Luận văn: “Phân Tích Các
Hình Thức Trả Lương Tại Công Ty Cơ Khí An Giang” Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
từ hình thức bóc lột, mua bán hàng hóa sang hình th
ức quan hệ hợp tác song
phương, đôi bên cùng có lợi hay không và bản chất tiền lương là gì, hiện vẫn
còn là những vấn đề đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu phát triển.
Ở Việt nam, hiện nay có sự phân biệt giữa các yếu tố trong tổng thu
nhập của người lao động từ công việc: tiền lương (dụng ý chỉ lương cơ bản),
phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợ
i.Theo quan điểm của cải cách tiền lương năm
1993, “tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua thỏa thuận giữa
người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức
lao động trong nền kinh tế thị trường”,”Tiền lương của người lao động do hai
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -1 -
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động,
chất lượng và hiệu quả công việc”.
Kế toán phản ảnh trung thực, khách quan, cụ thể việc trả lương tại một
doanh nghiệp. Thông qua số liệu kế toán chúng ta có thể biết được doanh
nghiệp trả lương cho người công nhân theo hình thức nào, những điểm mạnh
và điểm yếu của hình thức trả
lương đó và tại sao họ áp dụng hình thức đó.
Trong thực tế có nhiều phương pháp để nâng cao kết quả hoạt động ở một
doanh nghiệp, trong đó việc cải tiến hình thức trả lương cho nhân viên là một
trong những vấn đề hàng đầu mà ban giám đốc cần quan tâm. Trước đây lương
cơ bản là 140000 đồng/ người/ tháng ( áp dụng năm 1997 ), rồi tăng lên
180000 đồng/ người/ tháng ( áp dụng nă
m 2000) , 210000 đồng/ người/ tháng
( áp dụng năm 2001 ), 290000 đồng / người/ tháng ( áp dụng năm 2003 ), hiện
nay chính phủ đang cân đối ngân sách để nâng lương cơ bản lên 400000 đồng/
• Tác động của hình thức trả lương đó đối với người lao động, đối với
doanh nghiệp, đối với nhà nước.
Khi nghiên cứu đề tài này sẽ giúp tôi hiểu thực tế việc trả lương tại
công ty như thế nào. Từ đó tôi có những kiến nghị đối với hình thức trả lương
tại công ty và mong cùng công ty hoàn thiện các hình thức trả lương tại công
ty.
III. Phương pháp nghiên cứu:
V
ới các mục tiêu trên đề tài được phân tích và phát triển dựa trên các
phương pháp nghiên cứu sau:
• Phân tích số liệu thứ cấp của công ty : Bảng báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh, kế hoạch tài chính doanh nghiệp, sổ lương của doanh
nghiệp, bảng cân đối tiền lương các tháng trong năm, các thông tin trên báo
chí, tạp chí kinh tế, các sách giáo khoa.
• Ngoài ra, còn tham khảo ý kiến của một số cán bộ liên quan đến đề
tài trong công ty cũng như quý thầy cô trong khoa kinh tế-quản tr
ị kinh doanh
trường đại học An Giang.
IV.Phạm vi giới hạn:
Do giới hạn về thời gian nên đề tài tập trung nghiên cứu về hình thức
trả lương tại văn phòng Công Ty Cơ Khí tỉnh An Giang năm 2003 , các số liệu
thu thập từ phòng kế toán, phòng điều phối, phòng nhân sự của công ty.
người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá
trình sản xuất nhằm tái sả
n xuất sức lao động.
2.Nhiệm vụ kế toán tiền lương:
Để thực hiện chức năng của kế toán trong việc điều hành quản lý hoạt
động của doanh nghiệp, kế toán tiền lương cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
• Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp một cách trung thực, kịp thời,
đầy đủ, tình hình hiện có và sự biến động về
số lượng và chất lượng lao động,
tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động.
