Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là tất yếu khách quan. Đối với
một doanh nghiệp, điều kiện duy nhất duy trì sự tồn tại và phát triển là phải có
những vị trí nhất định, chiếm lĩnh những phần thị trường nhất định.Muốn vậy
các doanh nghiệp phải luôn luôn vận động biến đổi với tốc độ ít nhất là ngang
bằng với đối thủ cạnh tranh.
Vấn đề này lại càng trở nên gay gắt bức thiết hơn đối với các doanh
nghiệp trong thời kỳ mở cửa hôị nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt là khi Vịêt Nam
tham gia AFTA, tiến tới là thành viên của WTO. Sự cạnh tranh của các doanh
nghiệp Vịêt Nam sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều khi mà các rào cản cạnh
tranh bị xoá bỏ và các nhà đầu tư nước ngoài vào nhiêug hơn.
Nhận thức được điều này, tôi thấy việc nghiên cứu đề tài cạnh tranh có ý
nghĩa thiết thực và rất cần thiết. Qua việc nghiên cứu này chúng ta có thể thấy
được thực trạng và khả năng cạnh tranh của các ngành kinh tế cũng như các sản
phẩm của Vịêt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp giúp đẩy mạnh phát triển các
ngành này.
Tuy nhiên đây là một đề tài rất rộng, để việc nghiên cứu hiệu quả hơn,
chúng ta nên đi sâu vào một ngành, một sản phẩm cụ thể nào đó. Như chúng ta
đã biết với mục tiêu sây dựng nước ta thành một nước công nghiệp đến năm
2010, thì sự phát triển của ngành công nghiệp là một trong nhnữg ván đề được
qua tâm hàng đầu. Trong số các sản phẩm công nghiệp thì sản phẩm thép lại
được coi là một sản phẩm chiến lựơc trong quá trình CNH – HĐH đất nước. Do
đó chúng ta cần có những giải pháp để vừa phát triển mạnh ngành này vừa không
để lại những sai lầm sau này mà nền kinh tế phải gánh chịu.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, em đã cố gắng hết sức để đạt được
kết quả tốt. Song chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Mong các
thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để em đạt được kết quả tốt hơn và em chân
thành cảm ơn các thầy cô đã nhiệt tình hướng dẫn em thực hiện đề tài này, đặc
biệt là thầy giáo: GS.TS. Nguyễn Kế Tuấn
1 1
họp bàn về kinh tế đưa ra. Trong đó có một định nghĩa mà nó phản ánh được
khái niệm cạnh tranh quốc gia nằm trong mối liên hệ trực tiếp với cạnh tranh
của các doanh nghiệp, và lợi thế cạnh tranh trở thành một nhân tố quan trọng
trong họat động kinh doanh kinh tế, xác định cả mức thu nhập, việc làm và mức
sống. Đó là định nghĩa do diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp tổ chức
hợp tác và phát triển kinh tế OECD đưa ra, nội dung định nghĩa: “ Khả năng của
các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, và vùng việc tạo ra việc làm và thu nhập cao
hơn trong những điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Nhưng cạnh tranh cũng có thể hiểu theo nghĩa cụ thể hơn, trong một phạm
vi hẹp là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành lấy một nhân tố
sản xuất, một khách hàng nhằm nâng cao vị thể của mình trên thị trường, để có
thể đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể nào đó mà doanh nghiệp đã đặt ra.
Song để hiểu rõ hơn về cạnh tranh chúng ta cần thấy được vai trò của cạnh
tranh cũng như những tiêu cực mà nó gây ra. Từ đó hiểu được sự cần thiết của
cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
1.1.2. Những tích cực do cạnh tranh tạo ra
Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người
khác song xét dưới góc độ toàn xã hội cạnh tranh lhôn có tác động tích cực. Nó
là năng lực phát triển kinh tế thị trường.
Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng quan trọng.
Tương tự như những nhận định trong lý thuyết về bàn tay vô hình của nhà kinh
tế học AdamSmit. Tầm quan trọng của những chức năng này có thể thay đổi theo
từng thời kỳ.
