Chuyên đề thực tập
MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, gỗ, tre, nứa và các loại thảo mộc như cói ngô, lục bình đã là
những vật liệu gần gũi nhất trong cuộc sống của người Việt Nam. Từ những
chất liệu bình dị rẻ tiền này, qua các bàn tay khéo léo và khả năng sáng tạo,
những người thợ thủ công đã tạo ra các sản phẩm được nhiều người yêu thích.
Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam vốn có truyền thống từ lâu đời. Truyền
thống đó gắn liền với tên những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng
những sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống, với những nét độc đáo, tinh
xảo, hoàn mỹ. Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm
văn hóa hay sản phẩm, hàng hóa kinh tế thuần túy cho sinh hoạt hàng ngày, mà
đó chính là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng cho nền văn hóa xã hội, mức
độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhân văn của dân tộc. Cũng như
các sản phẩm thủ công mỹ nghệ các nước, thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
mang đậm nét văn hóa mỗi vùng.
Tuy nhiên, ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam hiện đang phải cạnh tranh
với các đối thủ lớn như: Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan … Vì vậy, kim ngạch
xuất khẩu của ngành tuy phát triển mạnh nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm
năng của đất nước. Nguyên nhân chủ yếu là do khả năng cạnh tranh của các
công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt
Nam còn thấp hơn so với đối thủ trên thị trường xuất khẩu. Do đó, em lựa chọn
đề tài nghiên cứu thực tập là:“ Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ sang thị trường Nhật Bản của công ty xuất nhập khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ Artexport “ nhằm xây dựng và đề xuất những giải pháp cần thiết góp
phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu cho ngành thủ công mỹ nghệ nói chung và
công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Artexport nói riêng.
Nguyễn Khánh Dung Thương Mại Quốc Tế- K46
1
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I: THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN VÀ XUẤT KHẨU HÀNG THỦ
CÔNG MỸ NGHỆ SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
lệch… cũng có thể dẫn đến tác hại lớn là làm cả lô hàng khó bán, ảnh hưởng
đến kế hoạch xuất khẩu lâu dài. Bởi vậy cần có sự quan tâm đúng mức tới khâu
hoàn thiện, vệ sinh sản phẩm, bao gói và vận chuyển hàng.
1.2. Về mẫu mã sản phẩm
Người tiêu dùng Nhật Bản nhạy cảm với những thay đổi theo mùa. Xuất phát
từ yếu tố cạnh tranh, các nhà nhập khẩu Nhật Bản quan tâm nhiều hơn đến việc
nhập được những sản phẩm hợp thời trang và phù hợp mùa vụ nhằm đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng, mua sắm của khách hàng.
Thiên nhiên của Nhật Bản phân thành bốn mùa rõ rệt, người Nhật sống hòa
đồng, gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống của họ chứa đựng những sắc màu của
thiên nhiên. Vì vậy đồ dùng sinh hoạt thường có màu sắc khác nhau nhằm tạo
cho họ cảm giác của các mùa trong năm. Ví dụ, những sản phẩm mây tre đan
màu xanh da trời cho họ cảm giác của mùa xuân và hè, màu nâu và đen sẽ mang
lại cho họ cảm giác của mùa thu và mùa đông. Chính vì thế màu sắc đã trở thành
tiêu chí quan trọng trong sự lựa chọn của người tiêu dùng Nhật Bản.
Ngoài ra, người Nhật Bản rất hứng thú và say sưa với quá trình tạo ra sản
phẩm. Họ quan tâm đến việc sử dụng nguyên liệu, cách thức, kỹ nghệ tạo ra sản
phẩm và bối cảnh truyền thống và họ luôn nghĩ rằng trong mỗi sản phẩm thủ
công mỹ nghệ đều có “hồn” nên khi sáng tạo ra các sản phẩm nghệ thuật này
các nghệ nhân cần “thổi” vào sản phẩm của mình những tình cảm chân thật
nhất.