• Tính toán chính xác, kịp thời, đúng chính sách, chế độ các khoản tiền
lương và các khoản liên quan khác cho người lao động trong doanh nghiệp,
kiểm tra tình hình huy động lao động và sử dụng lao động. Phản ánh kịp thời
đầy đủ, chính xác tình hình thanh toán các khoản trên cho người lao động.
• Thực hiện việc kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, tình
hình ch
ấp hành các chính sách, chế độ về lao động tiền lương
• Tính toán và phân bổ chính xác, đúng đối tượng các khoản tiền lương
và các khoản liên quan khác vào chi phí sản xuất kinh doanh
• Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong đơn vị thực hiện đầy đủ, đúng
đắn chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương. Mở sổ kế toán và hạch
toán lao động, tiền lương
• Lập các báo cáo về lao độ
ng, tiền lương và các báo cáo khác thuộc
phạm vi trách nhiệm của kế toán. Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -4 -
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
động đề xuất các biện pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động,
Khi trả lương cho công nhân cần chú ý các vấn đề sau:
Mỗi ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân có tính chất phức tạp về
kỹ thuật khác nhau. Do đó đối với những người lao động làng nghề làm việc
trong các ngành có yêu cầu kỹ thuật phức tạp phải trả lương cao hơn những
người lao động làm việc trong những ngành không có yêu cầu kỹ thuật cao.
Tiền lương bình quân giữa các ngành có điều kiện lao động khác nhau
cần có sự chênh lệch khác nhau.Công nhân làm vi
ệc trong điều kiện nặng nhọc
có hại đến sức khỏe phải được trả lương cao hơn những người làm việc trong
điều kiện bình thường.
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -5 -
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
Những ngành chủ đạo có tính chất quyết định sự phát triển của nền kinh
tế quốc dân thì cần được đãi ngộ mức tiền lương cao hơn nhiều nhằm khuyến
khích công nhân yên tâm phấn khởi làm việc lâu dài ở những ngành nghề đó,
sự khuyến khích này cũng phải phù hợp với yêu cầucủa việc phân phối sức lao
động một cách có kế hoạch trong thời kỳ phát triển kinh tế
.
Đối với những cơ sở sản xuất ở những vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện
khí hậu xáu, sinh hoạt đắt đỏ, đời sống gặp khó khăn, nhân lực thiếu,…Cần
được đãi ngộ tiền lương cao hơn hoặc thêm những khoản phụ cấp thì mới thu
hút được công nhân đến làm việc
Khuyến khích bằng lợi ích vật chất kết hợp với giáo dục t
ư tưởng cho
người lao động.
2.Xác định quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền
lương:
Quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương theo công thức:
nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ tổng hợp
+ Đơn giá tiền lương tính trên tổng doanh thu trừ tổng chi phí:
Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh
được chọn là tổng doanh thu trừ tổng chi không có lương, th
ường áp dụng đối
với các doanh nghiệp quản lý được tổng thu, tổng chi một cách chặt chẽ trên
cơ sở các định mức chi phí
+ Đơn giá tiền lương tính trên lợi nhuận:
Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh
được chọn là lợi nhuận, thường áp dụng đối với doanh nghiệp quản lý được
tổng thu, tổng chi và xác định lợi nhuận kế hoạ
ch sát với thực tế thực hiện
Z V kh
V đg =
Z P kh
Trong đó:
Vđg: đơn giá tiền lương ( đồng/1000đồng )
Z V kh: tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch
Z P kh: lợi nhuận kế hoạch
* Tổng quỹ lương chung năm kế hoạch:
V c = V kh + V pc + V bs + V tg
Trong đó:
Vc: tổng quỹ lương chung năm kế hoạch
Vkh: tổng quỹ lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương
Vpc: quỹ các khoản phụ cấ
p lương kế hoạch và các chế độ khác
( nếu có ) không được tính trong đơn giá tiền lương theo quy định
Vbs: quỹ tiền lương bổ sung theo kế hoạch chỉ áp dụng đối với doanh
nghiệp được giao đơn giá tiền lương theo đơn vị sản phẩm
Vtg: quỹ tiền lương làm thêm giờ được tính theo kế hoạch, không vượt
toàn diện và vượt mức kế hoạch nhà nước. Vì hình thức lương sản phẩm căn
cứ trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm của mỗi người sản xuất ra để
tính lương nên nó có tác dụng khuyế
n khích người công nhân tích cực sản
xuất, tận dụng thời gian làm việc tăng năng suất lao động. Hơn nữa chỉ những
sản phẩm tốt mới được trả lương cao nên người công nhân nào cũng cố gắng
sản xuất đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt. Như vậy năng suất lao động tăng,
chất lượng sản phẩm bảo đảm thì giá thành s
ản phẩm sẽ hạ.
