TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƢỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2009
Tên công trình:
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG LÂM THỦY SẢN SANG
THỊ TRƢỜNG NHẬT BẢN
Thuộc nhóm ngành khoa học: XH1b 1. Họ và tên sinh viên: Lê Gia Thăng - Nam/nữ: Nam - Dân tộc: Kinh
Lớp : A3 Khóa: K45 Khoa: Quản trị kinh doanh Năm thứ:
3/4
Ngành học: Kinh doanh quốc tế
2. Họ và tên sinh viên: Nguyễn Tuấn Dương - Nam/nữ: Nam – Dân tộc:
Kinh
Lớp: A1 Khóa: K45 Khoa: Quản trị kinh doanh Năm thứ: 3/4
Ngành học: Kinh doanh quốc tế
Họ và tên ngƣời hƣớng dẫn:
PGS.,TS. Bùi Ngọc Sơn – Giảng viên Bộ môn Nghiệp vụ
nghị của nhóm nghiên cứu liên quan đến đề tài. 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AJCEP: ASEAN-Japan Closer Economic Partnership: Hiệp định Đối tác kinh tế
toàn diện ASEAN – Nhật Bản
ASEAN: Association of Southeast Asian Nations – Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á
BGĐ: Ban giám đốc
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
GMP: Good Manufacturing Practices
HACCP: Hazard Analysis and Critical Control Point System: hệ thống phân tích
mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn
ISO: International Organization for Standardization – Tiêu chuẩn quốc tế về xây
dựng hệ thống quản lý chất lượng
NLTS: Nông lâm thuỷ sản
NLXK: Năng lực xuất khẩu
SPXK: Sản phẩm xuất khẩu
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
Tp. HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TQM: Total Quality Management: Quản lý chất lượng tổng thể
VASEP: Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers: Hiệp hội Chế
biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam
VJEPA: Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
sang thị trường này 24
2.1. Quy định về kiểm soát hóa chất, kháng sinh 24
2.2. Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản (AJCEP) 25
2.3. Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) 25
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH XUẤT 5
KHẨU CÁC MẶT HÀNG NÔNG LÂM THỦY SẢN SANG THỊ TRƯỜNG
NHẬT BẢN 27
I. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản của các doanh
nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh sang thị trƣờng Nhật Bản 27
1. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng nông sản 27
2. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng lâm sản 30
3. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng thủy sản 31
II. Báo cáo kết quả điều tra năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản sang
thị trƣờng Nhật Bản 32
1. Năng lực tài chính của doanh nghiệp 33
2. Trình độ cán bộ làm công tác xuất khẩu 34
3. Trình độ áp dụng khoa học công nghệ của các doanh nghiệp 36
4. Kinh nghiệm kinh doanh của doanh nghiệp 37
5. Kết quả điều tra hoạt động nghiên cứu thị trường, tìm kiếm và lựa chọn
thị trường mục tiêu của doanh nghiệp 38
6. Báo cáo khảo sát năng lực quản lý và điều hành, tổ chức xuất khẩu 40
III. Đánh giá thực trạng năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Tp. Hồ
Chí Minh xuất khẩu hàng nông lâm thuỷ sản sang thị trƣờng Nhật Bản . 41
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản 53
2.2. Ưu thế của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có được
so với các địa bàn khác 55
II. Các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp thành
phố Hồ Chí Minh xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản sang thị trƣờng
Nhật Bản 57
1. Cơ sở đề xuất giải pháp 57
1.1. Phân tích SWOT 57
1.2. Khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy
sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 58
2. Các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp thành phố
Hồ Chí Minh xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản sang thị trường Nhật Bản
60 7
2.1. Giải pháp về phía Nhà nước và chính quyền thành phố 60
2.2. Giải pháp về phía các doanh nghiệp 69
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
vào Nhật Bản liên tục tăng trong gần 20 năm trở lại đây và chỉ xếp thứ hai sau Hoa
Kì, đạt 8,537.9 triệu USD năm 2008. Thị trường Nhật Bản là một trong những thị
trường nhập khẩu chủ đạo của các doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt, đối với mặt
hàng nông lâm thủy sản (NLTS) – những mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của các
mặt hàng NLTS trên thị trường Nhật Bản trong thời gian gần đây (2003 – 2008)
Đánh giá thực trạng năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Tp. HCM
xuất khẩu hàng NLTS sang thị trường Nhật Bản.
