẫn thấp hơn các năm trước khủng hoảng kinh tế thế giới vì những lý
do dưới đây:
Thứ nhất, kinh tế thế giới đã hồi phục sau khủng hoảng nhưng vẫn tăng
trưởng chậm. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), thương mại toàn cầu sẽ
hồi phục vào giữa năm 2010 khi đạt mức tăng trưởng 3,2% do sức cầu của nhiều
nền kinh tế lớn sẽ tăng trở lại. Trong lĩnh vực đầu tư, mặc dù luồng vốn FDI có khả
năng sẽ tăng trở lại, nhưng sẽ phụ thuộc nhiều vào đà phục hồi của kinh tế thế giới.
Năm 2010, châu Á được đánh giá là khu vực sẽ phục hồi sớm nhất, trong đó
đáng chú ý là sự phục hồi của kinh tế Trung Quốc. Đà phục hồi của kinh tế thế giới
và châu Á sẽ phụ thuộc nhiều vào sự phục hồi của kinh tế Mỹ, đặc biệt là lĩnh vực
tài chính – tiền tệ và bất động sản tại nước này. Tuy nhiên, theo dự báo, kinh tế Mỹ
vẫn phục hồi chậm (dự báo sẽ theo mô hình chữ U có đáy kéo dài). Như vậy, tình
trạng thiếu vốn của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam sẽ còn diễn ra,
xuất khẩu sẽ còn gặp khó khăn.
Thứ hai, ở trong nước, tuy kinh tế nước ta đã phục hồi và tăng trưởng khá
trong quý IV- 2009, nhưng khó khăn và thách thức vẫn còn nhiều: thiếu vốn; thị
trường xuất khẩu hàng hóa và thu hút khách du lịch nước ta phụ thuộc vào Hoa Kỳ,
EU, Nhật Bản, Hàn Quốc…, nhưng trong năm 2010 nền kinh tế các nước này vẫn
tăng trưởng chậm; nhu cầu tiêu dùng của người dân sau khủng hoảng kinh tế cũng
tăng chậm hơn, cơ cấu mặt hàng cũng thay đổi, trong khi đó hàng hóa và sản phẩm
dịch vụ của nước ta chất lượng chưa cao, giá cả kém cạnh tranh, lại chậm đổi mới
theo yêu cầu thị trường, nên khả năng xuất khẩu bị hạn chế. Việc liên tục thực hiện
Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 20
chính sách tiền tệ nới lỏng, tăng mạnh cung tiền có thể dẫn đến nguy cơ lạm phát.
Bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách tăng mạnh trong năm 2009 do Chính phủ tiếp tục
thực hiện các kế hoạch kích thích kinh tế là những bất cập cần điều chỉnh.
hành, tổ chức chỉ đạo của các ngành, các cấp và triển khai của các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế. Một số hướng cần tập trung ưu tiên là:
- Tập trung giải ngân tốt, có chất lượng các nguồn vốn đầu tư phát triển trong
nước và nước ngoài. Là năm cuối của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010, năm có nhiều
sự kiện lịch sử lớn, nên nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, các doanh nghiệp, của dân,
viện trợ ODA, vốn kiều bào gửi về nước, vốn FDI có triển vọng tăng nhanh và đạt
mức cao. Đó là nguồn lực quý không phải năm nào cũng có nên cần có cơ chế,
chính sách và giải pháp để quản lý, giải ngân sớm, sử dụng có hiệu quả, chống thất
Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 21
thoát, lãng phí. Đây là vấn đề rất quan trọng, vì muốn đạt được tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao đồng thời ổn định được các cân đối vĩ mô thì phải nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của nền kinh tế.
- Mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Năm 2010 là năm cuối của kế
hoạch 5 năm 2006 – 2010 và chiến lược 10 năm 2001 – 2010, nên các ngành, địa
phương sẽ tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp và dịch vụ sau khi hồi phục kinh tế. Vì vậy, lượng hàng hóa và sản phẩm
dịch vụ tung ra thị trường sẽ tăng nhanh, đòi hỏi thị trường tiêu thụ tăng tương ứng.
Vì vậy, việc chăm lo tổ chức thu mua, nâng cao chất lượng hàng hóa Việt Nam theo
tiêu chuẩn quốc tế, giữ thương hiệu và uy tín một số hàng hóa chủ lực, sắp xếp lại
cơ cấu hàng hóa năm 2010 là giải pháp vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa có ý
nghĩa chiến lược lâu dài nhằm mở rộng thị trường thế giới.
- Đổi mới cơ chế chính sách kinh tế – tài chính nhằm khuyến khích các doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất, hộ gia đình phát triển theo hướng bền vững, tăng chất lượng,
giảm chi phí để tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới. Cần ban
hành các cơ chế, chính sách có tính khả thi nhằm tái cơ cấu nền kinh tế trong hệ
thống các ngành sản xuất và dịch vụ.