- Khuyến khích người công nhân quan tâm đến việc nâng cao
trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, khoa học kĩ thuật hợp lý hóa sản xuất
và lao động. Tích cực sáng tạo và áp dụng các phương pháp sản xuất tiên tiến.
Khi thực hiện trả lương theo sản phẩm, công nhân phải phấn đấu để thường
xuyên đạt và vượt mức các định mức lao động đề ra do đó họ không đơn thuần
dự
a vào sự lao động hết sức mình, tận dụng thời gian làm việc mà phải cố
gắng học tập để không ngừng nâng cao trình độ văn hóa khoa học kỹ thuật thì
mới có thể dễ dàng tiếp thu, nắm vững và áp dụng các phương pháp sản xuất
tiên tiến. Hơn nữa họ còn phải biết tìm tòi suy nghĩ để phát huy sáng kiến,cải
tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất. Có như vậy thì s
ản phẩm làm ra sẽ tăng và
sức lao động sẽ giảm xuống. Đẩy mạnh việc cải tiến, tổ chức quá trình sản
xuất, thúc đẩy việc thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế. Khi áp dụng chế độ
tiền lương tính theo sản phẩm đòi hỏi có sự chuẩn bị sản xuất nhất định. Phải
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -8 -
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
củng cố kiện toàn tổ chức sản xuất, kỹ thuật sản xuất, tổ chức lao động đảm
bảo cho quá trình sản xuất được cân đối hợp lý. Trong quá trình thực hiện do
Qua những tác dụng kể trên ta thấy chế độ trả lương theo sản phẩm có
ý nghĩa kinh tế, chính trị quan trọng. Nó động viên mạnh mẽ mọi người tích
cực sản xuất với chất lượng tốt và năng suất cao. Vừa tăng thu nhập cho cá
nhân người lao động vừa làm tăng hơn sản phẩm cho xã hội góp phần thay đổi
nền kinh tế cả nước.
3.2. Điều kiện và hình thức trả lương theo sản phẩm:
Muốn tổ chức trả lương theo sản phẩm xí nghiệp chuẩn bị các điều
kiện sau đây:
3.2.1. Công tác chuẩn bị sản xuất:
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -9 -
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
- Chuẩn bị về nhân lực: khi tổ chức trả lương theo sản phẩm, việc
chuẩn bị về nhân lực là vấn đề cần thiết vì con người là yếu tố quan trọng
trong quá trình sản xuất. Con người có quán triệt ý nghĩa tác dụng cúa chế độ
lương sản phẩm thì mới đề cao tinh thần trách nhiệm, tích cực và quyết tâm
tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hi
ện chế độ lương sản phẩm. Để chuẩn bị
tốt yếu tố con người cần phê phán các tư tưởng rụt rè, cầu toàn, khuynh hướng
làm bừa, làm ẩu. Thiếu chuẩn bị điều kiện cần thiết, thiếu chỉ đạo chặt chẽ gây
hoang mang dao động trong công nhân. Phải giải thích giáo dục cho công
nhân hiểu rõ mục đích ý nghĩa của chế độ lương sản phẩm và cho họ
thấy mục
tiêu phấn đấu của họ về sản lượng và năng suất lao động, chát lượng sản
phẩm, chi phí sản xuất. Ngoài ra còn phải bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho
các cán bộ lao động tiền lương, cán bộ kỹ thuật, kiểm tra chất lượng sản
phẩm,…
- Chuẩn bị về kế hoạch sản xuất: kế hoạch sản xuất phải rõ ràng cụ
th
bình tiên tiến_do đó phải xây dựng định mức từ tình hình thực tế sản xuất ở xí
nghiệp đã được chấn chỉnh. Các mức lao động đang áp dụng ( nếu có )
phải kiểm tra lại để kịp thời sửa đổi những mức bất hợp lí không sát thực tế
sản xuất.
