Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Nhật Bản của Công ty Cổ phần May 10 - Pdf 11

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế
giới WTO là một cột mốc quan trọng, đánh dấu sự hoà nhập của Việt Nam
vào dòng chảy của nền kinh tế thế giới. Nó đem lại nhiều cơ hội cho các
doanh nghiệp Việt Nam và cũng không ít khó khăn. Để tồn tại và phát triển,
buộc các doanh nghiệp phải không ngừng nỗ lực đổi mới sản phẩm, nâng cao
chất lượng sản phẩm, tìm kiếm khách hàng, thị trường, thay đổi phương thức
kinh doanh, phải có những thay đổi để thích ứng với môi trường kinh doanh.
Dệt may là một trong những ngành chịu ảnh hưởng khá lớn của quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế. Trên thực tế, đã có nhiều doanh nghiệp dệt may phải
dừng bước trước những khó khăn thách thức của quá trình hội nhập. Nhưng
cũng có những doanh nghiệp đứng vững và thích nghi được với môi trường
thời hội nhập, tận dụng được các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế và cùng
với điểm mạnh của doanh nghiệp mình dần vươn lên khẳng định vị trí của
doanh nghiệp. Nhận thức được điều đó, công ty cổ phần May 10 đã có những
thay đổi bước đầu trong phương thức sản xuất kinh doanh của mình. Công ty
đang chuyển dần từ hình thức sản xuất thụ động gia công sang phương thức
sản xuất chủ động tự kinh doanh bằng thương hiệu của mình. Để làm được
điều đó, công ty vừa phát triển mở rộng mạng lưới tiêu thụ ở trong nước, vừa
thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường nước ngoài. Nhật Bản là một trong những
thị trường xuất khẩu chính, một thị trường tiêu dùng lớn thứ hai thế giới, hứa
hẹn nhiều cơ hội cho công ty cũng như cho các doanh nghiệp khác của nước
ta khi xuất khẩu vào thị trường này. Nhưng Nhật Bản cũng được đánh giá là
một thị trường có không ít khó khăn đối với các doanh nghiệp tham gia xuất
khẩu vào thị trường này. Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phẩn May 10,
cùng với những kiến thức đã được học và khả năng của mình, tôi đã quyết
định chọn đề tài: “Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc
sang thị trường Nhật Bản của công ty cổ phần May 10”.
1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
HÀNG MAY MẶC CỦA DOANH NGHIỆP SANG THỊ TRƯỜNG
NHẬT BẢN
I. Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu của doanh nghiệp
1. Khái niệm về xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động đưa hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc
gia khác. Xuất khẩu được coi là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài ít
rủi ro và chi phí thấp. Dưới giác độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các
hàng hoá, dịch vụ. Dưới giác độ phi kinh doanh như làm quà tặng hoặc viện
trợ không hoàn lại thì hoạt động đó lại là việc lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ
qua biên giới quốc gia. (7, Trang 272)
2. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp
Khi tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế, mục tiêu của các doanh
nghiệp là mở rộng thị trường, tăng doanh số bán, tiếp thu kinh nghiệm. Xuất
khẩu là phương thức thâm nhập thị trường quốc tế ít rủi ro và chi phí thấp nên
được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng trong thời gian đầu khi mới thâm nhập
vào thị trường quốc tế.
Không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá, phải khẳng định được uy tín
và thương hiệu của mình. Một khi doanh nghiệp có uy tín trên thị trường quốc
tế thì cũng tạo được sự tin tưởng lớn hơn đối với khách hàng trong nước. Nhờ
đó, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường nội địa sẽ cao hơn,
sức tiêu thụ hàng Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu, có thể coi nó là “sợi chỉ
đỏ” xuyên suốt quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất khẩu
mang lại cho doanh nghiệp nguồn lợi nhuận không nhỏ thông qua việc tăng
doanh số bán. Đây là vai trò quan trọng nhất của xuất khẩu đối với doanh
nghiệp.
Trên thị trường quốc tế, mức độ cạnh tranh gay gắt hơn nên doanh nghiệp
phải không hoá của doanh nghiệp cũng tăng lên đáng kể, lợi nhuận cũng sẽ
tăng.
Xuất khẩu giúp doanh nghiệp tiếp thu được những kinh nghiệm quản lý

