B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, không chỉ bao
trùm các khu vực mà còn diễn ra trên phạm vi toàn thế giới. Hoà cùng xu thế
ấy, các quốc gia, các ngành kinh tế đang dần chuyển mình bắt nhịp với nền
kinh tế chung của nhân loại. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Từ
đổi mới đến nay, các ngành kinh tế của Việt Nam đang thay đổi diện mạo của
mình, mà đặc biệt phải kể tới ngân hàng, lĩnh vực đang phất lên trên nền kinh
tế của Việt Nam trong những năm gần đây.
Trong bối cảnh ấy, hệ thống ngân hàng của Việt Nam, bao gồm cả
Ngân hàng Thương mại quốc doanh và thương mại cổ phần đều đang ra sức
đầu tư để phát triển. VPBank cũng vậy, đầu tư theo cả chiều rộng lẫn chiều
sâu đang là phương hướng chiến lược của VPBank. Trải qua quá trình phát
triển thăng trầm, đến nay, VPBank đã trở thành ngân hàng có uy tín, có tốc độ
tăng trưởng khá cao, đang dần khẳng định vị thế của mình trong hệ thống
ngân hàng Việt Nam cũng như hệ thống ngân hàng quốc tế.
Trong các hoạt động của ngân hàng, tín dụng một trong những hoạt động
quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập tiền
lói lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất của ngân hàng. Vì
vậy, nâng cao chất lượng tín dụng luôn là nhiệm vụ và mục tiêu hàng đầu của
các NHTM.
Tuy nhiên hoạt động này trong các NHTM còn nhiều hạn chế. Chính vì lẽ
đó mà việc nghiên cứu tìm ra các giả pháp nâng cao chất lượng tín dụng sẽ
góp phần quyết định tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Qua quá trình
thực tập tại vpbank em xin được tham gia đề tài :” Nâng cao chất lượng tín
dụng tại vpbank” cho chuyên đề thực tập của mình với mong muốn áp dụng
những kiến thức đã học của mình nhằm đưa ra một số giải pháp nâng cao chất
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
1
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau; Ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật
ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng được
hiểu theo các nghĩa sau :
Xét trên góc độ chuyển quỹ đầu tư cho vay từ chủ thể thặng dự tiền tiền
kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dung được coi là phương pháp
chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Như một công ty thương mại bán hàng hóa
trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này người bán chuyển giao
từ hàng hóa cho bên mua và sau một thời gian nhất định thỏa thuận bên mua
phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và các
định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân duới hình thức cho
vay tức là ngân hàng cấp tiền cho vay cho bên đi vay sau môt thời hạn nhất
định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi.
Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính
cung cấp cho khách hàng.
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
3
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Trong một số ngữ cảnh nhất định tín dụng còn có nghĩa là cho vay. Ví dụ: tín
dụng ngắn hạn đồng nghĩa với cho vay ngắn hạn, hoặc như từ tín dụng tuần
hoàn là một loại tín dụng cụ thể.
Trên cơ sở tiếp cân theo chức năng của họat động ngân hàng thì tín dụng
được hiểu như sau :
Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên vay và bên cho vay và bên đi
vay trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong
một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả
vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay đến hạn thanh toán.
Từ khái niệm, bản chất tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn
kinh tế bao gồm các doanh nghiệp, các hộ gia đình và chính quyền mỗi một
khu vực có một nhu cầu khác nhau về quỹ cho vay.
Đối với doanh nghiệp : nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp bao gồm hai
thành phần cơ bản đầu tư vào hàng tồn kho và đầu tư vào tài sản cố định.
