Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập ở Vụ Tổng hợp KTQD - Bộ Kế hoạch và Đẩu Tư, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của vụ trưởng và toàn thể đội ngũ CBCC tại Bộ
cùng với sự hướng dẫn tận tâm của giáo viên hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Ngọc
Sơn. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian và kiến thức nên khóa luận này của tôi
không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp bổ sung để bài
chuyên đề thực tập được hoàn thiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Mai Hương
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên : Trần Thị Mai Hương
MSV : CQ481333
Lớp : Kế hoạch 48A
Khoa : Kế hoạch và phát triển
Chuyên đề thực tập của em là: “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của VIệt
Nam sau khủng hoảng tài chính toàn cầu”
Em xin cam đoan những gì em viết trong chuyên đề không sao chép từ bất kỳ
một tài liệu nào. Những phần trích dẫn và tham khảo đều đúng theo quy định của Nhà
trường. Nếu sai em xin chịu trách nhiệm.
Sinh viên
Trần Thị Mai Hương
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5,8%. Nền kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ.
Với những thành tưu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của 25 năm đổi mới, 10 năm
thực hiện chiến lược kinh tế xã hội 2001 – 2010 đã tạo ra sức mạnh tổng hợp đối với
sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Sự ổn định về chính trị xã hội là nền tảng vững
chắc cho sự phát triển. Tuy nhiên, những yếu kém của nền kinh tế và ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu chắc chắn vẫn còn tác động
đến sự phát triển của Việt Nam trong thời gian tới. Do đó với một nền kinh tế dựa
chủ yếu vào xuất khẩu với sự đóng góp của xuất khẩu vào GDP luôn trên 50%
(55,03% năm 2000, 73,61% năm 2006, 76,9% năm 2007 và khoảng 78,21% năm
2008) nhằm “tận dụng tối đa các thời cơ thuận lợi, vượt qua các khó khăn thách thức,
huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực, kết hợp tốt sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại, phấn đấu đạt được những bước phát triển mới, nhanh và bền vững, rút ngắn
khoảng cách phát triển với các nước” , đón đầu những cơ hội và thách thức của nền
kinh tế thế giới sau khủng hoảng thì việc nghiên cứu thực trạng cũng như đề xuất các
giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những nhiệm vụ kinh tế quan trọng, cấp
thiết đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“ Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của VIệt Nam sau khủng hoảng tài chính
toàn cầu”
Đề tài được thực hiện với mục đích nghiên cứu lý luận và ứng dụng vào thực
tiễn hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới, qua đó xem xét thực trạng
phát triển và vị trí, vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế Việt Nam và
trong tương quan với hoạt động xuất khẩu của nền kinh tế thế giới nói chung, từ đó
Trần Thị Mai Hương Lớp: Kế hoạch 48A
7
Chuyên đề tốt nghiệp PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của hoạt động xuất khẩu
của Việt Nam trong thời gian tới.
Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu với việc áp dụng một số phương pháp
nghiên cứu như: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả,
là môi giới thương mại và đại lý. Việc sử dụng hình thức này có những thuận lợi và
khó khăn nhất định.
Những khó khăn chủ yếu khi tham gia thi trường dưới hình thức xuất khẩu
gián tiếp đó là: Phải trả chi phí cho người trung gian; Không gắn liền giữa sản xuất và
thị trường do không gắn kết được quan hệ trực tiếp với thị trường đặc biệt là thị
trường nước ngoài; Ngoài ra kết quả của hoạt động giao dịch lại phụ thuộc chủ yếu
và thiện chí của người trung gian trong khi các nhà kinh doanh lại không muốn phụ
thuộc.
Bên cạnh những khó khăn, thì khi tham gia vào loại hình xuất khẩu này, doanh
nghiệp cũng có những lợi thế nhất định như: Sử dụng được kinh nghiệm, vốn và cơ
sở vất chất của chuyên gia và của người trung gian; Tập trung vốn, sức lực, tiền của
vào điểm chính yếu nhất; Học tập được kinh nghiệm trên thương trường quốc tê.