công) để chế biến ra sản phẩm theo yêu cầu, giao lại cho bên kia để nhận một
khoản tiền (được gọi là phí gia công)
3.6 Xuất khẩu tại chỗ
Là hình thức kinh doanh xuất khẩu còn khá mới nhưng đã được phổ biến
rộng rãi. Các doanh nghiệp bán hàng hoá, cung cấp các dịch vụ của mình cho
4
Chuyên đề tốt nghiệp
các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân nước ngoài ngay trên lãnh thổ quốc gia
mình. Do đó, giảm được chi phí cũng như rủi ro, góp phần gia tăng lợi nhuận.
3.7 Xuất khẩu uỷ thác
Là hình thức kinh doanh xuất khẩu trong đó các công ty chỉ đóng vai trò
trung gian xuất khẩu thực hiện những thủ tục cần thiết để xuất hàng thay cho
nhà sản xuất và hưởng phí uỷ thác.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của doanh
nghiệp
4.1 Nhân tố môi trường vĩ mô
* Nhân tố kinh tế, chính trị, luật pháp
Kinh tế ngày càng phát triển, sự phân công lao động và chuyên môn hoá
sản xuất ngày càng sâu sắc. Ngành sản xuất hàng may mặc có xu hướng
chuyển dần từ các nước công nghiệp mới NICs sang các nước đang phát triển.
Mặt khác, nhu cầu hàng may mặc ngày càng lớn. Đây là điều kiện thuận lợi
cho hoạt động xuất khẩu hàng may mặc phát triển.
Nhân tố chính trị, luật pháp ảnh hưởng đến sự hình thành các cơ hội
thương mại cũng như khả năng hạn chế rủi ro, thực hiện mục tiêu của doanh
nghiệp khi tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế. Chính trị ổn định thì
việc kinh doanh sẽ giảm bớt được rủi ro, có thể dự báo trước những rủi ro,
thực những kế hoạch kinh doanh dài hạn do nhu cầu của khách hàng thay đổi
từ từ, có thể dự báo được. Ngược lại, chính trị không ổn định rủi ro sẽ rất lớn
do nhu cầu thay đổi đột ngột, các hoạt động diễn ra khó khăn hơn…
Xuất khẩu không chỉ chịu ảnh hưởng của luật pháp quốc gia mà còn chịu

Đối thủ cạnh tranh trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay phải
kể đến các nước ASEAN như Thái Lan, Indonexia, Singapore,… Họ có nhiều
điều kiện thuận lợi hơn chúng ta: có sẵn thị trường, khoa học công nghệ tiên
tiến, các điều kiện phục vụ sản xuất tốt hơn, chi phí rẻ hơn…Trung Quốc
cũng là một đối thủ cạnh tranh đáng “gờm”. Hàng Trung Quốc có ưu điểm là
giá rẻ nên dễ xâm nhập thị trường hơn.
Khách hàng cũng là đối tượng có ảnh hưởng không nhỏ tới mức độ cạnh
tranh của doanh nghiệp. Thu nhập, mức sống của người dân ngày càng tăng,
sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng nên họ có nhiều sự lựa chọn hơn và
yêu cầu ngày càng cao hơn về sản phẩm. Doanh nghiệp phải nghiên cứu, tìm
hiểu để đưa ra được những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng, có
như thế mới “đứng vững” được trên thị trường.
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Những nhà cung cấp nguyên vật liệu cũng ảnh hưởng tới hoạt động xuất
khẩu của doanh nghiệp. Nếu số lượng nhà cung cấp ít trong khi số nhà sản
xuất quá nhiều có thể dẫn tới trường hợp doanh nghiệp không mua được
nguyên vật liệu đầu vào hoặc bị ép giá, phải mua với giá cao…
4.2 Nhân tố nội bộ doanh nghiệp
* Nhân tố con người
Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu trong kinh doanh để đảm bảo sự thành
công. Nhờ con người, các yếu tố vốn, kỹ thuật, công nghệ,…mới có thể kết
hợp với nhau để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Nếu
con người không có trình độ thì dù máy móc có hiện đại, vốn có lớn đến đâu
cũng không phát huy được tác dụng. Đặc biệt đối với những doanh nghiệp
thực hiện hoạt động xuất khẩu, phải tiến hành hoạt động kinh doanh của mình
tại thị trường nước ngoài, nơi có những đặc điểm hoàn toàn khác hẳn trong
nước về thị hiếu, sở thích, văn hoá, luật pháp… lại xa xôi về mặt địa lý. Nếu
đội ngũ cán bộ công nhân viên không có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ,
không tổ chức tốt bộ máy quản lý, mạng lưới thông tin thì việc kinh doanh sẽ