Những thành phần đầu tư chịu tác động của nhiều yếu tố khách nhau. Những
sự thay đổi ròng về hàng tồn kho được phát sinh chủ yếu từ sự chênh lệch
giữa doanh số bán dự tính và doanh số bán thực hiện như đã dự tính, nếu như
doanh số bán thực hiện như doanh số bán dự tính thì không lượng hàng tồn
kho không vượt quá mức cần thiết. Ngược lại nếu doanh số bán thực hiện
vuợt quá mức dự tính thì doanh nghiệp tồn kho ở mức thấp so với tổng doanh
số bán. Vì vậy sự biến động của hàng tồn kho ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu
của doanh nghiệp về quỹ vay. Bởi vi hàng tồn kho thường đựoc tài trợ bằng
những khoản vay ngắn hạn thông thường tại các ngân hàng thương mại và
thông qua tín dụng thương mại do các nhà cung cấp dành cho doanh nghiệp
cho nên những thay đổi về hành tồn kho thường gây ra các biến động mạnh
trong nhu cầu của doanh nghiệp về khối lượng hàng tồn kho từ đó gây ra
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
5
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
những biến động về lãi suất ngắn hạn.
Nhu cầu vốn vay lớn nhất của doanh nghiệp được xác định theo kế hoạch
đầu tư chúng thường xuất phát từ cân nhắc cản thận của ban quản trị trong
thời gian dài. Những nhu cầu thay đổi cầu về quỹ cho vay nhằm đáp ứng dầu
tư. Ít biến đổi hơn so với nhu cầu về quỹ cho vay nhămd đáp ứng nhu cầu về
hàng tồn kho. Nhìn chung các nhà máy thiết bị được tài trợ bằng các quỹ cho
vay dài hạn. Điều này kiến cho khu vực thị trường tài chính dài hạn ổn định
hơn so với khu vực tài chính ngắn hạn.
Đối với chính quyền : khu vực chủ yếu khác liên quan đến nhu cầu về
quỹ trong các thị trường tài chính là khu vực chính quyền.
Nhu cầu tài chính của khu vực chính quyền liên quan chủ yếu từ chính
người cho vay thu lại đủ quỹ đã cho vay cộng thêm một khoản lợi tức từ
chuyển nhượng qũy.
Giao dịch tín dụng bán trực tiếp thông qua các nhà môi giới. Một phương
pháp thông dụng khác của họat động trao đổi trực tiếp là các trái quyền của tài
chính giữa các chủ thể tài chính giữa người vay và người cho vay và cho vay
là kĩ thuật tài trợ bán trực tiếp. Trong một số trường hợp người vay và người
đi vay dựa vào bên thứ ba để hoàn thành hợp đồng tín dụng.
Giao dịch tín dụng gián tiếp. những khiếm khuyết của tài trợ trực tiếp và
bán trực tiếp mở đường cho một phương pháp thứ ba đó là thực hiện các giao
dịch tài chính thông qua họat động của ngân hàng tổ chức trung gian tài chính
hoặc tài trợ gián tiếp. Bằng phương pháp này cả hai bên chủ thể đi vay và chủ
thể cho vay đều được thỏa mãn các yêu cầu tài chính nhờ các tổ chức trung
gian tài chính.
Giao dịch tín dụng của ngân hàng là kênh truyền tải vốn quan trọng nhất
chiếm trên 50% chu chuyển cho vay trong nền kinh tế. Đối với các nước phát
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
7
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
triển tỷ lệ cao hơn nhiều sở dĩ như vậy xuất phát từ vai trò trung gian tài chính
của các ngân hàng và các đinh chế tài chính nhận tiền gửi khác như sau:
Trung gian về mệnh giá : các ngân hàng và các định chế tài chính huy
động các khoản tiền tiết kiệm nhỏ từ các tổ chức cá nhân hoặc từ tổ chức
những quỹ này lại được nhập thành những quỹ lớn để cấp phát chủ yếu cho
các doanh nghiệp. Thực tế các khoản vay lớn gấp hàng trăm lần so với các
một khoản tiền tiết kiệm.
Trung gian rủi ro sai hẹn : các ngân hàng cấp phát những khỏan vay chi
những người đi vay nhiều rủi ro và đồng thời phát hành những chứng khoán
tuờng đối an toàn và lưu họat để huy động quỹ cho vay từ những người tiết
kiệm không chấp nhận rủi ro.
Trung gian về hạn kỳ : quỹ cho vay họat động tương đối ngắn hạn từ
- Cho vay luân chuyển.
- Cho vay theo dự án.
- Cho vay tài trợ mua lại công ty.