1.3. Về giá
Người tiêu dùng Nhật Bản không chỉ yêu cầu hàng chất lượng cao, bao bì
đảm bảo, dịch vụ bán hàng và dịch vụ sau bán hàng tốt mà còn muốn mua hàng
với giá cả hợp lý. Trước đây, người Nhật sẵn sàng bỏ nhiều tiền để mua những
Nguyễn Khánh Dung Thương Mại Quốc Tế- K46
3
Chuyên đề thực tập
hàng hóa cao cấp có nhãn mác nổi tiếng, nhưng từ khi nền kinh tế bong bóng
sụp đổ năm 1991, nhu cầu hàng hóa rẻ hơn đã tăng lên. Tuy nhiên, người tiêu
xuất khẩu chủ lực của mặt hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, chiếm tới 29%
tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước. Tuy nhiên, con số này vẫn
chưa xứng với tiềm năng sẵn có ở trong nước và chưa đáp ứng hết nhu cầu của
người tiêu dùng Nhật Bản do khả năng tiếp cận thị trường của các công ty Việt
Nam còn hạn chế, thiếu thông tin về thị trường, mặt hàng và những bất cập
trong cơ chế, chính sách. Hiện nay cả nước có hơn 2.000 làng nghề thủ công
mỹ nghệ, thu hút trên 13 triệu lao động; 1,4 triệu hộ gia đình và khoảng 1.000
công ty tham gia vào hoạt động sản xuất-xuất khẩu sản phẩm này. Với nguồn
nguyên liệu sẵn có trong nước, nguyên phụ liệu nhập khẩu chỉ chiếm từ 3-5%
giá trị xuất khẩu nên tiềm năng về xuất khẩu mặt hàng này là rất lớn, đặc biệt là
thị trường Nhật Bản.
2.1.1.Tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng
nghèo nàn và chậm phát triển ở nước ta. Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước trong một thời gian ngắn đòi hỏi phải có vốn lớn để nhập khẩu máy móc,
thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến của các nước phát triển. Thực tế trong mấy
năm qua kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ luôn đứng trong 10 nhóm
sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Tuy nhiên, do đặc điểm đây là
nhóm hàng có tỷ lệ dùng nguyên liêu trong nước là chủ yếu (nguyên liệu nhập
khẩu chỉ chiếm 3-5%), vì vậy tỷ lệ thực thu ngoại tệ sau xuất khẩu của hàng thủ
công mỹ nghệ rất cao (theo tính toán của các chuyên gia, tỷ lệ thu trên 95% so
với tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi đó nhóm hàng dệt may chỉ khoảng
25%). Với kim ngạch xuất khẩu trên dưới 300 triệu USD/năm, hàng năm xuất
Nguyễn Khánh Dung Thương Mại Quốc Tế- K46
5
Chuyên đề thực tập
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã góp phần không nhỏ trong việc tăng thu ngoại
tệ cho đất nước, gia tăng tích lũy, tái sản xuất mở rộng phát triển nền kinh tế và
dự trữ quốc gia.
mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút thêm lao động. Cho đến nay cơ
cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt khoảng 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ
và 20-40% cho nông nghiệp.
2.1.3.Tạo việc làm và nâng cao đời sống
Trên phương diện xã hội, đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã
kích thích việc phát triển các làng nghề truyền thống. Hiện nay, trong các làng
nghề truyền thống, bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề đã tạo việc làm ổn
định cho gần 30 lao động thường xuyên và từ 8 - 10 lao động thời vụ, mỗi hộ
chuyên làm nghề thì tạo được 4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5 lao động
thời vụ. Đặc biệt nghề dệt, thêu ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 -
250 lao động. Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở
địa phương mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác.
Làng gốm Bát Tràng ngoài việc giải quyết việc làm cho gần 2430 lao động của
xã, còn giải quyết thêm việc làm cho khoảng 5000 - 6000 lao động của các khu
vực lân cận đến làm thuê.
Mặt khác, sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã kéo theo sự phát
triển và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất
hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động. Ngoài các hoạt động
dịch vụ phục vụ sản xuất trực tiếp còn có các dịch vụ khác như tín dụng ngân
hàng. Từ thực tiễn cho thấy cứ xuất khẩu 1 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ
thì tạo được việc làm và thu nhập cho khoảng 3000 - 4000 lao động chủ yếu tại
các làng nghề nông thôn, trong đó có lao động nông nhàn tại chỗ và các vùng
lân cận.