Trần Thị Mai Hương Lớp: Kế hoạch 48A
9
Chuyên đề tốt nghiệp PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Do đó, khi áp dụng hình thức xuất khẩu này cần chú ý tới mọt số điều kiện
nhất định. Việc nên hay không nên sử dụng hình thức xuất khẩu trung gian xuất phát
từ tính hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu. Vì vậy khi sử dụng trung gian tham
gia vào thị trường phải tính toán kĩ để tránh khả năng “ lợi bất cập hại”. Hình thức
này có hiệu quả trong một số trường hợp sau:
Khi lần đầu tiên tham gia vào thì trường nước ngoài hoặc tham gia vào phân
khúc thị trường mới mà chưa biết hiều về thị trường đó.
Khi vốn hạn chế, hàng hoá không nhiều, hoặc nhu cầu không thường xuyên.
Khi đưa sản phẩm mới và thị tường mà chưa nắm chắc thị trường đó.
HIện nay theo nhóm nghiên cứu của EEC thì tới 2/3 lượng hàng xuất khẩu của
Việt Nam ít nhiều cá sử dụng hình thức này.
b, Xuất khẩu trực tiếp : đây là hình thức tham gia thị trường nước ngoài khá
phổ biến đối với mọi DN trên thế giới, trong đó các DN tiến hành XK hàng hoá
( hoặc hàng hoá do DN mình sản xuất ) ra thị trường nước ngoài nhằm khai thác lợi
thế so sánh giữa các quốc gia nhằm nâng cao lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh.
Cầu đối với hàng hoá xuất khẩu chịu tác động tổng hợp của nhiều
nhân tố từ chính thị trường nhập khẩu như:
Tình hình kinh tế của quốc gia nhập khẩu: Khi nền kinh tế của quốc gia
nhập khẩu đang nằm trong chu kỳ tăng trưởng, nhu cầu nhập khẩu phụ vụ cho nhu
cầu sản xuất cũng như tiêu dùng không ngừng tăng lên, làm gia tăng sức cầu đối với
hàng hoá nói chung và hàng hoá nhập khẩu nói riêng. Ngược lại tình trạng suy giảm
sức cầu sẽ xảy ra khi nền kinh tế rơi vào chu kỳ suy thoái.
Chính sách thương mại của quốc gia nhập khẩu: Những rào cản thương mại
cả kỹ thuật và phi kỹ thuật của quốc gia nhập khẩu sẽ ngăn cản sự xâm nhập của
hàng hoá xuất khẩu vào thị trường quốc gia đó. Nếu mặt hàng xuất khẩu thuộc vào
nhóm bị hạn chế thì sức cầu có thể giảm do những chi phí phát sinh từ những rào cản
thương mại gây nên.
Thói quen, tâm lý tiêu dùng của quốc gia nhập khẩu: trong trường hợp mặt
hàng xuất khẩu thuộc nhóm hàng tiêu dùng, cầu của quốc gia nhập khẩu đối với hàng
hoá xuất khẩu có thể chịu sự tác động bởi những nhân tố mang tính tâm lý của người
dân nước nhập khẩu. Một số mặt hàng nếu nhập khẩu từ thị trường nước này lại được
ưa chuộng và đánh giá cao hơn so với thị trường khác như ô tô nhập khẩu từ Đức,
Mỹ, Nhật...được coi trọng hơn về thông số kĩ thuật và kiểu mẫu hơn nhập khẩu từ
Trung Quốc....