Các khoản cho vay kinh doanh ngắn hạn :
Các khoản cho vay mua hàng dự trữ : từ trước đến nay các ngân hàng
thường thích cho các hãng vay ngắn hạn bổ sung tạm thời vốn họat động.
Trong thực tế cho tới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai các ngân hàng vẫn
chủ yếu cấp tín dụng dưới hình thức tự thanh toán. Các khoản vay này chủ
yếu được tài trợ cho việc mua hàng dự trữ như nguyên liệu thô hoặc hàng
hóa. Các khoản vay này thường tận dụng chu kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp như sau:
- Tiền mặt chỉ dùng để mua hàng hóa dự trữ nguyên vật liệu bán thánh
phẩm hoặc thành phẩm.
- Hàng hóa được sản xuất ra để bán.
- Hàng hóa đã bán (thường là bán chịu )
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
9
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Tiền mặt thu về (ngay cả khi bán hàng hoặc thu về từ các khoản thu
bán chịu) và được dùng để thanh toán cho ngân hàng.
Trong trường hợp này ngân hàng kỳ hạn của khoản vay bắt đầu được
tính khi hãng cần vốn đáp ứng mua hàng kết thúc khi hãng nhận được tiền
mặt bán hàng và nhập vào tài khoản để trả nợ cho ngân hàng.
Mặc dù cho đến ngày nay các ngân hàng không còn đơn thuần chỉ cho
vay các khoản thanh toán như trước mà nó đã xuất hiện hàng lọat các loại
hình cho vay khác nhau các khoản cho vay ngắn hạn thường mang tính tự
thanh toán vẫn chiếm hơn 50% giá trị các khoản vay trong thanh toán ngân
hàng .
Trên thực tế các khoản vay này chỉ có kỳ hạn kéo dài trong vòng vài
tuần hoặc vài ngày thường liên quan đến nhu cầu vay ngắn hạn để phục vụ
khoán này được bán hoặc đến hạn thanh toán. Các ngân hàng lớn nhất thường
sẵn sàng cho vay đối với người kinh doanh chứng khoán. Vì những khoản vay
này có chất lượng cao thường được bảo đảm bằng chứng khoán chính phủ mà
kinh doanh mà nhà kinh doanh chứng khoán nắm giữ. Hơn nữa nhiều khoản
vay chứng khoán có kỳ hạn rất ngắn chỉ là khoản vay qua đêm hoặc vài ngày,
nhờ vậy ngân hàng có khả năng nhanh chóng thu hồi vốn hặc cho vay với
khoản vay mới với lãi suất cao hơn nếu lãi suất thị trường trở nên căng thẳng.
Một hình thức tín dụng ngân hàng khách thuộc lãi này là tổ chức cho vay
đối với các tỏ chức đầu tư, hỗ trợ cho hoạt động bảo lãnh và phát hành trái
phiếu, cổ phiếu công ty và giấy nợ của chính phủ. Việc bảo lãnh phát hành
chứng khoán thường diến ra khi ngan hàng tiến hành vào ki ngân hàng giúp
đỡ công ty tiến hành mua công ty, khi công ty phát hành chứng khoán, phát
hành thêm cổ phiếu để tăng quy mô vốn kinh doanh của doanh nghiệp thực
hiện đầu tư kinh doanh mới. khi ngân hàng bán chứng khoán mới cho các nhà
đầu tư chứng khoán mới trên thị trường thì các khoản vay cũng đựơc hòan trả.
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
11
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Cho vay kinh doanh bán lẻ : các ngân hàng hỗ trợ người tiêu dùng trong
việc cho vay trả góp xe máy trong đó đồ dùng gia đình nôi thất và các hàng
hóa lâu bền khác bằng cách tài trợ cho các khoản thu mà người bán những
hàng hóa này sẽ được thanh toán sau khi họ ký hợp đồng bán hàng trả góp.
Hợp đồng trả góp sẽ được ngân hàng của người bán lẻ xem xét. Nếu đáp ứng
được các yêu cầu tín dụng ngân hàng sẽ mua những hợp đồng này với một
mức lãi suất hợp lý thay đổi tùy theo chất lượng tín dụng của người vay vốn,
chất lượng của vật thấp chấp và thời hạn của mỗi khoản cho vay.