Từ thực trạng của vấn đề nghiên cứu đưa ra những giải pháp và kiến nghị
với Nhà nước, Cơ quan, Ban ngành có liên quan và các doanh nghiệp để doanh
nghiệp có thể nâng cao năng lực xuất khẩu hàng NLTS sang thị trường Nhật Bản
nói riêng và nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất
khẩu hàng NLTS trên địa bàn Tp. HCM.
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu Việt Nam trong giai đoạn 2003 – 2008 và quí I/2009, tập trung vào
các doanh nghiệp xuất khẩu NLTS. Giải pháp nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu
của các doanh nghiệp trong thời gian tới.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu theo phương pháp tìm kiếm và nghiên cứu tài liệu từ sách, báo,
Internet, Báo cáo của ngành, các đề tài nghiên cứu từ trước đó để thu thập, xử lý
và phân tích các thông tin, số liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu.
Sử dụng kết quả khảo sát thực tế, từ đó phân tích và nghiên cứu. 9
5. Kết quả nghiên cứu dự kiến
Kết quả của đề tài nghiên cứu sẽ đưa ra một các nhìn khái quát và tổng quan
của một công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên về vấn đề năng lực xuất
khẩu của các doanh nghiệp Tp. HCM xuất khẩu hàng NLTS sang thị trường Nhật
Bản hiện tại và đây là một kiến nghị, một tài liệu tham khảo đối với các cơ quan,
ban ngành có liên quan và đặc biệt là các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh
vực xuất nhập khẩu hàng NLTS để từ đó là cơ sở cho các chính sách và giải pháp
CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM VÀ THỊ TRƢỜNG NHẬP KHẨU HÀNG NÔNG LÂM THỦY
SẢN CỦA NHẬT BẢN
II. Năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam
3. Doanh nghiệp và phân loại các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam
1.1. Khái niệm
Có khá nhiều cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp dưới góc độ của khoa
học quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh và khoa học pháp lý. Doanh nghiệp được
hiểu đơn giản là: là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một
kế hoạch nhất định nhằm mục đích kiếm lợi nhuận. Trên thực tế doanh nghiệp
được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: cửa hàng, nhà máy, xí nghiệp, hãng,
Dưới góc độ của pháp luật, từ khi thực hiện đổi mới, khái niệm doanh
nghiệp đã được quy định lần đầu tiên trong Luật công ty năm 1990, sau đó tại
Điều 3, Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2005
định nghĩa về doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo qui
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
1.2. Phân loại doanh nghiệp
Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:
Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Doanh nghiệp liên doanh và
công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp dân doanh: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)(Công
ty TNHH hai thành viên trở lên, Công ty TNHH một thành viên), Công ty cổ
phần, Công ty hợp danh, Công ty tư nhân,
Doanh nghiệp tập thể
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh
doanh sau đây:
thành viên trở lên
Công ty TNHH
một thành viên
Công ty cổ phần
Công ty tư nhân
Doanh nghiệp
nhà nƣớc
Doanh nghiệp
tập thể
Hợp tác xã
13
Hiện chưa có khái niệm chính thức về Năng lực xuất khẩu (NLXK), tuy
nhiên nếu căn cứ theo cách hiểu truyền thống và phù hợp với điều kiện thực tế của
các doanh nghiệp Việt Nam thì NLXK của một doanh nghiệp được định nghĩa như
sau: NLXK là khả năng xuất khẩu cao nhất của doanh nghiệp đó ra thị trường
nước ngoài trong một thời gian nhất định.
NLXK của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố cơ bản như: năng lực tài chính,
trình độ cán bộ công tác xuất khẩu, năng lực huy động nguồn hàng xuất khẩu,
năng lực tìm kiếm thị trường xuất khẩu, năng lực tổ chức xuất khẩu, năng lực xử
lý các vấn đề phát sinh khi xuất khẩu.
2.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp
Theo cách tiếp cận trên về NLXK của doanh nghiệp, hệ thống các chỉ tiêu
Vốn vay: ngoài vốn chủ sở hữu thì vốn vay có vị trí đặc biệt quan trọng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó có thể đáp ứng các nhu
cầu về vốn trong ngắn hạn hoặc dài hạn, có thể huy động được số vốn lớn, tức
thời. Tuy nhiên, sử dụng vốn vay phải hết sức chú ý đến cơ cấu vốn của doanh
nghiệp, kế hoạch sử dụng vốn phải đảm bảo hợp lý, đúng mục đích; quản lý tốt
quỹ tiền mặt, kỳ trả nợ và kỳ thu tiền, kế hoạch sản xuất kinh doanh phải được lập
bám sát thực tế nếu không vốn vay sẽ trở thành một gánh nặng đối với doanh
nghiệp.
