LUẬN VĂN: Phân tích bản chất chủ nghĩa tư bản hiện đại - tư bản độc quyền - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Phân tích bản chất chủ nghĩa tư bản
hiện đại - tư bản độc quyền.
mở rộng qui mô sản xuất.
Từ những quá trình trên đã đẩy nhanh tích tụ tập trung sản xuất, chỉ còn lại một số
những xí nghiệp qui mô lớn và những xí nghiệp có qui mô lớn có khuynh hướng thoả
thuận với nhau về qui mô sản xuất, về giá cả sản xuất dẫn đến ra đời của độc quyền và
tổ chức độc quyền.
Tổ chức độc quyền là những xí nghiệp hoặc liên hiệp xí nghiệp qui mô lớn nắm
trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ 1 hoặc một số loại mặt hàng. Chúng có thể
qui định được giá cả độc quyền đển thu lợi nhuận độc quyền cao.
Bản chất của tư bản độc quyền: đó là sự thống trị về kinh tế và chính trị của độc
quyền
Hình thức của độc quyền: Các ten, Sanh đi ca, Tờ rớt
b. CNTB Độc quyền Nhà nước:
Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 đầu thế
kỷ 20 ở các nước kinh tế phát triển Tây Âu như: Đức, ý và chủ nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước phát triển nhanh chóng trở thành phổ biến từ sau đại chiến thế giới thứ 2.
Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước:
- Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước nó không phải là một giai đoạn lịch sử mà là một
hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện lực lượng
sản xuất xã hội hoá cao.
- Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước đó là sự kết hợp giữa tổ chức độc quyền và Nhà
nước tư sản thành một tổ chức thống nhất trong đó Nhà nước phụ thuộc vào các tổ chức
độc quyền, phục vụ lợi ích cho tổ chức độc quyền.
- Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế chính trị mà
được biểu hiện ở hệ thống đường lối chính sách: Chính sách kinh tế đối nội , đối ngoại
phục vụ cho độc quyền.
- Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất
trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản, đó có thể làm dịu đi mâu thuẫn của Chủ nghĩa tư

càng xã hội hoá với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn này phát triển
gay gắt nó đòi hỏi phải có một hình thức mới của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phù
với trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất, mà ngay cả sở hữu tập thể của độc quyền
tư nhân cũng không còn phù hợp nữa mà cần phải có hình thức sở hữu cao hơn là Nhà
nước tư bản. Và các mâu thuẫn khác của Chủ nghĩa tư bản ngày càng quyết liệt như là
mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản, mâu thuẫn giữa các nước đã phát triển
với các nước đang phát triển. Từ các mâu thuẫn trên dẫn đến buộc tổ chức độc quyền
nắm lấy bộ máy Nhà nước đển phục vụ lợi ich cho chúng và phải tiến hành những điều
chỉnh để có thể tồn tại.
 Loài người đã và đang ở vào thời kỳ sôi động của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ. Cuộc cách mạng này là một quá trình đột biến diễn ra dưới tác động nhảy vọt có
tính dây chuyền trong tất cả các yếu tố của lực lượng sản xuất. Cách mạng khoa học và
công nghệ đang làm biến đổi có tính căn bản toàn bộ nền sản xuất xã hội dựa trên bốn
ngành trụ cột:
o Công nghệ sinh học: giải mã 3,3 tỷ mã di truyền đề hoàn thành bản đồ gen con
người, nhân bản vô tính, kết hợp sinh học và tin học tạo ra ngành liên kết sinh-
tin học.
o Công nghệ vật liệu với thành công lớn trong việc tạo ra các dạng vật liệu có
các tính năng vượt trội những tính năng sẵn có trong vật liệu tự nhiên như:
gốm công nghiệp, siêu dẫn Nano
o Công nghệ năng lượng: với những tiến bộ to lớn tỏng lĩnh vực an toàn để sử
dụng có hiệu quả năng lượng nguyên tử, năng lượng nhẹ, năng lượng sạch lấy
từ mặt trời và các sản phẩm sinh học
o Công nghệ thông tin: với sự bùng nổ nhanh chóng trong côngnghệ người máy,
vi tính, internet tạo điều kiện vật chất để chuyển nền sản xuất công nghiệp
sang kinh tế tri thức.
Sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ làm xuất hiện

nghiệp vụ cao. Cơ cấu lao động có sự thay đổi theo chiều hướng tiến bộ. Lao động dịch
vụ tập trung 70-75%, đồng thời đội ngũ chuyên gia có tay nghề cao tập trung chủ yếu ở
khu vực này. Với nền sản xuát dần từng bước chuyển sang nền “sản xuất trí thức”, vai trò
nguồn nhân lực càng trở nên quan trọng. Để nâng cao trình độ khoa học, đào tạo đội ngũ
lao động lành nghê, các nước tư bản đã tăng cường đầu tư vào việc nghien cứu và triển
khai, thực hiện hợp tác quốc tế trong những chương trình nghiên cứu các đề tài mang tính
chiến lược, thực hiện cải cách giáo dục Nhờ vậy chủ nghĩa tư bản đã đạt được những
thành tựu to lớn trong lĩnh vực này.
Do sự đầu tư vào con người để làm tăng các yếu tố tái sản xuất sức lao động cả về
vật chất lẫn tinh thần nhằm khơi dậy sự sáng tạo, phục vụ quá trình tái sản xuất tư bản
chủ nghĩa trong điều kiện mới một cách tốt hơn nên tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng, GDP
bình quân trên đầu người cao, tuổi thọ bình quân và tỷ lệ người biết chữ tăng biểu hiện
qua chỉ số HDI (chỉ số HDI của Nhật Bản: 0,98, Canađa: 0,989).
Cùng với việc nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động các nước tư bản đã
quan tâm đến các yếu tố cấu thành giá trị sức lao động, thực hiện nâng cao chất lượng
cuộc sống như thông qua sự điều tiết kinh tế, can thiệp vào các điều kiện ăn, ở, sinh hoạt,
đi lại, giải trí, thực hiện các chính sách xã hội: việc làm, bảo hiểm, trợ cấp thất nghiệp, trợ
cấp gia đình đông con, chăm sóc y tế,
Có thể nói trong điều kiện hiện nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã tăng cường điều tiết
quá trình phân phối và phân phối lại. Vì vậy mặc dù về cơ bản người lao động vẫn chỉ
nhận được phần V, còn nhà tư bản hưởng m, song do quá trình điều tiết của nhà nước nên
một phần nhỏ m cũng thuộc về người lao động dưới hình thức quỹ phúc lợi xã hội và
hưởng thụ thông qua việc tiêu dùng các giá trị sử dụng của công trình do quỹ phúc lợi xã
hội mang lại.
 Tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất truyền thống được thay thế bằng các tư liệu sản xuất hiện đại dựa
trên cơ sở những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ qua những thiết

Mỹ khoảng 35-40 triệu người là cổ đông. Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng sở hữu của các
nhà tư bản vẫn giữ vị trí trọng yếu, còn sở hữu cổ phiếu của người lao động chỉ chiếm
một tỷ lệ nhỏ không đáng kể và được chủ nghĩa tư bản sử dụng như một công cụ trong
quản lý để thu hút sự quan tâm của người lao động vào quá trình sản xuất.
Ngoài hình thức cổ đông hoá một cách rộng rãi trong tầng lớp dân cư, hiện nay đã
bước đầu xuất hiện loại hình xí nghiệp do công nhân tự quản. Song điều này không có
nghĩa là các nhà tư bản tự nguyện chuyển quyền sở hữu cho người lao động và càng
không có nghĩa là “cuộc cách mạng trong sở hữu tư liệu sản xuất” ở thời đại ngày nay sẽ
diễn ra theo cách tiến hoá như một số người đã cố tình nhầm lẫn.