Đối với những khoản cho vay mô tô , ti vi, đồ nội thất và các hàng hóa
lâu bên khác ngân hàng có thể đồng ý tài trợ thông qua việc xác nhận tài trợ
toàn bộ dự trữ hàng tồn kho thông qua việc xây dựng kế hoặch sàn.ngân hàng
có thể đồng ý cấp tín dụng cho người bán lẻ để người bán lẻ nhận hàng của
Do đó các khoản vay kỳ hạn sẽ được thanh toán thành nhiều lần trên cơ
sở dòng thu nhập của hãng. Nhìn chung kế hoặch kinh doanh thanh toán được
xây dựng phù hợp với chu trình lưu chuyển tiền tệ của hãng. Tuy nhiên vẫn
tồn tại những điểm mù mà tại đó hãng thiếu tiền mặt thanh toán. Một số thỏa
thuận không yêu cầu khách hàng trả tiền gốc trước đến khi hết hạn.
Thông thường các khoản vay được đảm bảo bẳng tài sản cố định thuộc
sở hữu của người vay có thể chịu lãi suất cố định hoặc thả nổi. do rủi ro lãi
suất lớn, lãi suất trong trường hợp này được cao hơn mức áp dụng với các
khoản vay ngăn hạn. Khả năng mất khả năng thanh toán hoặc khả năng xảy ra
những bất lợi trong hoạt động kinh doanh của người vay rõ ràng là cao hơn.
Vì lý do này cán bộ tín dụng và những nhà phân tích tín dụng phải chý ý đến
một số yếu tố khác nhau trong đơn xin cho vay vốn dài hạn.
Cho vay luân chuyển : một khoản vay luân chuyển cho phép khách hàng
có thể vay tới một mức tối đa xác định trước, hoàn trả toàn bộ hoặc một phần
khoản cho vay và tiếp tục như vây cho đến khi đến hết hạn.
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
13
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Là một trong những khoản cho vay kinh doanh linh hoạt nhất yêu cầu
tín dụng linh họat được ngân hàng chấp nhận mà không đòi hỏi bảo đảm bằng
bất cứ bằng tài sản đảm bảo nào. Có khoản cho vay như vậy có thể là ngắn
hạn hoặc kéo dài ba hoặc bốn năm. Loại hình tín dụng này khi khách hàng
không chắc chắn về thời gian của các luồng tiền mặt hoặc về quy mô của việc
vay vốn trong tương lai. Tín dụng luân chuyển giúp hãng có giảm biến động
trong quá trình kinh doanh khi mà doanh số bán hàng giảm cho phép hoàn trả
khi nguồn thu của tín dụng tăng lên. Ở nơi mà pháp luật quy định về việc
ngân hàng phải chấp nhận mọi yêu cầu cho vay vốn tron giới hạn của hạn
mức tín dụng thì ngân hàng thường tính phí cam kết trên phần tín dụng không
sử dụng hoặc trên toàn bộ giá trị hợp đồng cho cam kết.
Cam kết vay vốn thường có ba loại loại phổ biến là cam kết vay vốn
Các khoản cho vay dự án có thể được chấp nhận dựa trên cơ sở bảo lãnh
theo đó người cho vay có thể không phục vốn từ những tổ chức thực hiện bảo
lãnh nếu dự án không trả được nợ đúng theo kế hoạch đã định. Tuy nhiên
khảo vay cũng có thể được cung cấp không dự trên cơ sở bảo lãnh, không có
người đứng bảo đảm; dự án tồn tại hay sụp đổ dựa trên giá trị của nó. Trong
trường hợp này người cho vay phải đối mặt với những rủi ro rất lớn và họ sẽ
yêu cầu một mức lãi suất cao hơn những khoản cho vay có tài sản đảm bảo.
Đối với khoản vay như vậy ngân hàng thường đòi hỏi tổ chức tài trợ dự án
phải thế chấp tài sản cho đến khi hoàn tất.