3.2.3. Công tác ki
ểm tra nghiệm thu sản phẩm:
Yêu cầu của chế độ lương sản phẩm là đảm bảo thu nhập tiền lương
theo đúng số lượng sản phẩm đã hoàn thành theo xác nhận của K.C.S do đó
cần phải kiểm tra nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ nhằm đảm bảo sản xuất
những sản phẩm có chất lượng tốt, tránh khuynh hướng chạy theo sản lượng
để
tăng thu nhập, làm ra những sản phẩm sai hỏng, không đúng quy cách và
yêu cầu kỹ thuật đồng thời đảm bảo việc trả lương cho công nhân đúng đắn,
kịp thời.
Hình thức trả lương theo sản phẩm gồm nhiều chế độ trả lương như
sau:
Chế độ trả lương sản phẩm trực tiếp không hạn chế:
Chế độ tiền lương này được trả theo từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết
sản phẩm và theo đơn giá nhất định. Tiền lương của công nhân căn cứ vào số
lượng sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm do họ trực tiếp sản xuất được để trả
lương. Bất kì trường hợp nào công nhân sản xuất hụt mức, đạt mứ
c hoặc vượt
mức bao nhiêu, cứ mỗi đơn vị sản phẩm làm ra đều được trả lương nhất định
gọi là đơn giá sản phẩm. Như vậy tiền lương của công nhân sẽ tăng theo số
lượng sản phẩm sản xuất ra. Nếu sản xuất được nhiều sản phẩm thì được trả
nhiều lương và ngược lại sản xuất được ít s
ản phẩm thì được trả ít lương.
Đơn giá sản phẩm là cơ sở của chế độ tiền lương tính theo sản phẩm trực
tiếp không hạn chế. Khi xác định đơn giá sản phẩm người ta căn cứ vào hai
Khi tính đơn giá sản phẩm ta phải lấy mức lương cấp bậccông việc để
tính chú không lấy mức lương cấp bậc công nhân được giao làm công việc
đó,
vì có những trường hợp lương cấp bậc công nhân cao hoặc thấp hơn cấp bậc
công việc được giao làm cho đơn giá sản phẩm thay đổi, sẽ phá vỡ tính thống
nhất của chế độ tiền lương trả theo sản phẩm và tính hợp lý của quy luật phân
phối theo lao động.
Về định mức lao động, khi tính đơn giá ta phải xác định định mức của
công việc đó là mứ
c thời gian hay mức sản lượng để tính cho chính xác.
Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp ( không hạn chế ) thích
hợp với những loại công việc có thể tiến hành định mức lao động, giao việc và
nghiệm thu từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm riêng rẽ được. Tùy
theo đặc điểm về tổ chức kỹ thuật sản xuất. N
ếu những công việc mà người
công nhân có thể tiến hành sản xuất độc lập thì có thể quy định mức lao động
và tiến hành thống kê nghiệm thu sản phẩm riêng cho từng công nhân và trả
lương sản phẩm trực tiếp cho từng công nhân. Nếu công việc cần nhiều công
nhân phối hợp, cộng tác với nhau mới sản xuất ra một sản phẩm thì có thể tiến
hành trả lương trực tiếp cho nhóm hoặc t
ổ sản xuất đó.
Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm gián tiếp:
Chế độ lương này không áp dụng đối với công nhân trực tiếp sản xuất mà
chỉ áp dụng cho công nhân phục vụ sản xuất. Công việc của họ có ảnh hưởng
trực tiếp đến việc đạt và vượt mức của công nhân chính hưởng lương theo sản
phẩm. Nhiệm vụ và thành tích của họ gắn liền với nhiệm vụ và thành tích của
công nhân đứng máy. tiền lương của công nhân phụ
c vụ được tính căn cứ vào
số lượng sản phẩm của công nhân đứng máy sản xuất ra. Những công nhân
Tiền lương theo sản phẩm gián tiếp cũng được tính cho từng người lao
động hay cho một tập thể người lao động thuộc bộ phận gián tiếp phục vụ sản
xuất hưởng lương phụ thuộc vào kết quả lao động của bộ phận trực tiếp sản
xuất.
Khi thực hiện chế độ ti
ền lương này thường xảy ra hai trường hợp và
cách giải quyết như sau:
• Nếu bản thân công nhân phục vụ có sai lầm làm cho công nhân chính
sản xuất ra sản phẩm hỏng, hàng xấu thì tiền lương của công nhân phục vụ
hưởng theo chế độ trả lương khi làm ra hàng hỏng, hàng xấu_xong vẫn đảm
bảo ít nhất bằng mức lương cấp bậc của người đó.
• Nếu công nhân đứng máy không hoàn thành đị
nh mức sản lượng thì
tiền lương của công nhân phục vụ sẽ không tính theo đơn giá sản phẩm gián
tiếp mà theo lương cấp bậc của họ
Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm gían tiếp có tác dụng làm cho công
nhân phục vụ quan tâm hơn đến việc nâng cao năng suất lao động của công
nhân chính mà họ phục vụ.
Chế độ tiền lương sản phẩm lũy tiến:
Chế độ tiền lương này được tính như sau:
Đối với số sản phẩm được sản xuất ra trong phạm vi định mức khởi điểm
lũy tiến thì được trả theo đơn giá bình thường, còn số sản phẩm sản xuất ra
vượt mức khởi điểm lũy tiến được trả theo đơn giá lũy tiến, nghĩa là có nhiều
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -13 -
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
đơn giá cho những sản phẩmvượt mức khởi điểm lũy tiến. Nếu vượt mức với
tỷ lệ cao thì được tính những sản phẩm vượt mức bằng đơn giá cao hơn.
thưởng tăng thêm cho phần vượt là 20%, vượt từ 11%-20% định mức thì tiền
thưởng tăng thêm cho phần vượt là 40%…vượt từ 50% trở lên thì tiền thưởng
tăng thêm cho phần vượt là 100%…
Tiền lương theo sản phẩm lũy tiến cũng được tính cho từng người lao
động hay tập thể người lao động ở những bộ phận sản xuất cần thiết phải đẩy
mạnh tốc độ sản xuất. Nó khuyến khích người lao động phải luôn phát huy
sáng tạo cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động đảm bảo cho đơn
vị thực hiện kế hoạch sản xuất sản phẩm một cách đồng bộ và toàn diện. Tuy
nhiên, khi áp dụng tính lương theo sản phẩm lũy tiến doanh nghiệp cần chú ý
khi xây dựng tiền thưởng lũy tiến nhằm hạn chế hai trường hợp có thể xảy ra
đó là, người lao động phải tăng cường độ lao động, không bảo đảm sức khỏe
cho lao động sản xuất lâu dài và tốc độ tăng tiền lương lớn hơn tốc độ tăng
năng suất lao động.