- Tập trung nguồn lực của Nhà nước và nhân dân để khắc phục nhanh hậu
quả nặng nề của thiên tai ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên do cơn bão số 11
gây ra, đồng thời có biện pháp khắc phục hạn hán, thiếu nước ở các địa phương phía
Bắc, nhất là vùng đồng bằng sông Hồng, để bảo đảm vụ đông xuân 2010 đạt năng
đ) Thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.500 – 1.550 tỷ đồng vào năm 2010, 4.000
– 4.100 tỷ đồng vào năm 2015 và trên 10.000 tỷ đồng vào năm 2020; tốc độ tăng thu
ngân sách trên địa bàn bình quân trong cả thời kỳ 2006 – 2020 đạt trên 20%/năm.
e) Tốc độ tăng dân số trong cả thời kỳ 2006 – 2020 đạt 0,9%/năm; trong đó,
tốc độ tăng dân số tự nhiên đạt 0,8 – 0,82%/năm và tăng cơ học đạt 0,08% -
0,1%/năm.
g) Trước năm 2020, hoàn thành phổ cập giáo dục trung học phổ thông cho
95% dân số trong độ tuổi đi học ở khu vực thành phố, thị xã, thị trấn (trong đó 15%
học nghề, 15% giáo dục chuyên nghiệp, 70% tốt nghiệp phổ thông và bổ túc) và
85% dân số trong độ tuổi đi học ở khu vực nông thôn; kiên cố hoá toàn bộ trường,
lớp học; mỗi huyện có ít nhất 03 trường trung học phổ thông.
h) Bảo đảm đủ cơ sở khám, chữa bệnh và nhân viên y tế; ưu tiên đầu tư cải
tạo, nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở khám, chữa bệnh ở cả ba tuyến: tỉnh,
huyện, xã; phấn đấu tăng tuổi thọ trung bình lên 72 tuổi vào năm 2010 và trên 75
tuổi vào năm 2020.
i) Giải quyết việc làm bình quân hàng năm cho ít nhất 15.000 lao động trong
thời kỳ 2006 – 2010 và cho 12.000 – 13.000 lao động trong thời kỳ 2011 – 2020;
bảo đảm trên 95% lao động trong độ tuổi có việc làm vào năm 2010; tỷ lệ lao động
qua đào tạo đạt 38 – 40% vào năm 2010 và đạt 68 – 70% vào năm 2020; tỷ lệ hộ
nghèo (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày
08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ) giảm xuống còn dưới 15% vào năm 2010 và
còn 2,5 – 3% vào năm 2020; chênh lệch giữa các vùng, các tầng lớp dân cư trong
việc thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản được thu hẹp; chỉ số phát triển con người
(HDI) tăng lên trên 0,7% vào năm 2010 và trên 0,8% vào năm 2020.
k) Bảo đảm trên 90% số hộ gia đình được dùng nước sạch vào năm 2010 và
nâng tỷ lệ này lên 100% vào trước năm 2020; 100% số hộ có điện sử dụng vào trước
năm 2010.
l) Tỷ lệ đô thị hoá đạt 35% vào năm 2010 và đạt 45% vào năm 2020.
m) Nâng cao chất lượng rừng và tỷ lệ che phủ rừng đạt 50% vào năm 2020.
n) Bảo đảm môi trường sạch cho cả khu vực đô thị và nông thôn.
kinh tế Việt Nam ra khỏi khó khăn và bắt đầu phục hồi. Trong bối cảnh kinh tế
trong và ngoài nước thời gian tới vẫn còn rất nhiều khó khăn thách thức, để có thể
bứt phá và tạo đà tăng trưởng mạnh, bền vững trong dài hạn đòi hỏi, một mặt, phải
tiếp tục duy trì thực hiện có hiệu quả gói kích thích kinh tế thứ nhất; mặt khác, cần
bổ sung gói kích thích thứ hai tập trung cho các mục tiêu trung và dài hạn, tái cấu
trúc nền kinh tế.
Thứ hai, đối với gói kích thích kinh tế đang thực hiện: Các cơ quan chức
năng cần rà soát, đánh giá tổng thể những kết quả, hiệu quả mà gói kích cầu mang
lại cũng như những tồn tại, vướng mắc và kịp thời có biện pháp chấn chỉnh để tiếp
tục triển khai trong thời gian tới. Bên cạnh đó, nghiên cứu điều chỉnh liều lượng của
Tiểu luận KT Vĩ mô- NMP 24
gói kích thích cho phù hợp với những diễn biến mới của tình hình kinh tế trong
nước và thế giới. Theo đó có thể:
(a) Giảm dần hỗ trợ lãi suất ngắn hạn từ 4% hiện nay xuống mức 1% - 2% và
kết thúc đúng thời hạn là 31-12-2009, nhưng vẫn tiếp tục gói hỗ trợ lãi suất trung,
dài hạn; đồng thời giảm bớt các thủ tục hành chính quá cứng nhắc trong hoạt động
cho vay, nhất là đối với khu vực nông thôn và đối tượng là các hộ nông dân đầu tư
máy móc, thiết bị trong sản xuất nông nghiệp (theo đánh giá của các ngân hàng, dư
nợ cho vay đối với khu vực này tuy thấp, nhưng tỷ lệ nợ xấu thấp nhất, trong hỗ trợ
lãi suất lại thường thiếu các thủ tục theo quy định nên khó tiếp cận vốn);
(b) Tiếp tục duy trì kế hoạch thực hiện nhóm giải pháp thông qua chính sách
tài khóa (giảm, giãn và miễn một số loại thuế ) và gói giải pháp bảo đảm an sinh xã
hội.
Thứ ba, nghiên cứu xây dựng gói kích thích kinh tế mới phù hợp với điều
kiện, khả năng và các cân đối vĩ mô của nền kinh tế; tập trung cho các mục tiêu
trung và dài hạn, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công
nghiệp và dịch vụ trong GDP; cấu trúc lại các ngành, các lĩnh vực kinh tế của nước
ta trên cơ sở lợi thế cạnh tranh trong hội nhập; hình thành các vùng kinh tế dựa trên
tiềm năng, lợi thế vùng gắn với nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế; trên cơ sở
đó điều chỉnh phân bổ nguồn lực để tập trung phát triển những ngành công nghiệp,