5 5
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
Cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thịo trường. Khi cung của
hàng hoá nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả
thị trường giảm xuống, chỉ những tổ chức kinh doanh nào đủ khả nanưg cải tiến
công nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ được giá bán sản phẩm
mới có thể tồn tại. do đó, cạnh tranh là động lực thúc đẩy việc ứng dụng khoa
cực đến kinh tế – xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các nước đều cố
gắng duy trì cơ chế cạnh tranh trong nền kinh tế. Có thể coi cạnh tranh là động
lực thúc đẩy tăng trưởng và tiến bộ kỹ thuật. Do vậy, cạnh tranh tạo điều kiện để
tăng trưởng, để có cuộc sống khá hơn.Mặt này chúng ta không thể phủ nhận và
không thể được loại bỏ. Nhưng mặt khác, cạnh tranh cũng gây ra nhiều tác động
tiêu cực. Cụ thể, có những tác động chính sau:
Cạnh tranh là cản trở mục tiêu công bằng xã hội . cạnh tranh là điều kiện
đem lại hiệu quả của họat động kinh tế. Mà nâng cao hiệu quả họat động kinh tế
là phương sách tốt nhất để giúp cải thiện cuộc sống. Nhưng không phải vì thế mà
không quan tâm đên xây dựng công bằng xã hội. Bởi vì, xét cho cùng sản xuất
nói chung, tăng trưởng nói riêng là nhằm mục đích tối vao phục vụ cuộc sống
con người theo hướng tốt đẹp hơn. Mọi sự tăng trưởng không chỉ cùng muc tiêu
phục vụ con người, sớm hay muộn cũng bị loại bỏ. Lịch sử của các cuộc chiến
tranh và diễn biến đàm phán vũ khí hạt nhân hiện nay là những ví dụ hùng hồn
chứng minh điều đó. Trong khi đó, cạnh tranh nmang bản chất là kẻ mạnh thắng
kẻ yếu, người may mắn thắng kẻ rủi ro, người thông minh thắng kẻ khờ khạo…
Cạnh tranh đối lập với sự hợp tác giúp đỡ, do vậy cơ chế cạnh tranh khong dung
hòa trong nó sự công bằng cho những kẻ có thế lực, điểm xuất phát và lợi thế
khác nhau. Chính vì thế ở các nước Tư Bản phát triển, Nhà nước một mặt
khuyến khích cạnh tranh để tìm kiếm hiệu quả, mặt khác, phải có một cơ chế trợ
cấp, từ thiện nào đó để giúp đỡ người thất nghiệp, người nghèo nhằm tránh xảy
9 9
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
ra xung đột gay gắt và mất ổn định xã hội do quá mất công bằng tạo ra. Bên cạnh
đó, luật pháp không bao giờ có thể đảm bảo không có kẽ hở cho cạnh tranh
không lành mạnh tồn tại. để có được lợi thế hơn trong cạnh tranh, các tổ chức
kinh doanh có tiềm lực tài chính mạnh có thể dùng đồng tiền đê làm sai lệch luật
pháp, lái luật pháp đi theo hướng có lợi cho mình, thậm chí tha hoá, vô hiêụ hoá
các cá nhân, tổ chức có ảnh hưởng đến quá trinhf lập pháp và hành pháp. Ngoài
ra các tổ chức kinh doanh có thể sẽ lợi dụng những kẽ hở của luật pháp để kinh
doanh và văn minh thương mại.
Cạnh tranh là một nguyên nhân làm tăng ô nhiễm môi trường, làm cạn kiệt
tài nguyên thiên nhiên. Cạnh tranh là động lực của đổi mới. Nó thúc đẩy những
thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất. Cùng với những ứng dụng này làm
cho các doanh nghiệp, các ngành phát triển rất nhanh cả về quy mô, phạm vi, tốc
độ và cơ cấu. Năng suất lao động ngày càng cao. Hàng loạt những ngành mới ra
đời. Điều này dẫn đến việc khai thác sử dụng tài nguyên với một khối lượng lớn
hơn trứơc đó rất nhiều lần, làm cho nguồn tài nguyên trở nên cạn kiệt. Cùng với
đó là lượng chất thải từ sản xuất và tiêu dùng ngày càng tăng lên, mứ độ ô nhiễm
môi trường càng trở nên trầm trọng. Trong khi cạnh tranh, các chủ thể kinh tế
thường vì lợi ích trước mắt mà khai thác sử dụng tài nguyên không hợp lý, thậm
chí khai thác bừa bãi. Bên cạnh đó, do chỉ tập trung vào những lợi ích phát triển
kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của mình trên thị trường,
các chủ thể kinh tế tìm mọi cách giảm chi phí, tăng lợi ích cho mình nên họ ít
quan tâm đến việc tăng cường xử lý chất thẩi để bảo vệ môi trường.