làm ảnh hưởng đến doanh số, từ đó tạo dựng được uy tín của doanh nghiệp.
Ngược lại, hàng hoá chất lượng kém sẽ ảnh hưởng đến doanh số bán, giảm uy
tín của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu để tạo ra
những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, đảm bảo giá cả
phải chăng, chất lượng ổn định.
Ngoài ra còn có các nhân tố khác ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của
doanh nghiệp như thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp, các nguồn cung cấp
đầu vào…
II. Nội dung hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
1. Các nội dung của hoạt động xuất khẩu
1.1 Nghiên cứu tiếp cận thị trường
Đây là bước đầu tiên mà bất kỳ doanh nghiệp nào tham gia kinh doanh
trên bất kỳ thị trường nào cũng phải thực hiện để đưa ra được những phương
án kinh doanh hiệu quả nhất. Chúng ta có thể sử dụng nguồn thông tin sơ cấp
hoặc thứ cấp khi nghiên cứu thị trường. Có hai phương pháp để tiến hành
nghiên cứu thị trường:
• Nghiên cứu tại bàn: nghiên cứu thị trường một cách khái quát thông qua
các nguồn thông tin thứ cấp, đó là các thông tin có sẵn trong các báo cáo,
trong các nghiên cứu của các cơ quan quản lý…
8
Chuyên đề tốt nghiệp
• Nghiên cứu tại hiện trường: nghiên cứu thị trường một cách chi tiết
thông qua nguồn thông tin thứ cấp. Đó là nguồn thông tin mà doanh nghiệp
phải bỏ kinh phí, thời gian, nhân lực… để tìm hiểu thực tế thị trường nhằm
thu thập được những thông tin cần thiết.
Khi tiến hành nghiên cứu thị trường doanh nghiệp phải nghiên cứu những
nội dung chủ yếu sau:
+ Dung lượng thị trường: nghiên cứu lượng cầu thị trường, thị hiếu người
tiêu dùng, sức cung của nhà cung cấp, nhà phân phối hiện tại trên thị trường
để xác định xem dung lượng thị trường lớn hay nhỏ.

Sau khi lựa chọn được mặt hàng, thị trường và lựa chọn được đối tác kinh
doanh, doanh nghiệp tiến hành xây dựng phương án kinh doanh để thực hiện
mục tiêu của mình.
1.3 Lựa chọn hình thức và biện pháp giao dịch đàm phán để ký kết hợp
đồng xuất khẩu
Công tác giao dịch và đàm phán vô cùng quan trọng trong việc đưa ra các
điều khoản chủ yếu của hợp đồng các bên. Mục đích cuối cùng của công tác
giao dịch và đàm phán là ký kết được hợp đồng. Đó là sự thoả thuận giữa các
bên về việc mua bán hàng hoá quốc tế: bên bán có nghĩa vụ chuyển cho bên
mua quyền sở hữu hàng hoá, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán
tiền hàng. Tuỳ thuộc vào điều kiện và mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp mà
đưa ra hình thức giao dịch và đàm phán phù hợp. Các điều khoản chủ yếu
trong hợp đồng là: điều khoản về tên hàng, chất lượng, số lượng, bao bì và kí
mã hiệu hàng hoá, giá cả hàng hoá, điều khoản về giao nhận hàng, điều khoản
về thanh toán .
1.4 Công tác tạo nguồn hàng xuất khẩu
Công tác tạo nguồn được thực hiện sau khi doanh nghiệp đã ký kết hợp
đồng xuất khẩu. Kế hoạch tạo nguồn được xây dựng và thực hiện tuỳ thuộc
vào mặt hàng mà doanh nghiệp xuất khẩu. Đối với các công ty sản xuất thuỷ
hải sản thì việc tạo nguồn được thực hiện là việc thu mua nông sản, tiến hành
sơ chế hay sản xuất tiếp tuỳ thuộc vào yêu cầu hàng hoá và yêu cầu của khách
hàng. Đối với các công ty sản xuất hàng xuất khẩu như hàng may mặc, việc
tạo nguồn là việc mua nguyên vật liệu đầu vào, sau đó tiến hành phân công
sản xuất đến từng phân xưởng, cá nhân cụ thể.
Để thực hiện tốt công tác tạo nguồn, doanh nghiệp phải tìm hiểu kỹ các
nguồn cung ứng nguyên vật liệu sao cho đáp ứng các yêu cầu trong hợp đồng
10
Chuyên đề tốt nghiệp
đã ký. Các doanh nghiệp thường ưu tiên lựa chọn các nhà cung ứng có mối
quan hệ làm ăn lâu dài, giá cả và chất lượng sản phẩm ổn định. Các doanh