Giá cả của hàng hoá xuất khẩu: Giá cả rẻ hơn hoặc phải chăng so với các
hàng hoá cùng loại trong phần lớn các trường hợp luôn có một sức hút lớn tạo ra một
lượng cầu đáng kể. Khi giá giảm đi thì có thể thu hút thêm cầu đối với hàng hoá. Rõ
Trần Thị Mai Hương Lớp: Kế hoạch 48A
11
Chuyên đề tốt nghiệp PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
ràng, đây là một nhân tố quan trọng trong việc xác định mức cầu của thị trường đối
với một loại hàng hoá.
1.1.2.2. Khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu và tác động của nó
tới quy mô xuất khẩu
Khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu trên thị trường nước ngoài có
khối lương hàng xuất khẩu.
Tuy nhiên tác động của tỷ gí hối đoái tới cầu hàng hoá xuất khẩu không giống
nhau giữa các loại hàng hoá. Mức độ ảnh hưởng còn tuỳ thuộc vào mức độ co giãn
của cầu hàng hoá đối với giá hàng hoá đó.Hơn nữa, tác động nêu trên của tỷ giá hối
đoái mới chỉ xét đến mặt khối lượng hàng hoá xuất khẩu mà chưa tính đến tổng giá
trị. Vị dụ, trong trường hợp tỷ giá tăng, trong khi khối lượng hàng xuất khẩu gia tăng,
giá hàng xuất khẩu tính bằng ngoại tệ lại giảm, thì tổng giá trị của hnàg xuất khẩu
tăng hay giảm còn phụ thuộc vào độ co giãn của hàng hoá đó là lớn hơn hay nhỏ hơn
1.
Ngoài ra, tỷ giá hối đoái còn tác động đến ccung hàng hoá xuất khẩu trên hai
phương diện sau:
Về ngắn hạn, việc tỷ giá tăng sẽ làm co doanh thu và lợi nhuận của doanh
nghiệp xuất khẩu tính bằng nội tệ tăng lên, từ đó kích thích doanh nghiệp mở rộng
sản xuất theo cả chiều rộng và chiều sâu, làm gia tăng sản lượng dẫn đến gia tăng
khối lượng xuất khẩu. Tỷ giá hối đoái tăng lên do phá giá đồng nội tệ sẽ làm chi phí
sản xuát tính bằng ngoại tệ giảm đi, giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu có thể hạ giá
bán bằng ngoại tẹ để cạnh tranh giá. Mặc dù biện pháp này có thể làm lợi nhuạn siêu
ngạch của doanh nghiệp giảm đi nhưng tổng doanh thu, lợi nhuận vẫn có thẻ tanưg
do sự lấn át của hiệu ứng khối lượng.
Tuy nhiên, hiệu ứng phá giá chỉ kích thích xuất khẩu trong thời gian ngắn, khi
mà chi phí sản xuất hàng xuất khẩu chưa tăng lên do hiệu ứng giá nguyên liệu nhập
khẩu tăng lên. Trong dài hạn chi phí sản xuất của doanh nghiệp tính bằng nội tệ có xu
hướng tăng ( điều này cũng làm chi phí sản xuất tính banừg ngoại tệ cũng có xu
hướng tăng) vì các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, trong một số trường hợp, có một số doanh nghiệp xuất khẩu lại sử
dụng nguyên liệu nhập khẩu. Vì vạy khi tỷ giá tăng sẽ kéo theo hàng nhập khẩu tăng
giá dẫn đến chi phí sản xuất tăng theo. Hiệu ứng này có thể xảy ra trễ hơn do tác
động của việc dự trữ nguyên liêu.