Trong chủ nghĩa tư bản ngày nay, sở hữu không chỉ giới hạn trong việc sở hữu tư
liệu sản xuất (tức là sở hữu hiện vật) mà chủ yếu là sở hữu về mặt giá trị (vốn) dưới nhiều
hình thức như vốn tự có, vốn cổ phần, vốn cho vay. Nếu như thời kỳ đầu trong quá trình
phát triển của chủ nghĩa tư bản, quyền sở hữu, quyền sử dụng quản lý gắn làm một trong
một chủ sở hữu và khi xuất hiện tư bản cho vay đã làm hai quyền đó tách rời thì trong
chủ nghĩa tư bản hiện đại sự tách rời đó càng được đẩy mạnh và lao động quản lý đã trở
thành một nghề.
Ngoài ra còn xuất hiện hình thức sở hữu khác như sở hữu trí tue, sở hữu các công
trình khoa học, bằng phát minh sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thông tin.
Sự biến đổi của hình thức sở hữu trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa là một
đặc trưng rất cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày nay, bởi vì sở hữu là quan hệ xã hội của
nền sản xuất, là tổng thể các quan hệ kinh tế và theo đó là tổng thể các quyền sử dụng,
chi phối, quảnlý, định đoạt gắn liền với nó trong một xã hội nhất định. Nó cũng chính là
sự thống nhất biện chứng giữa điều kiện cần phải có của cải sản xuất với mặt kế quả thực
tế trong quá tình tái sản xuất. Việc biến đổi về hình thức quan hệ sở hữu nêu trên là sự
biến đổi dưới tác động của quy luật về sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất. Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, sự hỗ hợp hoá và quốc tế hoá theo kiểu tư
bản là một sự đáp ứng đòi hỏi ấy. Đó chính là quá trình kinh tế mang tính khách quan

cấu theo tư duy năng động. Một cơ cấu kinh tế thích hợp phải đáp ứng nhiều yêu cầu,
trong đó yêu cầu khai thác được tiềm năng trong nước và quốc tế để phát triển kinh tế là
mục tiêu bao quát nhất.
d. Điều chỉnh trong quan hệ kinh tế quốc tế:
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, thương mại quốc tế có một số đặc điểm sau:
- Tự do hoá thương mại trở thành một xu hướng cơ bản nhất là trong những thập kỷ
gần đây.
- Thương mại quốc tế phát triển cả bề rộng và bề sâu biểu hiện ở chỗ tốc độ thương
mại quốc tế tăng nhanh hơn tốc độ phát triển sản xuất. Năm 2000 tốc độ thương
mại toàn cầu tăng 10%, trong đó xuất khẩu tăng 8,8-10,1%, nhập khẩu tăng 10-
12%.
- Phương thức trao đổi ngày càng hiện đại hoá. Thương mại điện tử tăng nhanh và
có vai trò ngày càng lớn.
- Vai trò của các công ty xuyên quốc gia ngày càng lớn, chiếm 60% buôn bán quốc
tế (trong đó giao dịch nội bộ chiếm 40% trao đổi của công ty)
- Chiến tranh kinh tế giữa các trung tâm Mỹ, Nhật, Tây Âu và đặc biệt là sự cạnh
tranh giữa các khu vực thuộc nhóm nước đang phát triển ngày càng tăng vì các
nước này đều tăng cường mở cửa, tỷ lệ xuất khẩu trong tổng sản phẩm xã hội của
quốc gia và khu vực đều tăng.
4. Xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản hiện đại
Khi phân tích sự vận động của chủ nghĩa tư bản, Lênin đã chỉ ra rằng chủ nghĩa tư
bản đến giai đoạn độc quyền, nền kinh tế của nó vận động theo hai xu hướng: sự phát
triển nhanh chóng song song với trì trệ thối nát. Ngày nay, hai xu hướng đó vẫn tác động
trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Xu thế phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản
biểu hiện rõ rệt trong giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, đặc biệt là
vào những năm 1950 và 1960 của thế kỷ XX với tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế,
năng suất, chất lượng, hiệu quả tăng rõ rệt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status