Nguyễn Khánh Dung Thương Mại Quốc Tế- K46
7
Chuyên đề thực tập
Bên cạnh đó xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ còn góp phần tăng thu nhập
và cải hiện đời sống cho người lao động ở nông thôn. Nơi nào có làng nghề phát
triển thì ở đó thu nhập và mức sống cao hơn các vùng thuần nông. Nếu so sánh
với mức thu nhập lao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động ngành nghề
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là sự kết tinh của lao động vật chất và lao động
tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và trí óc sáng tạo vủa người thợ
thủ công. Vì vậy, mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật chứa đựng nét đặc
sắc dân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi làng
nghề và mang dấu ấn của mỗi thời kỳ. Tìm hiểu lịch sử của mỗi làng nghề ta
thấy kỹ thuật chế tác ra các sản phẩm có từ rất xa xưa và được truyền lại đến
ngày nay. Kỹ thuật đúc dồng và hợp kim đồng thau đã có từ thời văn hóa Đông
Sơn – một nền văn hóa với những thành tựu rực rỡ, đặc biệt là trống đồng Ngọc
Lũ gắn liền với lịch sử của Hùng Vương dựng nước. Ngày nay các sản phẩm thủ
công mỹ nghệ với tính độc đáo và độ tinh xảo của nó vẫn có ý nghĩa rất lớn với
nhu cầu đời sống của con người. Những sản phẩm này là sự kết tinh, bảo tồn các
giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc, là sự bảo lưu văn hóa nghệ thuật và kỹ thuật
truyền từ đời này sang đời khác tạo nên những thế hệ nghệ nhân tài ba. Chính vì
vây, xuất khẩu thủ công mỹ nghệ không những góp phần bảo tồn và phát triển
các giá tị văn hóa của dân tộc Việt Nam mà còn nhằm quảng bá chúng trên khắp
thế giới.
2.2 Đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
2.21. Tính văn hóa
Hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có từ lâu đời, nó tồn tại và phát
triển trong các làng nghề truyền thống, được làm ra bởi các nghệ nhân, thợ thủ
công. Mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ đều được tạo ra ở một làng nghề riêng,
mang sắc thái, đặc trưng văn hóa của một khu vực địa lý và cộng đồng dân cư
nhất định như gốm sứ Bát Tràng, lụa Hà Đông, …. Qua sử dụng các sản phẩm
Nguyễn Khánh Dung Thương Mại Quốc Tế- K46
9
Chuyên đề thực tập
thủ công mỹ nghệ người tiêu dùng cảm nhận được giá trị nghệ thuật từ sự sáng
tạo trong tạo dáng, đến sự tinh xảo và điêu luyện của người thợ và hơn cả là sự
kết tinh những nét văn hóa của dân tộc được truyền vào từng sản phẩm.
2.1.2. Tính mỹ thuật
từ những con rồng trạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên trống đồng, màu men,
họa tiết trên các đồ gốm sứ, tất cả đều mang vóc dáng, đặc trưng dân tộc, quê
hương và chứa đựng trong nó những hình ảnh văn hóa tinh thần, quan niệm
nhân văn, tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc. Những nét riêng về phong tục của
mỗi địa phương, các địa danh được thể hiện trên sản phẩm thủ công mỹ nghệ
đều làm tăng giá trị cho sản phẩm, gây cho khách hàng một sự thích thú, như
một sự khám phá khi thấy sản phẩm.
- Nguyên liệu: Sự phong phú của nguyên liệu sử dụng đã tạo nên các sản
phẩm độc đáo. Từ mây, tre, nứa thậm chí có thể dùng cả rơm khô, sọ dừa, xơ
dừa, cói, đay… tất cả các nguyên liệu đều rất sẵn có trong thiên nhiên.
2.1.5. Tính thủ công
Hàng thủ công mỹ nghệ dễ dàng được cảm nhận ngay tính thủ công với tên
gọi của nó. Tính thủ công được thể hiện ở công nghệ sản xuất đều là sự kết giao
giữa các phương pháp thủ công tinh xảo và sự sáng tạo nghệ thuật. Ngày nay,
với sự hỗ trợ của máy móc công nghiệp nhưng sản xuất chính vẫn cần có những
bàn tay điêu nghệ của các nghệ nhân. Bởi chính các nghệ nhân mới là người tạo
ra cái hồn, sự đặc trưng cho từng sản phẩm và nó phản ảnh rõ nét tinh hoa văn
hóa dân tộc. Chính đặc tính này tạo nên sự khác biệt giữa sản phẩm thủ công
mỹ nghệ và những sản phẩm công nghiệp hiện đại được sản xuất hàng loạt và
ngày nay cho dù không sánh kịp tính ứng dụng của các sản phẩm công nghiệp
nhưng sản phẩm thủ công mỹ nghệ luôn gây được sự yêu thích của người tiêu
dùng.