1.2 Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm và sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng
tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng. Để phản ánh về chất lượng tín
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
15
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
dụng, có rất nhiều chỉ tiêu, nhưng nói chung người ta thường quan tâm: tỷ lệ
nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ và cơ cấu tài sản đảm bảo. Ngoài ra, để đánh giá
định tính về chất lượng tín dụng, người ta còn quan tâm đến: Cơ cấu dư nợ
các khoản vay ngắn - dài hạn trong tương quan cơ cấu nguồn vốn của tổ chức
tín dụng, dư nợ cho vay các lĩnh vực rủi ro cao tại thời điểm đó: bất động sản,
cổ phiếu
Tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng đồng
thời cũng mang lại rủi ro lớn nhất cho hoạt động của NHTM. Để hạn chế rủi
ro, giảm bớt thiệt hại ,nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh các NHTM
thường đăt ra yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
Dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ,
thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh
doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,… và ngân hàng thu chênh
lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Trong xu hướng phát
nền kinh tế
Nêu lên các chỉ tiêu như vậy để định hướng các giải pháp để đưa ra các
chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng.từ đó để đưa ra các biện pháp đảm bảo
chất lượng và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng cung cấp
cho khách hàng.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
1.2.2.1. Nhóm chỉ tiêu định tính
Đây là các chỉ tiêu phản ánh sự thoả mãn sự hài lòng của khách hàng.
Dịch vụ ngân hàng do ngân hàng cung ứng là để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng.
Đồng thời đây là các chỉ tiêu phản ánh sự tiện lợi hay hoàn thiện của các
sản phẩm tín dụng của ngân hàng
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
17
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Đối với khách hàng, chất lượng tín dụng được thể hiện qua các chỉ tiêu
- Quy trình thủ tục: quy trình thủ tục phản ánh sự thuận tiện của dịch
vụ đối với khách hàng. Các doanh nghiệp có nhu cầu đều có thể tiếp
cận với nguồn tín dụng này với nhiều hình thức vay vốn để lựa chọn,
chi phí vốn hợp lý, thủ tục vay vốn nhanh chóng thuận tiện, được tư
vấn, hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo và chuyên nghiệp là biểu hiện của
một quy trình thủ tục hoàn hảo để tiếp cận khách hàng.
- Khả năng đáp ứng các nhu cầu vay vốn đa dạng như khách hàng có
thể dễ dàng vay vốn để đầu tư mua sắm, xây dựng các TSCĐ mới;
đầu tư sửa chữa, hoán đổi, nâng cấp các TSCĐ hiện có; thực hiện các
hình thức thanh toán trong nước và quốc tế liên quan đến các hoạt
động trên và các nhu cầu cần thiết khác hoặc khách hàng có thể dễ
dàng vay vốn để bổ xung vốn lưu động nhằm phục vụ cho các hoạt
động: mua hàng hoá, nguyên vật liệu, phụ liệu, nhiên liệu, linh
kiện…; thanh toán các khoản chi phí như tiền thuế, tiền điện, tiền
khác cũng đóng vai trò quan trọng khác như dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ,
mở tài khoản
- Khả năng đảm bảo mục tiêu và tính an toàn cũng như khả năng thẩm
định dự án chính xác : Hoạt động tín dụng của ngân hàng phải đảm bảo mục
tiêu định hướng của ngân hàng trong ngắn hạn cũa như dài hạn bên cạnh đó
cũng đáp ứng khả năng hoàn trả đúng hạn gốc và lãi của người vay. Ngoài ra
khả năng thẩm định dự án cũng là một tiêu chí quan trọng, khả năng thẩm
định không chỉ giúp ngân hàng hoạt động kinh doanh được an toàn mà còn
giúp cho doanh nghiệp chọn lọc dự án kinh doanh có hiệu quả.
1.2.2.2. Nhóm chỉ tiêu định lượng
Nhóm các chỉ tiêu định lượng là bao gồm một hệ thống các chỉ tiêu được
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
19
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
uớc lượng cụ thể. Các chỉ tiêu này được phân thành hai loại là nhóm các chỉ
tiêu đảm bảo tính an toàn của hoạt động tín dụng và nhóm các chỉ tiêu phản
ánh họat động tính sinh lời của hoạt động tín dụng.