Thứ hai, khi tỷ giá hối đoái tăng, các doanh nghiệp xuất khẩu thu được lợi
nhuận siêu ngạch trong ngắn hạn. Tuy nhiên theo quy luật bình quân hoá lợi nhuận
xuất khẩu như: Khuyến khích về thuế đối với đầu tư, giảm thuế các phương tiện kho
tàng và khu chế xuất, hoàn thuế. Các biện pháp tiền tệ bao gồm: Các phương tiện
chiết khấu (lãi suất) tín dụng xuất khẩu, thưởng xuất khẩu, tỷ giá hối đoái…Hiện nay
nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển thường sử dụng ba nhóm
khuyến khích xuất nhập khẩu. Nhóm thứ nhất là nhóm thuế, hoàn trả lại thuế và giảm
thuế áp dụng đối với các sản phẩm trung gian nhập khẩu. Thuế và hoàn thuế, giảm
thuế cũng được áp dụng đối với máy móc và thiết bị nhập khẩu cho sản xuất hàng
Trần Thị Mai Hương Lớp: Kế hoạch 48A
14
Chuyên đề tốt nghiệp PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
hóa, dịch vụ xuất khẩu. Nhóm thứ 2 bao gồm tín dụng với lãi suất thấp hơn lãi suất
thị trường dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu để tăng vốn lưu động phục vụ xuất
khẩu. Nhóm thứ ba bao gồm các quỹ phục vụ các đoàn công tác đi nước ngoài của
các quan chức chính phủ và các doanh nghiệp, các nhà ngoại giao, thương vụ nhằm
khuyếch trương xuất khẩu Việt Nam ra thị trường thế giới. Tựu trung lại, các chính
sách hỗ trợ xuất khẩu ở bất kỳ quốc gia nào cũng nhằm vào hai đối tượng chính là
các nhà sản xuất, hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu và các doanh nghiệp làm chức năng
xuất nhập khẩu.
Thực tế cho thấy,trong các công cụ chính sách của chính phủ thì tác động của
chính sách tỷ giá hói đoái thay đổi tớihoạt động xuất khẩu của một quốc gia là tương
đối rõ rệt và mức độ ảnh hưởng có thể đo lường được một cách cụ thể. Chính vi vậy
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tê, các quốc gia luôn sử dụng tỷ giá như một
công cụ điều tiết hữu hiệu hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa dịch vụ. NHTW thông
qua các công cụ can thiệp nhằm đạt được một mức tỷ giá nhất định, để tỷ giá tác
động một cách tích cực tới hoạth động xuất nhập khẩu của một quốc gia. Cơ chế điều
hành tỷ giá đối với hoạt động xuất khẩu thành công hay thất bại phụ thuộc vào nhiều
yếu tố trong đó không thể không kể đến nhân tố Cách thức lựa chọn cơ chế tỷ giá
của chính phủ. Theo mức độ can thiệp tăng dần của Chỉnh Phủ có thể nêu ra 3 cơ
chế đặc trưng sau:
Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Với chế độ này, sự biến động của tỷ giá là
khẩu.
1.2. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TRONG NỀN KINH TẾ
QUỐC DÂN
1.2.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, thúc đẩy quá trình
CNH – HĐH đất nước
Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là “Xây dựng nước ta thành
nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ
sản xuất tiến bộ phù hợp với quá trình phát triển lực lượng sản xuất, đời sống vật chất
và tình thần cao, quốc phòng và an ninh vững chắc, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước CNH theo hướng
hiện đại”.
Muốn vậy, ngay từ đầu chúng ta phải xây dựng những tiền đề nhất định cho
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Một trong những tiền đề quan trọng
chính là tạo vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ngày một hiện đại, đòi hỏi phải có nhiều vốn
trong nước và ngoài nước, trong đó nguồn vốn bên ngoài là quan trọng.
Nguồn vốn bên trong bao gồm: nhân lực là tài sản cố định tích lũy từ nhiều thế
Trần Thị Mai Hương Lớp: Kế hoạch 48A
16
Chuyên đề tốt nghiệp PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
hệ, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và nhiều loại vốn hữu hình và vô hình
khác.Tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở hiệu quả sản
xuất.Con đường cơ bản để giải quyết vấn đề tích lũy vốn trong nước là tăng năng
suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, hợp lý hóa
sản xuất, khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, thực hiện tiết
kiệm...