Vốn chiếm dụng của nhà cung cấp (tín dụng thương mại): đây cũng là một
nguồn vốn tương đối quan trọng xuất phát từ việc doanh nghiệp chiếm dụng tiền
hàng của nhà cung cấp (trả chậm), việc chiếm dụng này có thể phải trả phí hoặc
không phải trả phí nhưng lại đáp ứng được việc doanh nghiệp có nguyên vật liệu,
điện, nước, để sản xuất kinh doanh mà chỉ phải bỏ ra ngay lập tức một số tiền ít
hơn số tiền đáng lẽ phải bỏ ra để tiến hành sản xuất. Như vậy, doanh nghiệp có thể
sử dụng quỹ tiền mặt của mình cho mục đích khác. Tuy nhiên, sử dụng nguồn vốn
này cần lưu ý không nên chiếm dụng quá nhiều hoặc quá lâu một khoản nợ nào đó
vì nó sẽ ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp với đối tác, với thị trường hoặc
kiện tụng pháp luật, tốt nhất nên có sự thoả thuận về việc chiếm dụng vốn.
Nguồn vốn khác: như lợi nhuận để lại, lương cán bộ công nhân viên chậm
thanh toán… 15
Tình trạng thiếu vốn kinh doanh: là việc doanh nghiệp có thường
xuyên thiếu vốn phục vụ cho hoạt động của mình hay không.
Nguyên nhân không vay được vốn ngân hàng: doanh nghiệp có thể
vay vốn bằng nhiều hình thức khác nhau như đã đề cập song vốn ngân hàng là
nguồn vốn quan trọng và thường chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng vốn vay của
doanh nghiệp. Việc tiếp cận nguồn vốn này có thể bị hạn chế do nhiều nguyên
máy móc trang thiết bị, đến quy trình sản xuất như thu mua nguyên vật liệu, chế
biến sản xuất, tiếp cận thị trường, quảng cáo sản phẩm và phân phối sản phẩm…
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, khả năng trên của doanh nghiệp được thể
hiện qua các tiêu chí sau:
Trình độ công nghệ, thiết bị sản xuất của doanh nghiệp: phản ánh
công nghệ mà doanh nghiệp đang sử dụng, cụ thể là máy móc, thiết bị, nhà xưởng,
dây chuyền sản xuất, công cụ, dụng cụ…có trình độ cao hay thấp, có thường
xuyên đổi mới công nghệ hay không và khoảng cách giữa trình độ công nghệ mà
doanh nghiệp đang sử dụng với trình độ trung bình của ngành trong nước và thế
giới.
Thành lập trang Web (Website) doanh nghiệp: Trang web doanh
nghiệp được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như quảng bá hình ảnh doanh
nghiệp, giới thiệu các sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp… Việc nghiên
cứu website doanh nghiệp cho biết khả năng vận dụng những tiến bộ của Internet
vào hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả mà nó đem lại cho doanh nghiệp.
Áp dụng thương mại điện tử trong kinh doanh xuất khẩu
Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các
phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ
quá trình giao dịch, hoặc có thể hiểu đơn giản là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ
thông qua các phương tiện điện tử và các mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và
Internet. Ở Việt Nam, tuy mới chỉ mới dừng lại ở giai đoạn thương mại điện tử
thông tin nghĩa là các doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin, đàm phán, đặt hàng
song chưa thể tiến hành ký kết hợp đồng qua mạng, tuy nhiên thương mại điện tử
đã có những đóng góp nhất định góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất 17
kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, việc nghiên cứu xem một doanh nghiệp có
áp dụng thương mại điện tử hay không sẽ phản ánh cụ thể hơn trình độ áp dụng
Họat động này thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thị trường xuất khẩu chủ yếu: là thị trường đem lại kim ngạch xuất
khẩu lớn nhất cho doanh nghiệp.
Kênh tìm kiếm thông tin: là các phương tiện mà thông qua đó doanh
nghiệp có thể thu thập và tìm kiếm thông tin cần thiết về khách hàng và thị trường
như Internet, báo chí, hội chợ, triển lãm, sách báo, tạp chí…
Kinh phí nghiên cứu thị trường: là khoản kinh phí mà doanh nghiệp
dùng cho hoạt động nghiên cứu thị trường trong một khoảng thời gian nhất định (ở
đây là một năm).