- Tỷ lệ nợ quá hạn : “Nợ quá hạn" là khoản nợ mà một phần hoặc toàn
bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Nợ quá hạn được phân chia như sau:
Nợ quá hạn có tài sản đảm bảo: Là khoản nợ khi cho vay người đi vay là
doanh nghiệp phải thế chấp tài sản cho ngân hàng, theo pháp luật, ngân hàng
có quyền phát mãi tài sản để thu nợ, do vậy, nợ quá hạn này tuy chưa thu
được nhưng ngân hàng thương mại vẫn có khả năng thu hồi của doanh nghiệp
tốt thì cũng có khả năng thu hồi nợ.
Nợ quá hạn không có tài sản đảm bảo: Là khoản nợ khi cho vay, ngân
hàng không yêu cầu người vay phải thế chấp tài sản. Loại nợ này, con nợ là
doanh nghiệp vay vốn vẫn tồn tại, vẫn hoạt động kinh doanh nếu tình hình tài
chính
Nợ quá hạn là nợ khó đòi (hay còn gọi là nợ xấu): Loại nợ này xảy ra và
tồn đọng ở những doanh nghiệp vay vốn có tình hình hoạt động sản xuất kinh
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu
lại. Ngoài ra trong trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một khoản nợ
với tổ chức tín dụng mà có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro
cao hơn thì tổ chức tín dụng bắt buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của
khách hàng đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro.
Trường hợp các khoản nợ (kể cả các khoản nợ trong hạn và các khoản nợ cơ
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
21
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại) mà tổ chức tín
dụng có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm
thì tổ chức tín dụng chủ động tự quyết định phân loại các khoản nợ đó vào các
nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 90
đến 180 ngày;Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn đã cơ cấu lại;
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360
ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180
ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại;
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:Các khoản nợ quá hạn trên
360 ngày. Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý. Các khoản nợ đã cơ
cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại;
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ : Nợ xấu" (NPL) là các khoản nợ : Các
khoản nợ quá hạn trên 90 ;Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn
đang trong thời gian quá hạn của ky hạn được cơ câu lại; Tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng.
Nếu tỷ lệ nợ xấu quá cao thì chứng tỏ ngân hàng hoạt đọng kém hiệu
quả và ngược lại . Một khi khách hàng không thực hiện đúng hợp đồng tín
dụng, để xuất hiện nợ quá hạn có nghĩa là chất lượng khoản tín dụng đó có
vấn đề, xảy ra nguy cơ có khả năng mất vốn . Tỷ lệ nợ xấu phụ thuộc vào
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A
23
B¶n th¶o chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện hoặc
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. dự phòng rủi ro
được hạch toán theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ
chức tín dụng .
Theo đó thì dự phòng được chia làm hai loại :
Dự phòng chung : Là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn
thất chưa xác định trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể
Tổ chức tín dụng thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng
0,75 % tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 sau đây:
Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể, phá sản theo quy định
của pháp luật; cá nhân bị chết hoặc mất tích.
Các khoản nợ thuộc nhóm 5. Riêng các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ
xử lý, tổ chức tín dụng được sử dụng dự phòng (nếu có) để xử lý rủi ro tín
dụng
Dự phòng cụ thể : Là khoản tiền được trích lập trên cơ sở đã phân loại cụ
thể các khoản nợ quy định tại điều 6 để dự phòng cho những tổn thất có thể
xảy ra. Số tiền dự phòng cụ thể phải trích được tính theo công thức sau:
R = max {0, (A - C)} x r
Trong đó: R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: giá trị của khoản nợ.
C: giá trị của tài sản bảo đảm
r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
Giá trị của tài sản bảo đảm (C) được xác định trên cơ sở tích số giữa tỷ lệ
áp dụng được quy định : Giá trị thị trường của vàng; Mệnh giá của trái phiếu
Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, và các loại giấy tờ có giá của các tổ chức tín
dụng; Giá trị thị trường của chứng khoán của doanh nghiệp và của tổ chức tín
Nguyễn Văn Đức Ngân hàng 47A