Mặc dù những hạn chế trên, nhữn những lợi ích to lớn mà nó mang lại,
cùng với những lý do khác, cạnh tranh trở thành tất yếu trong cơ chế thị trường
không những đối với từng doanh nghiệp, mà còn đối với từng ngành, từng quốc
gia, khu vực. Do đó vấn đề đặt ra đối với mỗi quốc gia là làm sao vừa duy trì cơ
chế cạnh tranh trong nền kinh tế, vừa nâng cao vị thế của mình trên thị trường
13 13
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
quốc tế trong thời đại kinh tế hội nhập hiện nay. Đồng thời có biện pháp khắc
phục được những tiêu cực của cạnh tranh.
1.1.4. Cạnh tranh – Tất yếu trong cơ chế thị trường
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là
năng lực phát triển của kinh tế thị trường. Trên góc độ doanh nghiệp, trong kinh
tế thị trường, cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp. Điều kiện duy
nhất duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường là doanh nghiệp đó phải
có những vị thế nhất định, chiếm lính những phần thị trường nhất định. Sự tồn
cũng tránh được nguy cơ các nhà đàu tư nước ngoài chi phối thị trường và do đó
có thể chi phối các quyết định chính sách của Chính phủ. Bên cạnh đó, các
doanh nghiệp trong nước cần vươn ra thị trường quốc tế, làm cho sản phẩm của
mình cạnh tranh đựơc trên thị trường này, từ đó đẩy mạnh xuất khẩu tăng lợi ích
cho quốc gia.
Sau đây chúng ta sẽ xem xét cạnh tranh trên góc độ cụ thể hơn. Đó là cạnh
tranh sản phẩm.
1.2. Khả năng canh tranh của sản phẩm
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh của sản phẩm
Sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất, là nỗ lực sản xuất của doanh
nghiệp, và nó là cái mà doanh nghiệp hy vọng sẽ đem lại lợi ích cho mình. Các
doanh nghiệp luôn mong muốn sản phẩm của mình tìm được chỗ đứng trên thị
trường, được khách hàng chấp nhận.
Chữ tín của sản phẩm quyết định chữ tín của doanh nghiệp và tạo lợi thế
có tính quyết định trong cạnh tranh. Như vậy, muốn sản phẩm của mình có khả
năng cạnh tranh thì doanh nghiệp cần xây dựng chữ tín cho bsản phẩm đó.
17 17
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
Có thể hiểu khái quát khả năng cạnh tranh của sản phẩm là khả năng giành
dật được lợi thế về thị phần so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Cụ thể hơn, khả năng cạnh tranh của sản phẩm là khả năng tạo ra những
lợi thế so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trong việc đáp ứng các đòi hỏi của
thị trường, và được thị trường chấp nhận.
Do tính chất quyết định của sản phẩm đối với sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Không còn cách nào khác đối với doanh nghiệp là phải tìm mọi
biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm mình. Chúng ta sẽ xem
xét một số mặt chủ yếu đánh giá nỗ lực của doanh nghiệp trong việc nâng cao
khả năng cạnh tranh cuả sản phẩm.
1.2.2. Tiêu thức đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm thường được đánh giá thông qua các
tranh của sản phẩm. Nếu như chênh lệch về giá giữa doanh nghiệp và đối thủ
cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp so
với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã đem lại lợi ích cho người tiêu dùng
lớn hơn đối thủ cạnh tranh . Vì lẽ đó, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ ngày càng
chiếm được lòng tin của người tiêu dùng và cũng có nghĩa là sản phâmr của
doanh nghiệp có vị thế cạnh tranh ngày càng cao. Tuy nhiên, để đạt được mức
giá thấp doanh nghiệp cần phải xem xét khả năng hạ giá sản phẩm của đơn vị
mình. Có càng hiều khả năng hạ giá sẽ có nhiều lợi thế so với đối thủ cạnh tranh.
Khả năng hạ giá phụ thuộc vào các yếu tố: Chi phí về kinh tế thấp, khả năng bán
hàng tốt, do đó khối lượng hàng bán lớn, khả năng về tài chính.
Hệ thống kênh phân phối và bán hàng cũng có vai trò quan trọng trong
cạnh tranh. Khả năng đa dạng hoá các kênh phân phối phù hợp với sự đa dạng
của cơ cấu sản phẩm tạo ra hiệu quả cao trong tiêu thụh sản phẩm. Việc phân
định đâu là kênh phân phối chủ lực có ý nghĩa trong việc quyết định trong việc
tối thiểu hoá chi phí giành cho tiêu thụ sản phẩm. Đối với các doanh nghiệp sử
21 21