Mu
ốn thực hiện chế độ lương này cần phải chuẩn bị những điều kiện sau:
• Định mức lao động có căn cứ kỹ thuật, đây là vấn đề quan trọng vì đơn
giá sản phẩm sẽ tăng lũy tiến theo tỉ lệ vượt mức sản lượng
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -14 -
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
• Phải thống kê xác định rõ chất lượng và số lượng sản phẩm tiền lương
của công nhân, mức lũy tiến, mức hạ thấp giá thành và giá trị tiết kiệm được
• Phải dự kiến được kết quả kinh tế của chế độ lương tính theo sản phẩm
lũy tiến nhằm xác định mức lũy tiến cao nhất của đơn giá sản phẩm. Vì khi
th
ực hiện chế độ tiền lương này lương của công nhân sẽ tăng nhanh hơn sản
lượng làm cho phần tiền lương trong đơn vị sản phẩm cũng tăng lên. Do đó
giá thành sản phẩm cũng tăng theo, bởi vậy khi áp dụng chế độ lương này phải
tính toán kết quả kinh tế, nâng cao năng suất lao động làm hạ giá thành sản
chế độ lao đông để xảy ra hiện tượng công nhân tự ý làm thêm giờ để mau
chóng hoàn thành công việc chung nhưng không ghi vào phiếu giao khoán làm
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -15 -
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
cho việc thống kê phân tích năng suất lao động của công nhân không chính
xác, làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc, ảnh hưởng đến sức khỏe và các
mặt sinh hoạt của công nhân.
Chế độ tiền lương theo sản phẩm có thưởng và chế độ lương khoán có thưởng:
• Chế độ lương khoán sản phẩm có thưởng là chế độ lương khoán kết
hợp với khen thưởng khi công nhân đạt những chỉ tiêu về số lượng, chất lượng
hay thời gian đã quy định. Nhưng nếu vượt được các chỉ tiêu đã quy định về
chất lượng sản phẩm, tiết kiệm được nguyên liệu bảo đảm an toàn hoặc nâng
cao năng suất máy móc, thiết bị,…thì đượ
c thêm tiền thưởng. Khoản tiền
thưởng này chi trả khi công nhân hoàn thành định mức sản lượng.
Thực hiện chế độ lương này phải xác định rõ những chỉ tiêu và điều
kiện thưởng. Tỷ lệ tiền thưởng cũng phải xác định đúng đắn.
• Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm có thưởng là tiền lương tính theo
sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp kết h
ợp với chế độ khen thưởng do doanh
nghiệp quy định như thưởng chất lượng sản phẩm_tăng tỷ lệ chất lượng sản
phẩm chất lượng cao, thưởng tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên
liệu,…
Tiền lương theo sản phẩm có thưởng được tính cho từng người lao động hoặc
cho một tập thể người lao động.
Ví dụ: công ty may S quy định đơ
n giá tiền lương cho 1 sản phẩm là
2000 đồng, nhưng đơn giá có các sản phẩm thứ 11 sẽ là 2.200 đồng.
- Chia lương theo cấp bậc tiền lương và thời gian lao động thực tế của từng
người lao động trong tập thể đó. Các bước tiến hành như sau:
• Xác định hệ số chia lương:
Tổng tiền lương thực tế được lĩnh của tập thể
Hệ số chia
lương
=
Tổ
ng tiền lương theo cấp bậc và thời gian làm việc
của các công nhân trong tập thể
• Tính tiền lương chia cho từng người:
Tiền lương được lĩnh
từng người
=
Tiền lương theo cấp bậc
và thời gian làm việc của
từng người
*
Hệ số chia
lương
- Chia lương theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc thực tế của từng
người lao động kết hợp với việc bình công chấm điểm của từng ngườ
i lao
động trong tập thể đó, các bước tiến hành như sau:
• Xác định tiền lương tính theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc
cho từng người:
Tiền lương theo
người
• Xác định tiền lương được lĩnh của từng người là số tổng cộng phần
lương tính theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc với phần lương được
lĩnh do tăng năng suất lao động.