11
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Giải quyết khiếu nại (nếu có)
1.6 Đánh giá kết quả thực hiện
Sau khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp cần tiến hành đánh
giá kết quả đã đạt được để từ đó có kế hoạch cho quá trình kinh doanh tiếp
theo. Các chỉ tiêu thường sử dụng để đánh giá kết quả xuất khẩu của doanh
nghiệp là: tổng doanh thu xuất khẩu, tổng chi phí thực hiện, lợi nhuận xuất
khẩu, so sánh giá xuất khẩu với giá quốc tế…
2. Biện pháp thúc đẩy xuất khẩu đối với doanh nghiệp
2.1 Sự cần thiết của việc thúc đẩy xuất khẩu
Trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, không một quốc gia
nào có thể phát triển mà không mở cửa nền kinh tế của mình. Xuất khẩu là
một trong những cách thức mở cửa nền kinh tế được nhiều quốc gia áp dụng
nhất. Như đã phân tích, xuất khẩu có vai trò quan trọng đối với sự phát triển
của một quốc gia. Vì thế, nhiều quốc gia xem việc thúc đẩy xuất khẩu là rất
quan trọng. Thúc đẩy xuất khẩu giúp các nước trên thế giới có thể khai thác
triệt để tiềm năng, thế mạnh của mình, đồng thời giảm thiểu được những bất
lợi, từ đó tạo ra được nhiều hàng hoá hơn, giúp người tiêu dùng có thể được
tiêu dùng nhiều hơn với giá cả thấp hơn. Cũng nhờ đó, các quốc gia trên thế
giới có sự liên kết, hợp tác chặt chẽ hơn, giảm dần chênh lệch giữa các quốc
gia, góp phần làm cho quá trình phân công lao động quốc tế được thuận lợi
hơn.
Đối với Việt Nam, thúc đẩy xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc
thực hiện đường lối công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Đây là một hướng
đi đúng đắn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi mà thị trường trong nước
ngày chật hẹp và sức cạnh tranh từ hàng hoá ngoại nhập ngày càng tăng. Nhờ
thúc đẩy xuất khẩu doanh nghiệp có thể:
+ Có cơ hội mở rộng thị trường: được hoạt động trên thị trường thế giới
rộng lớn, nhu cầu phong phú và đa dạng, sức tiêu thụ hàng hoá cao, khả năng