Nguồn vốn bên ngoài được huy động từ các nước trên thế giới dưới nhiều
hình thức khác nhau: Vốn viện trợ của các nước, các tổ chức kinh tế - xã hội; vốn vay
ngắn hạn, dài hạn với các mức lãi suất khác nhau của các nước và các tổ chức kinh
tế; vốn đầu tư của nước ngoài vào hoạt động sản xuất kinh doanh, liên doanh liên kết,
cải thiện, tổ chức lại sản xuất, cơ cấu quản l cho phù hợp với nhu cầu thị trường.
Tóm lại, xuất khẩu không chỉ tác động làm gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn
giúp cho việc gia tăng nhu cầu sản xuất, kinh doanh ở những ngành liên quan khác.
Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, giúp cho sản xuất ổn định và
kinh tế phát triển. Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho
sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Mặt khác trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, hàng hoá các nước phải chịu sự cạnh tranh
khốc liệt với hàng hoá các nước khác cùng với sự cản trở quyết liệt của các hàng rào
thuế quan và phi thuế quan. Để có thể đứng vững và phát triển được thì các nước
phải không ngừng cải tiến công nghệ, tiết kiệm chi phí, hạ gía thành, nâng cao chất
lượng sản phẩm để tạo ra sức cạnh tranh mạnh mẽ cho hàng hoá của nước mình trên
thị trường nước ngoài. Do vậy, thông qua quá trình cạnh tranh khốc liệt hay nói cách
khác là thông qua quá trình thương mại quốc tế mà chất lượng hàng hóa ngày càng
được nâng cao và hoàn thiện hơn.
1.2.3. Xuất khẩu góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống
nhân dân
Xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người
dân. Xuất khẩu làm tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân, từ đó có tác
động làm tăng tiêu dùng nội địa làm nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng. Dẫn
đến sản xuất gia tăng, cầu lao động tăng, nhất là trong các ngành sản xuất hàng hoá
xuất khẩu.
Mặt khác xuất khẩu còn tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, đặc biệt là các vật
phẩm tiêu dùng cẩn thiết đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân.
Ở nước ta hiện nay, từ khi Đảng thực hiện chủ trương mở cửa nền kinh tế, kim
ngạch xuất khẩu của nước ta nhìn chung không ngừng tăng lên tạo điều kiện thúc đẩy
sản xuất trong nước, tăng nguồn thu cho ngân sách và giải quyết công ăn việc làm
Trần Thị Mai Hương Lớp: Kế hoạch 48A
18
Chuyên đề tốt nghiệp PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
cho hàng triệu người lao động.
Trần Thị Mai Hương Lớp: Kế hoạch 48A
19
Chuyên đề tốt nghiệp PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
2000 tỷ USD năm 1990 lên đến 11000 tỷ USD vào quý 3/2007. tại đỉnh điểm, dư nợ
tín dụng đạt 48000tỷ USD, gần 3,5 lần GDP. Các khaỏn vay ngoài vay thế chấp nhà
đất cũng trong tình trạng xấu, nguyên nhân là việc “ chứng khoán hóa” các giấy tờ nợ
không được kiểm soát.
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa GDP, thị trường nợ, chứng khoán nợ ở MỸ
Nguồn: Báo cáo “ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trăm năm có một và vấn
đề của Việt Nam” – PGS.TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng viện kinh tế Việt Nam.