- Chia lương theo bình công chấm điểm hàng ngày cho từng người lao động
trong tập thể đó.
Tùy thuộc vào tính chất công việc được phân công cho từng người lao
động trong tập thể lao động có phù h
ợp giữa cấp bậc kỹ thuật công nhân với
cấp bậc công việc được giao; lao động giản đơn hay lao động có yêu cầu kỹ
thuật cao… để lựa chọn phương án chia lương cho thích hợp nhằm động viên,
khuyến khích và tạo điều kiện chi người lao động phát huy hết năng lực của
mình.
Trong thực tế, hình thức trả lương này thường áp dụng trong các dây
chuyền lắp ráp, trong ngành xây dựng, s
ửa chữa cơ khí, trong nông nghiệp,…
để kích thích các nhân viên trong nhóm làm việc tích cực, việc phân phối tiền
công giữa các thành viên trong nhóm thường căn cứ vào các yếu tố sau:
• Trình độ của nhân viên (thông qua hệ số mức lương Hs
i
của mỗi người)
• Thời gian thực tế làm việc của mỗi người (Tt
i
)
• Mức độ tham gia tích cực, nhiệt tình của mỗi người vào kết quả thực
hiện công việc của nhóm (Ki)
Như vậy, thời gian làm việc quy chuẩn của công nhân i sẽ được tính theo
công thức:
Tc
i
Wi =
Tổng thời gian chuẩn
Ví dụ: sau khi giám định mức độ hư hỏng của một chiếc máy tiện ,
phân xưởng khoán cho 3 công nhân thực hiện với tổng số tiền thù lao là
60.000đồng. 3 người thợ sửa chữa trong nhóm sẽ được trả lương tương ứng
với các hệ số lương, thời gian làm việc thực tế và mức độ tích cực của mỗi
người như trong bảng 9.1
Bảng 9.1 : trả lươ
ng khoán cho nhóm người lao động
Công
nhân
Hệ số
lương
( Hs )
Tổng thời
gian thực
tế làm việc
( giờ )
Mức độ tíc
h
cực của mỗ
i
người ( Ki )
Thời gian
quy chuẩn
( giờ )
Tiền công
( ngàn )
Tiền lương tính theo thời gian có thể thực hiện tính theo tháng, ngày ho
ặc giờ
làm việc của người lao động tùy thuộc theo yêu cầu và trình độ quản lý thời
gian lao động của doanh nghiệp.
Tiền lương thời gian có thể thực hiện tính theo thời gian giản đơn hoặc
thời gian có thưởng.
• Tiền lương thời gian giản đơn: tính theo thời gian làm việc và đánh giá
lương thời gian.
• Tiền lương có thưởng: là hình thức thời gian giản đơn kết hợp với ch
ế
độ tiền lương.
o Tiền lương tháng là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở
hợp đồng lao động.
o Tiền lương tuần là tiền lương trả cho một tuần làm việc được xác
định trên cơ sở tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần.
o Tiền lương ngày là tiền lương trả cho một ngày làm việc được
xác định trên cơ sở tiền lương tháng chia cho 22 hoặ
c 26 ngày.
o Tiền lương giờ là tiền lương trả cho một giờ làm việc được xác
định trên cơ sở tiền lương ngày chia cho số giờ tiêu chuẩn.
Công thức tính lương theo thời gian:
Mức lương
tháng
=
Mức lương cơ bản (tối
thiểu)
*
[ hệ số lương + tổng hệ
số các khoản phụ cấp ]
lao động. Việc phối hợp nhiều biện pháp sẽ tạo cho người lao động tự giác lao
động có kỷ luật, có kỷ thuật và có năng suất cao.
5. Chế độ phụ cấp, tiền thưởng:
5.1 Phụ cấp:
Điều 04 nghị định số 26/CP ngày 23/05/1993 quy
định các khoản phụ
cấp lương của người lao động trong các doanh nghiệp như sau: phụ cấp khu
vực, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm đêm, phụ
cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp làm thêm giờ.