Nguyễn Khánh Dung Thương Mại Quốc Tế- K46
11
Chuyên đề thực tập
3.Các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
vào thị trường Nhật Bản
3.1.Lao động
Việt Nam vốn là nước có nguồn lao động trẻ, dồi dào, có khả năng tiếp thu
nhanh, cần cù, sáng tạo và có tính cộng đồng cao. Mặt khác, trong các làng
phân tích ở trên. Đó là một trong những nhân tố rất quan trọng góp phần thực
hiện thành công quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước.
Như vậy, đề ra các giải pháp để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ là việc làm rất cần thiết, đòi hỏi có sự quan tâm thiết thực của
Chính phủ, các ban ngành liên quan. Đặc biệt là quan tâm đầu tư đúng hướng
của các công ty tham gia vào hoạt động sản xuất, xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ ARTEXPORT SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
1.Khái quát chung về công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ
Artexport
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Artexport
Ngày 23/12/1964, theo Quyết định số 617/BNgT-TCCB của Bộ Ngoại
Thương (nay là Bộ Công Thương) Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ
(nay là Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Việt Nam) được
thành lập.
Trước năm 1975, khi đất nước còn chiến tranh ác liệt, Mỹ và các nước tư
bản thực hiện cấm vận kinh tế Việt Nam nên việc xuất khẩu gặp rất nhiều khó
khăn, đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ. Tuy nghiên, với sự nỗ lực cố gắng
Nguyễn Khánh Dung Thương Mại Quốc Tế- K46
13
Chuyên đề thực tập
của mình, Artexport vẫn duy trì được hoạt động xuất khẩu, hoàn thành nhiệm
vụ mà Nhà nước giao phó.
Từ năm 1976 đến trước năm 1990 , tuy đã là thời kỳ hòa bình thống nhất
đất nước nhưng Artexport chủ yếu xuất khẩu trả nợ và xuất khẩu theo nghị định
thư với các nước xã hội chủ nghĩa. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, công ty vẫn tổ
chức tốt việc triển khai sản xuất và tổ chức sản xuất ở địa phương nên kim
ngạch xuất khẩu hàng năm vẫn tăng đều, năm sau tăng hơn năm trước mà đỉnh
Artexport đã mang đến cho thị trường quốc tế những mặt hàng thủ công
tinh hoa, được sản xuất từ bàn tay khéo léo của những người thợ Việt Nam.
Những nỗ lực trên của công ty đã được ghi nhận bằng những giải thưởng như
giải thưởng công ty xuất khẩu xuất sắc do thương vụ Việt Nam tại các nước
bình chọn, giải thưởng Sao Vàng Đất Việt dành cho thương hiệu nổi tiếng và
một số bằng khen của Chính phủ cũng như của Bộ Thương Mại Việt Nam (nay
là Bộ Công Thương).
Bên cạnh những đánh giá cao của bạn bè trong nước, Artexport với hơn 150
nhân viên chuyên nghiệp vẫn luôn được khách hàng quốc tế tin cậy do uy tín
làm việc cũng như chính những sản phẩm chất lượng cao và phong phú về mẫu
mã mà Artexport cung cấp.
1.2. Nhiệm vụ của Artexport
• Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh nhằm
thực hiện được mục đích và nội dung hoạt động của công ty.
• Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trường, đề xuất và kiến nghị
với Bộ Công Thương và Nhà Nước các biện pháp giải quyết những vấn đề
vướng mắc trong sản xuất kinh doanh.
• Tuân thủ pháp luật về quản lý kinh tế tài chính, quản lý xuất nhập khẩu
và giao dịch đối ngoại, nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết trong hợp đồng
Nguyễn Khánh Dung Thương Mại Quốc Tế- K46
15
Chuyên đề thực tập
mua bán ngoại thương và các hợp đồng kinh tế có liên quan đến việc sản xuất
và kinh doanh.
• Quản lý và sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả đồng thời tự tạo các
nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị,
tự bù đắp các chi phí, cân đối giữa xuất khẩu – nhập khẩu bảo đảm thực hiện
sản xuất kinh doanh có lãi và làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà Nước.
• Nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả các biện pháp nâng cao chất lượng
mặt hàng do công ty sản xuất, kinh doanh nhằm tăng cường sức cạnh tranh và
cán bộ và công nhân ra nước ngoài ngắn hạn hoặc dài hạn, được mời cán bộ,
công nhân nước ngoài làm việc theo quy chế của Nhà Nước và Bộ Công
Thương.
Nguyễn Khánh Dung Thương Mại Quốc Tế- K46
17