khẩu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có sự sắp xếp, phân công công
việc một cách hợp lý giữa các bộ phận phong ban, giữa các cá nhân. Mỗi bộ
phận, phòng ban, mỗi cá nhân đảm nhiệm những nhiệm vụ cụ thể, các nhiệm
vụ đó được chia càng nhỏ càng tốt. Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần
tập thể của tất cả các cá nhân, xây dựng tác phong làm việc công nghiệp, hiện
đại trong toàn doanh nghiệp. Đồng thời, tăng cường công tác đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực. Đối với cán bộ quản lý, nâng cao kiến thức và khả năng
làm việc, nhất là những cán bộ liên quan trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Nâng cao trình độ, tay nghề của công nhân, những đối tượng ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng sản phẩm. Để làm được điều này, doanh nghiệp phải làm
tốt ngay từ khâu lựa chọn, tuyển dụng kết hợp với việc tổ chức các chương
trình đào tạo, các cuộc thi tay nghề trong quá trình sản xuất. Có những chính
sách khuyến khích khả năng sáng tạo của cán bộ, công nhân viên. Nhờ thế,
năng suất lao động sẽ tăng lên, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
+ Tổ chức tốt công tác tạo nguồn: công tác tạo nguồn có vai trò rất quan
trọng đối với doanh nghiệp. Nó quyết định tiến độ của quá trình sản xuất kinh
doanh, quyết định chất lượng sản phẩm, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến lợi
nhuận, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần tổ
chức tốt công tác tạo nguồn, đảm bảo yêu cầu: đúng, đủ, đồng bộ, chất lượng,
kịp thời. Để thực hiện được yêu cầu đó cần phải tìm được những nhà cung
cấp có uy tín, có giá cả và chất lượng ổn định. Doanh nghiệp phải duy trì mối
quan hệ làm ăn lâu dài với những nhà cung cấp đó, đồng thời phải tổ chức tốt
việc dự đoán cung cầu nguồn hàng trên thị trường hiện tại cũng như tương lai,
dự đoán tình hình biến động của giá cả. Có như thế, doanh nghiệp mới khai
thác được những lợi thế của mình và tận dụng được thuận lợi mà nhà cung
cấp dành cho mình. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc nước
ta thì việc thiết lập mối quan hệ làm ăn chặt chẽ và lâu dài với các nhà cung

III. Khái quát về thị trường hàng may mặc Nhật Bản
1. Đặc điểm về thị trường về may mặc
Đặc điểm của sản phẩm may mặc:
+ Là nhu cầu tất yếu của con người. Dù người già hay trẻ, giàu hay nghèo
thì không thể không dùng sản phẩm may mặc. Do đó, mặt hàng này rất phong
phú và đa dạng do lứa tuổi, sở thích, thị hiếu, phong tục tập quán… khác
nhau.
+ Là sản phẩm có tính thời vụ cao. Sản phẩm may mặc phụ thuộc rất nhiều
vào thời tiết. Trên thế giới có nhiều khu vực địa lý khác nhau với khí hậu
khác nhau và thay đổi theo mùa. Sản phẩm may mặc phải thay đổi theo từng
vùng, theo từng mùa khác nhau.
+ Là sản phẩm có tính thời trang cao. Nhu cầu về sản phẩm may mặc ngày
nay được xem là nhu cầu làm đẹp, nhu cầu thời trang, nó luôn thay đổi theo
thời gian, theo phong cách và cá tính của từng người.
+ Chu kỳ sống sản phẩm ngắn. Mỗi sản phẩm may mặc gắn liền với một
mẫu mã, kiểu cách nhất định, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng tại
15
Chuyên đề tốt nghiệp
thời điểm nó được tung ra thị trường. Sau đó sẽ bị lỗi mốt, không còn được ưa
chuộng và thay vào đó là sự xuất hiện của sản phẩm mới hợp thời trang hơn.
+ Việc sản xuất hàng may mặc cần nhiều nhân công và cần có sự khéo léo,
tỉ mỉ vì để sản xuất ra một sản phẩm phải trải qua rất nhiều công đoạn: thiết
kế, cắt, may, thuê thùa, là…
+ Chất lượng của hàng may mặc có nhiều cấp độ khác nhau, từ bình dân
đến cao cấp tuỳ thuộc vào thu nhập của từng người.
Đặc điểm của thị trường may mặc:
+ Thị trường hàng may mặc luôn sôi động với những hoạt động mua và
bán bởi nhu cầu về sản phẩm may mặc rất đa dạng, số lượng lớn và thường
xuyên.
+ Thị trường không co giãn về giá. Vì sản phẩm may mặc yêu cầu về công