5.2. Tiền thưởng:
Bộ Luật Lao Động quy định tại Điều 64: “Người sử dụng lao động có
trách nhiệm trích t
ừ lợi nhuận hàng năm để thưởng cho người lao động đã làm
việc từ một năm trở lên theo quy định của Chính Phủ phù hợp với đặc điểm
của từng loại doanh nghiệp”.
Cụ thể:
- Đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, dịch vụ thuộc thành
phần kinh tế quốc doanh, mức tiền thưởng tối đa không quá 06 tháng tiền
lương theo hợp đồ
ng lao động.
- Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp
trong khu chế xuất, khu công nghiệp, mức tiền thưởng do hai bên thỏa thuận
nhưng không thấp hơn 01 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
- Đối với doanh nghiệp tư nhân, mức tiền thưởng do hai bên thỏa
thuận, nhưng mức trích thưởng ít nhất là 10% lợi nhuận (Điều 9 Nghị định
197/CP ngày 31-12-1994).
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -21 -
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung -22 -
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
CHƯƠNG II : GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
CÔNG TY CƠ KHÍ AN GiANG
I. Khái quát về công ty Cơ Khí An Giang:
1. Giới thiệu chung về công ty:
- Tên tiếng việt : Công Ty Cơ Khí An Giang
- Tên giao dịch quốc tế : Angiang Mechanical Company
- Trụ sở giao dịch: 165 đường Trần Hưng Đạo, phường Bình Khánh,
thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Diện tích mặt bằng: 19.560 m2
- Điện thoại : 076.852969 – 076.854161 – 076.856638
- Fax: 076.853052
- Tài khỏan giao dịch:
710A.00003 ngân hàng Công Thương An Giang
7301.0019F ngân hàng Đầu Tư & Phát Triển An Giang
- Vốn sản xuất kinh doanh:
Cơ cấu vốn Năm 2002 Năm 2003
Tổng vốn kinh doanh 18.671.736.614 20.631.941.017
A/ Vốn lưu động 4.471.188.154 4.738.017.717
- Ngân sách cấp 3.739.981.785 3.739.981.785
p có nhiều khó khăn,
máy móc thiết bị cũ kỹ không đồng bộ, tuy nhiên công ty đã nổ lực phấn đấu
vươn lên từ hiệu quả họat động sản xuất kinh doanh, để tái đầu tư đổi mới máy
móc thiết bị và sửa chữa nâng cấp nhà xưởng mở rộng sản xuất, đáp ứng yêu
cầu của cơ chế kinh tế thị trường.
3. Phạm vi hoạt độ
ng:
Công ty Cơ Khí An Giang là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản
xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp cơ khí góp phần đẩy nhanh tiến
trình cơ giới hóa nông nghiệp và phát triển giao thông nông thôn tại địa
phương khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, phục vụ mục tiêu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của Đảng Nhà nước và
tham gia thị trường xuất khẩu
II. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạ
n, sơ đồ tổ chức công ty:
1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công ty:
1.1.Chức năng, nhiệm vụ :
- Nghiên cứu thiết kế sản xuất các loại máy móc thiết bị sản xuất
nông nghiệp, chế biến và bảo quản nông sản thực phẩm
- Sửa chữa ô tô, máy kéo, máy nông nghiệp.
- Đóng mới và sửa chữa các loại sà lan đến 800 tấn
- Thi công các loại móng công trình, công việc xây lắp, k
ết cấu công
trình, kết cấu kim loại.
- Sản xuất các loại cấu sắt nông thôn
- Nhận thầu các công trình thuộc dự án nhóm C: sản xuất và thi công
các loại cầu sắt nông thôn có tải trọng dưới 30 tấn
- Thiết kế cơ khí
- Kinh doanh các loại vật tư công nghiệp và thiết bị văn phòng
- Liên doanh khai thác, chế biến đá xây dựng.