2.2.6. Năng lực quản lý và điều hành, tổ chức xuất khẩu
Là năng lực đảm bảo cho tất cả các công đoạn trong quy trình xuất khẩu từ
khâu thu mua, chế biến đến làm thủ tục hải quan, giao hàng và thanh toán hợp
đồng diễn ra liên tục và đạt hiệu quả cao. Việc nghiên cứu NLXK của các doanh
nghiệp xuất khẩu hàng NLTS được nhóm nghiên cứu giới hạn qua các chỉ tiêu:
Tiêu chuẩn quản lý chất lượng hàng xuất khẩu: để sản phẩm có thể
thâm nhập một thị trường thì chất lượng sản phẩm cần đáp ứng được yêu cầu của
thị trường đó. Có nhiều hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng khác nhau, trong
đó các doanh nghiệp xuất khẩu NLTS Việt Nam thường quản lý chất lượng hàng
hóa của mình theo các tiêu chuẩn sau: tiêu chuẩn quốc tế ISO, tiêu chuẩn Việt
Nam, tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn doanh nghiệp.
Hình thức quảng cáo hàng xuất khẩu: hoạt động quảng cáo xúc tiến
thương mại có một vai trò không nhỏ trong việc chào hàng, bán hàng, thâm nhập
và tìm kiếm thị trường đối với các mặt hàng NLTS xuất khẩu và được thực hiện
bằng nhiều biện pháp khác nhau như sách báo, tạp chí, mạng Internet, truyền
hình… Mỗi hình thức quảng cáo có những ưu nhược điểm riêng cần được nghiên
cứu cụ thể để áp dụng phù hợp với điều kiện của từng doanh nghiệp. 19
tiếp cận với các công nghệ hiện đại để đảm bảo chất lượng sản phẩm hạ giá thành 20
sản phẩm,… trình độ công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo những tiêu chuẩn
của quốc tế về chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm. Đây cũng là nhân
tố ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước
trong các công việc khác liên quan đến việc thực hiện và thanh toán hợp đồng như:
bảo quản, lưu kho sản phẩm, đóng gói, thanh toán.
3.1.3. Thiết bị sản xuất
Thiết bị sản xuất là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm xuất khẩu.
Các thiết bị hiện đại hay lạc hậu sẽ quyết định đến năng suất và chất lượng của sản
phẩm từ đó sẽ ảnh hưởng đến thời gian thực hiện đơn hàng. Các thiết bị sản xuất
còn là nhân tố ảnh hưởng đến nguồn tài chính của doanh nghiệp trong việc đầu tư,
cải tiến, bảo trì thiết bị sản xuất.
3.1.4. Giá thành sản phẩm
Giá thành của sản phẩm là một trong những yếu tố giúp cho doanh nghiệp
xây dựng được năng lực cạnh tranh. Từ đó, có nhiều ảnh hưởng đến NLXK của
doanh nghiệp. Với một giá thành cạnh tranh và hợp lí doanh nghiệp thu hút được
nhiều bạn hàng từ đó sẽ giúp doanh nghiệp phát triển và xuất khẩu được nhiều
hàng hóa hơn. Giá thành sản phẩm còn biểu hiện việc doanh nghiệp có chiến lược,
hoạt động kinh doanh hiệu quả và tổ chức hoạt động xuất khẩu hợp lý. Với việc
xuất khẩu được nhiều hàng hoá sẽ giúp cho doanh nghiệp có được cơ hội để có thể
cải tiến hoạt động, nâng cao được cơ hội cạnh tranh và xuất khẩu được nhiều hàng
hóa hơn.
3.1.5. Khả năng tổ chức xuất khẩu
Sản phẩm sau khi sản xuất có xuất khẩu được hay không phụ thuộc vào nhan
tố này. Khả năng tổ chức xuất khẩu phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của đội ngũ
cán bộ quản lý và nhân viên làm công tác xuất khẩu của doanh nghiệp trong việc
chuyển hàng hóa cho đến việc lưu kho, bảo quản.
3.2.2. Các chi phí liên quan nhƣ viễn thông, bảo hiểm,…
Đây là một trong những yếu tố cấu thành nên chi phí của doanh nghiệp. Các
chi phí này trong quá trình vận chuyển ảnh hưởng tới việc doanh nghiệp có khả
năng đáp ứng được những yêu cầu từ phía khách hàng và cạnh tranh với các nhà
cung cấp khác. Các khoản chi phí này nếu quá lớn sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của
doanh nghiệp của như khả năng phát triển và hợp tác lâu dài. 22
3.2.3. Thủ tục hành chính của các Tỉnh, Thành phố
Nhân tố này thuộc vào môi trường quản lý của cơ quan nhà nước, các đơn vị
hành chính ở các địa phương. Với việc xuất khẩu mặt hàng NLTS, các doanh
nghiệp sẽ có địa bàn hoạt động hay có mối quan hệ với các đơn vị cung cấp ở
nhiều địa phương, nhiều Tỉnh, Thành phố khác nhau. Các chính sách, quy định về
thủ tục hành chính sẽ ảnh hưởng đến việc huy động hàng, thu mua, sản xuất, lưu
kho, vận chuyển,…của doanh nghiệp. Việc tuân thủ và hoàn thành các thủ tục
hành chí+nh của các địa phương có liên quan một cách nhanh chóng và thuận lợi
là điều kiện hết sức cần thiết trong việc nâng cao NLXK của doanh nghiệp.