đổi theo mùa. Vì thế, các nhà nhập khẩu Nhật quan tâm nhiều hơn đến việc
nhập những sản phẩm hợp thời trang và hợp mùa vụ nhằm đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng, mua sắm của các đối tượng khách hàng.
* Nhật Bản có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân và mùa thu mát
mẻ, dễ chịu. Mùa hạ nóng, ẩm ướt. Mùa đông lạnh và khô. Do đó ảnh hưởng
đến khuynh hướng tiêu dùng của người Nhật. Hàng may mặc xuất khẩu vào
Nhật cần phải phù hợp với từng mùa cả về mặt chất liệu và kiểu dáng.
* Từ năm 1997, do thuế tiêu thụ tăng và đồng Yên mất giá nên mức tiêu
dùng hàng dệt may của Nhật bị giảm sút. Các nhà kinh doanh Nhật đã thay
đổi cơ cấu kinh doanh, thu hẹp quy mô sản xuất, tập trung nghiên cứu các sản
phẩm mang tính thời tran, vòng đời ngắn. Hiện nay, hình thức kinh doanh phổ
biến ở Nhật là người sản xuất nhận luôn khâu bán hàng.
* Hàng may mặc nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản tăng rất nhanh. Từ
những năm 1987 đến nay, hàng nhập khẩu luôn chiếm tới 60% giá trị và hơn
60% số lượng trên thị trường Nhật Bản. Trung Quốc đứng đầu danh sách các
nước xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản, chiếm từ 60 – 70%. Hiện nay,
hàng nhập khẩu từ Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông giảm dần trong khi nhập
khẩu từ các nước Việt Nam, Thái Lan, Indonexia và các nước ASEAN khác
ngày một gia tăng.
* Hàng dệt may vào thị trường Nhật Bản không phải theo một quy định
nào, tức là được nhập tự do vào Nhật. Hàng dệt may sử dụng một phần da hay
phụ kiện da phải tuân thủ theo công ước Washington. Nhãn hiệu hàng dệt
may phải đảm bảo các yêu cầu quy định của Nhật.
17
Chuyên đề tốt nghiệp
* Hàng may mặc nhập khẩu vào Nhật luôn đi qua hệ thống phân phối bắt
đầu từ các công ty thương mại tổng hợp hoặc các công ty chuyên ngành, sau
đó đến các nhà bán buôn, những người bán lẻ, cuối cùng là người tiêu dùng.
Hoặc việc nhập khẩu sẽ do chi nhánh của các công ty thương mại tại nước
xuất xứ thực hiện, sau đó hàng hoá sẽ được chuyển qua công ty mẹ tại Nhật

Tên công ty: Công ty cổ phần may 10
Tên viết tắt: Garco 10
Tên giao dịch quốc tế: Garment 10 Joint Stock Company (Garco 10 JSC)
Trụ sở chính: Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội
Điện thoại: 84 48276923 Fax: 84 48276925
Email: Website: http:// www.garco10.com.vn
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty (1, Trang 5 – 10)
1.1 Quá trình hình thành công ty
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến, các cơ sở sản xuất quân trang
này đều được đặt tên theo bí số của quân đội như X1, X30, AK1, AM1, BK1,
CK1,… Đây chính là những đơn vị tiền thân của xưởng May 10.
Tại chiến khu Việt Bắc, xưởng may AK1, BK1, CK1 được sáp nhập thành
xưởng may Hoàng Văn Thụ, sau đó đổi tên thành xưởng may 1 mang bí số
X1. Đến năm 1952, X1 được đổi tên thành xưởng May 10 (X10), mà hiện nay
là công ty cổ phần May 10.
1.2 Quá trình phát triển của công ty
*Từ năm 1952 – 1960: : lớn lên và trưởng thành trong công cuộc xây
dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Xưởng May 10 di chuyển về khu rừng Bộc Nhiêu (Định Hoá – Thái
Nguyên). Tại đây, May 10 đã đi vào hoạt động ổn định, sản xuất vượt gian
khổ để phục vụ kháng chiến.
Năm 1954, May 10 được chuyển về Hà Nội. Cùng sáp nhập với xưởng
May X40 từ Thanh Hoá chuyển ra và thợ may quân nhu liên khu V, lấy tên
19
Chuyên đề tốt nghiệp
gọi là xưởng May 10. Nhiệm vụ của xưởng May 10 vẫn là may quân trang,
quân phục.
Năm 1956, xưởng May 10 trở thành đơn vị sản xuất quân trang lớn nhất
của Cục quân nhu - Tổng cục hậu cần và chính thức đi vào hoạt động trong
điều kiện hoàn cảnh mới: đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc.