Như vậy có thể thấy rằng ngoài sự đổ vỡ của bong bóng nhà đất thì nguyên
nhân chủ yếu - trực tiếp của cuộc khủng hoảng là các lỗi hệ thống của hệ thống
ngân hàng tài chính, hệ số đòn bẩy tài chính của các NHTM lớn, cho phép phát triển
các “ sáng tao tài chính” nhằm mục đích phân tán rủi ro, giảm bớt rủi ro nhưng lại
không lường hết được cơ chế hoạt động, giám sát, tầm ảnh hưởng và hậu quả của
nó.
b, Nguyên nhân nền tảng : sự mất cân bằng kinh tế toàn cầu sâu sắc và kéo
dài
Sự mất cân bằng kinh tế toàn cầu có lẽ được tích nén lại trong khoảng thời
gian hai mươi hoặc ba mươi năm gần đây và nó được định vị bởi hai xu hướng lớn
sau:
Trần Thị Mai Hương Lớp: Kế hoạch 48A
…
CDS : 62 tỷ $
…
Credit:48 tỷ $
GDP:
14.3 tỷ $
20
Chuyên đề tốt nghiệp PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
do hoá, toàn cầu hoá, sự mất kiểm soát của chính phủ các nước bao gồm cả các nước
‘ siêu cường” tất yếu dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như một quy luật
Trần Thị Mai Hương Lớp: Kế hoạch 48A
21
Chuyên đề tốt nghiệp PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
của lịch sử.
1.3.1.1.2. Về bản chất của cuộc khủng hoảng
Như vậy bản chất của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế hiện nay
chính là sự đổ vở của sự mất cân bằng ở tất cả các thị trường hiện hữu từ thị trường
tài chính, thị trường sản xuất kinh doanh, đến thị trường lao động.
Khi làng sóng đầu tư vào các thị trường tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là làng
sóng tăng lên của các thị trường phi sản xuất, như thị trường tài chính, thị trường địa
ốc, thị trường ngoại tệ, …. tính ảo của thị trường sẽ xuất hiện. Và người mua ở đây
không còn là người “tiêu thụ” sản phẩm mà chủ yếu là những nhà đầu cơ, kể cả trong
thị trường sản xuất cũng mang nặng tính đầu cơ. Quá trình này đã làm cho các thị
trường bành trướng mau lẹ, GDP tăng lên nhanh chóng, cho đến lúc sự mất cân bằng
tăng lên đỉnh điểm và thị trường không thể tiếp tục chứa đựng những hàng hóa - dịch
vụ mà nó phải chứa đựng, cũng như sự mất cân đối đã đạt mức quá sức chịu đựng
của thị trường và phải đi đến sự sụp đổ.
Do đó có thể nói sự vở bong bóng thị trường bất động sản Mỹ không phải là
nguyên nhân gây ra khủng hoảng, mà nó chỉ là cái khởi đầu cho sự khủng hoảng. Sự
khủng hoảng đã tiềm ẩn trong các nền kinh tế, ngay cả trong nền kinh tế nhỏ và mới
phát triển như Việt Nam. Sự đổ vở thị trường Mỹ lại lan nhanh tới thị trường của các
nước khác chính vì thị trường Mỹ đang sản xuất và tiêu thụ một tổng giá trị sản phẩm
quá lớn. Thị trường Mỹ là thị trường mà nó có lượng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu
lớn nhất trong các khu vực kinh tế thế giới. Do đó sự khủng hoảng tất yếu bắt đầu từ
thị trường Mỹ. Kể từ nay bất cứ một sự chông chênh nào của thị trường Mỹ sẽ lập
tức ảnh hưởng đến thị trường các nước khác trên mọi lĩnh vực.
Vây, bản chất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 chính là khủng
hoảng về thể chế tài chính và cơ cấu mà sâu xa hơn là khủng hoảng về cơ cấu. Đó là
xuất khẩu hàng hoá thì xuất khẩu dịch vụ thể hiện qua lượng khách quốc tế đến Việt
Nam cũng giảm sút trong năm tháng đẩu năm 2009, đạt 1614.5 nghìn lượt khách
giảm 18,8% so với cùng kỳ năm 2008.
Về đầu tư nước ngoài, trong năm tháng đàu nă 2009, thu hút đầu tư nước
ngoài đạt 6.7 tỷ USD giảm 76.3% so với cùng kì năm 2008. Vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài thực hiện năm tháng đầu năm 2009 ước tính 2,8tỷ USD, giảm 29,1% so
với cùng kí năm 2008.