3.3. Nhóm các nhân tố ngoài nƣớc
Trong phạm vi đề tài, nhóm nhân tố này gồm: các tiêu chuẩn chất lượng, vệ
sinh thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn, tiêu chuẩn môi trường và tiêu chuẩn lao
động.
3.3.1. Tiêu chuẩn về chất lƣợng
Việc xuất khẩu các mặt hàng NLTS đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ các
tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm một cách nghiêm ngặt. Nhất là khi xuất khẩu
sang thị trường có các quy định về chất lượng sản phẩm chặt chẽ và nghiêm ngặt.
Việc tuân thủ và đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lượng theo các tiêu chuẩn của các
tổ chức Quốc tế còn giúp doanh nghiệp tạo được lòng tin nơi khách hàng và tạo ra
II. Thị trƣờng nhập khẩu hàng nông lâm thủy sản của Nhật Bản
3. Thị trƣờng Nhật Bản và hoạt động xuất khẩu các mặt hàng nông lâm
thủy sản của Doanh nghiệp Việt Nam sang thị trƣờng Nhật Bản
3.1. Tổng quan về thị trƣờng Nhật Bản
Nhật Bản là nước có dân số rất đông (128,018,000 người theo số liệu của
Tổng cục thống kê và Bộ Y tế Nhật Bản ngày 31/12/2008), tài nguyên thiên nhiên
nghèo nàn phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ
trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh
chóng phục hồi và trở thành nước có nền kinh tế - công nghiệp - tài chính thương
mại - dịch vụ - khoa học kỹ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa
Kỳ). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên
nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và 24
phát triển lớn nhất thế giới. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng
hàng đầu thế giới.
Bờ biển có hình dạng răng cưa nên rất thuận lợi cho việc hình thành các
cảng.
Chính vì thế Nhật Bản có nền công nghiệp biển và thương mại bằng đường biển
rất phát triển.
Trong hai năm trở lại đây, do chịu ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế thế
giới, nền kinh tế Nhật Bản cũng gặp rất nhiều khó khăn. Chính phủ Nhật Bản nhận
định nền kinh tế đã chạm đáy với mức giảm kỷ lục 4% trong quý I/2009 và giảm
tới 15,2% so với cùng kỳ năm 2008 trong bối cảnh nhu cầu hàng hóa cả trong và
ngoài nước đều yếu kém. Xuất khẩu của Nhật Bản quý I/2009 đã giảm 26%, trong
khi đầu tư vốn của các công ty cũng giảm tới 10,4%. Ngoài ra, chi tiêu của người
tiêu dùng (chiếm 55% GDP của Nhật Bản) cũng giảm 1,1%. Tốc độ suy giảm của
nền kinh tế Nhật có vẻ như đã chậm lại. Trong thời gian sắp tới, có thể nhu cầu
Chè: Nhật bản là nước có truyền thống uống chè từ lâu đời. Uống chè không
chỉ có lợi cho sức khỏe mà đã trở thành nghệ thuật và là một nét văn hóa đặc sắc
đối với người Nhật. Mỗi năm, Nhật tiêu thụ khoảng 100,000 tấn chè, chủ yếu là
chè xanh, trong đó có 85% chè xanh là do nội địa cung cấp còn chè đen và chè
Ôlong hoàn toàn là hàng nhập khẩu. Năm 2004 kim ngạch nhập khẩu chè tăng
16.12% sau đó giảm nhẹ trong hai năm 2005 và 2006, một phần lí do của sự sụt
giảm này là do việc áp dụng Luật vệ sinh an toàn thực phẩm sửa đổi của Nhật từ
giữa năm 2006 đã ảnh hưởng trực tiếp tới mặt hàng chè nhập khẩu. Kim ngạch
nhập khẩu chè năm 2007 là 194,726 ngàn USD và năm 2008 là 197,253 ngàn
Tấn
Triệu yên
Sản lượng
Giá trị(Triệu Yên)