May 10 thành công ty May 10 thuộc tổng công ty Việt Nam, với tên giao dịch
quốc tế là Garco 10 (quyết định số 1090/TCDM).
Ngày 22/04/2004, Bộ Công nghiệp đã ra quyết định cho phép công ty May
10 cổ phần hoá. Ngày 7/1/2005, Công ty May 10 chính thức ra mắt công ty cổ
phần với tên giao dịch quốc tế là Garco 10 JSC. Công ty May 10 có vốn điều
lệ là 54 tỷ đồng. Trong đó, cổ phần Nhà nước giữ 51%, cổ phần bán cho
người lao động trong công ty 49%.
Đến nay, Công ty đã khẳng định được tên tuổi của mình trong ngành may
mặc Việt nam. Công ty đã nhận được những chứng nhận, những giải thưởng
cao quý, khẳng định chất lượng, thương hiệu của Công ty:
+ Là đơn vị duy nhất trong ngành Dệt – May Việt Nam được nhận giải
thưởng chất lượng quốc tế Châu Á – Thái Bình Dương do tổ chức chất lượng
Châu Á – Thái Bình Dương (APQO) trao tặng năm 2003
+ Giải thưởng Sao vàng đất Việt 20006 – 2007; Nhãn hiệu cạnh tranh nổi
tiếng quốc gia 2006; Top 10 thương hiệu mạnh toàn quốc 2006; Top 5 ngành
hàng của thương hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao.
+ Công ty đang áp dụng 3 hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn quốc
tế: ISO 9001 – 2000, ISO 14000 – 2003 và SA 8000,
2. Chức năng của Công ty cổ phần May 10
Công ty cổ phần May 10 là một công ty cổ phần thuộc Tổng Công ty Dệt
May Việt Nam (VINATEX) có chức năng chính là sản xuất và kinh doanh
các sản phẩm may mặc như: Jacket các loại, comple, quần âu… và đặc biệt
sản phẩm mũi nhọn của công ty là áo sơ mi nam.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được tiến hành theo ba
phương thức chính là:
21
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Nhận gia công toàn bộ theo hợp đồng: công ty sẽ nhận nguyên vật liệu
và phụ liệu từ phía khách hàng theo hợp đồng, sau đó tiến hành gia công
thành thành phẩm hoàn chỉnh rồi giao cho khách hàng.

Tổng giám đốc
ĐDLĐ về
ATSK
Phó tổng

GĐ điều
hành 1
ĐDLĐ về
MT
ĐDLĐ về
CL
Giám đốc
diều hành
Giám đốc
điều hành
P. Kinh doanh
Phòng QA
Tổ kiểm kê
Tổ quản trị
Trưởng ca A
Phòng kế hoạch
Các XN may
Tổ hòm hộp
Trưởng ca B
Khối văn phòng
Ban đầu tư
Phòng kế toán
Phòng kỹ thuật
Các PX phụ trợ
XN thành viên

chức cắt, may, là gấp, đóng gói đến nhập thành phẩm vào kho theo quy định.
Các phân xưởng phụ trợ: đảm nhiệm các nhiệm vụ sản xuất các chi tiết
nhỏ, góp phần hoàn thiện sản phẩm.
Phòng kho vận: quản lý việc nhập và xuất kho các loại nguyên vật liệu,
các bán thành phẩm và thành phẩm, quản lý quá trình vận chuyển sản phẩm
đến các kênh tiêu thụ
Trường công nhân kỹ thuật may - thời trang: trực thuộc Ban giám đốc,
có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân kỹ thuật phục vụ cho quy
25

Trích đoạn Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường Nâng cao khả năng thiết kế, đa dạng hoá sản phẩm Đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử Đối với Bộ Công thương và các cơ quan có liên quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status