Ngoài ra khủn hoảng kinh tế còn dẫn đến một số nguy cơ cho nền kinh tế
nước ta như chỉ số ICOR cao, chỉ số cạnh tranh giảm sút, chuyển đổi cơ cấu kinh tế
diễn ra chậm chạp...
Tình hình bội chi ngân sách tăng
Trần Thị Mai Hương Lớp: Kế hoạch 48A
23
Chuyên đề tốt nghiệp PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Tổng thu ngân sách trong năm tháng đầu năm 2009 chỉ bằng 31.8% dự toán
của năm. Nguyên nhân là do giá dầu thu cao su, hạt tiêu, cafe, chè...trên thị trường
thế giới giảm làm cho nguồn thu NSNN giảm.Mặt khác, do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng dẫn đến các nước cắt giảm chi tiêu, hạn chế đầu tư ra nước ngoài, thắt
chặt chính sách đầu tư ra nước ngoài, tập trung phát triển thị trường nội địa, thêm vào
đó trình độ kinh tế nước ta còn thấp, khả năng cạnh tranh và kinh nghiệm thương mại
khi gia nhập WTO còn hạn chế làm cho nguồn vốn đầu tư và nguồn thu từ xuất khẩu
giảm. Do hệ quả của hcính sách thắt chặt tiền tệ, tín dụng, điều chỉnh cơ chế lãi suất,
tỷ giá làm cho năng lực sản xuất hàng nội địa và cầu hàng nội địa bị giảm sút làm
giảm nguồn thu nôi địa. Cuối cùng do ảnh hưởng của chính sách kích cầu đàu tư tiêu
dùng từ cuối năm 2008 đến nay dẫn đến bội chi ngân sách và nguy cơ về an ninh tài
chính.
Tỷ lệ thất nghiệp có chiều hướng gia tăng
Do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn buộc
phải thu hẹp sản xuất dẫn đến nhiều người lao động bị mất việc làm. Năm 2008, theo
thống kê của 41tỉnh thành phố trong cả nước, co tới 66707 người bị mất việc làm,
Nhìn chung để có bước đi rõ ràng chính xác trong giai đoạn hậu khủng
hoảng ta cần có cái nhìn tổng quát về bối cảnh kinh tế thể giới hậu khủng hoảng. Có
thể khái quát một số nét sau:
KHTC chạm đáy nhưng hiểm hoạ suy thoái vẫn còn
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế vẫn tiếp diễn và là không thể đảo
ngược:
Tăng trưởng xuất khâu hàng hoá thế giới vẫn ở mức cao đạt 14.06% (2005),
15,4%(2006), 14,44%(2007).
Đầu tư ( tư nhân) trực tiếp nước ngoài vào các nuớc đang phát triẻn và mới
nổi cũng tanưg mạnh đạt 241,4 tỷ $( 2006), 359,0 tỷ $( 2007), 459,3 tỷ $ (2008).
Dòng vốn đầu tư gián tiếp đã rất lớn tạo sự gắn chặt về lợi ích. Đến cuối
namư 2007 chứng khoán nước ngoài do nhà đầu tư Hoa Kỳ năm lên tới 4956 tỷ USD,
chứng khaón Hoa Kỳ do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ lên tới 3130 tỷ USD…
Mô hình kinh tế thị trường vẫn đững vững. Tuy nhiên sự thất bại của mô
hình kinh tế thị trường tự đo kiểu Hoa KÌ cho thấy vai trò điều tiết, giám sát của nhà
nước là rất quan trọng.
Thể chế tài chính toàn cầu sẽ được cải cách và hoàn thiện hơn. Trong đó cơ
Trần Thị Mai Hương Lớp: Kế hoạch 48A
25