LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu sản phẩm dứa
của Tổng công ty Rau quả việt nam
Lời mở đầu
Toàn cầu hoá là xu thế của quá trình phát triển kinh tế thế giới. Lịch sử đã
chứng minh rằng, không một quốc gia nào bằng chính sách đóng cửa lại phát triển
nền kinh tế trong nước. Với thời kỳ bùng nổ thông tin như hiện nay thì sự hội nhập
là cần thiết. Mỗi một quốc gia muốn phát triển nhanh, mạnh thì phải hội nhập với
nền kinh tế thế giới để có thể tận dụng có hiệu quả tất cả các thành tựu khoa học kỹ
thuật của loài người đã đạt được. Đồng thời sự phân công lao động sẽ giúp mỗi
nước phân bổ nguồn lực một cách có lợi nhất.
Việt Nam, với chính sách đổi mới mở cửa, đã tạo ra những cơ hội to lớn cho
các doanh nghiệp. Nhưng bên cạnh đó là sự cạnh tranh cũng ngày gay gắt và khóc
liệt. Trong cơ chế thị trường, sự đào thải là rất lớn. Đối với các doanh nghiệp nhà
nước ở nước ta hiện nay khi bước vào cơ chế thị trường đã gặp không ít khó khăn
Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sản
phẩm dứa của Tổng công ty Rau quả việt nam
Em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thừa Lộc, Ths Nguyễn Anh Tuấn cùng
các cô chú tại phòng XNK I đã giúp em hoàn thành chuyên đề này.
Chương i
lý luận chung về xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
I. xuất khẩu và vai trò của hoạt động xuất khẩu
1. Khái niệm
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho một quốc gia
khác trên cơ sở dùng tiền tệ để thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với
một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động xuất nhập khẩu là
khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế, và khi
trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia là có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia
vào hoạt động này.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng, cả về không gian lẫn thời
gian. Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn, song nó cũng có thể kéo dài hàng
năm. Nó có thể được tiến hành trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia. Nó
diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng
cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị và công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các
hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các nước tham gia.
Hoạt động xuất khẩu là một hình thức cơ bản của thương mại quốc tế, đã xuất
hiện từ rất lâu đời và ngày càng phát triển. Tuy hình thức đầu tiên chỉ là hàng đổi
hàng song ngày nay xuất khẩu được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như:
xuất khẩu trực tiếp,xuất khẩu qua trung gian, buôn bán đối lưu, xuất khẩu ủy thác,
xuất khẩu theo nghị định thư
khẩu, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự tăng
trưởng kinh tế của mỗi quốc gia đòi hỏi phải có bốn điều kiện: nhân lực, tài nguyên,
vốn và kỹ thuật. Song không phải quốc gia nào cũng có đủ bốn điều kiện đó. Để
giải quyết tình trạng này buộc họ phải nhập từ bên ngoài những yếu tố mà trong
nước chưa có khả năng đáp ứng.
Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý và phát triển
sản xuất trong nước. Các nước sẽ sản xuất nhiều hơn và đi vào chuyên môn hoá
những sản phẩm hàng hoá mà sẽ đem lại lợi nhuận khi xuất khẩu, khi nền sản xuất
trong nước phát triển đã thoả mãn được những nhu cầu tiêu dùng trong nước còn
những sản phẩm thừa có thể đem xuất khẩu tới các quốc gia khác không co lợi thế
đối với sản phẩm đó. Xuất khẩu là một động lực phát triển nền kinh tế xã hội do đó
cúng lam chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo một xu hướng chung từ nền nông nghiệp
sang công nghiệp và dịch vụ. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sẽ giúp các nước kém
phát triển (như Việt nam) chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công
nghiệp, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới.
2.3 Đối với nền kinh tế thế giới
Do những điều kiện khác nhau nên một quốc gia có thể mạnh về lĩnh vực này
nhưng lại yếu về lĩnh vực khác. Vì vậy, để có thể khai thác được lợi thế, tạo ra sự
cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hành trao đổi
với nhau dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo. Ông nói rằng: " Nếu một
quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các
loại sản phẩm, thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra
lợi ích của chính mình" . Và khi tham gia vào thương mại quốc tế thì "quốc gia có
hiệu quả thấp trong sản xuất các loại hàng hóa sẽ tiến hành chuyên môn hóa sản
xuất và xuất khẩu các loại hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng là ít bất lợi nhất và
nhập khẩu những loại mặt hàng mà việc sản xuất ra chúng có bất lợi lớn hơn". Nói
cách khác, mọi quốc gia đều có thể tìm ra điểm có lợi để khai thác. Chuyên môn
hóa làm cho mỗi quốc gia đều khai thác được lợi thế của mình một cách tốt nhất,
giúp tiết kiệm được nguồn lực như vốn, kỹ thuật, nhân lực trong quá trình sản
xuất hàng hóa và từ đó có thể thu được lợi ích từ hoạt động xuất khẩu. Do đó, tổng
Hình thức này bao gồm các bước:
- Ký hợp đồng với bên nước ngoài và nhập nguyên liệu.
- Ký hợp đồng gia công ủy thác với đơn vị trong nước.
- Giao nguyên vật liệu gia công theo định mức.
- Thanh toán phí gia công cho đơn vị sản xuất và nhận phí ủy thác gia công
được hưởng.
Hình thức này có ưu điểm là không cần bỏ nhiều vốn vào kinh doanh nhưng
vẫn thu được nhiều lợi nhuận, rủi ro ít, tận dụng được nguồn lao động ở các nước
khác, việc thanh toán đảm bảo vì đầu ra chắc chắn. Nhưng nó cũng đòi hỏi phải có
các cán bộ dày dạn kinh nghiệm và phải làm nhiều thủ tục xuất khẩu.
3.4 Hình thức mua bán đối lưu
Đây là một phương thức giao dịch trong đó kết hợp chặt chẽ giữa xuất khẩu và
nhập khẩu. Người bán đồng thời là người mua và lượng hàng trao đổi phải có giá trị
tương đương, nghĩa là hàng hóa hai bên phải được cân bằng cả về mặt hàng, giá cả,
tổng giá trị và điều kiện giao hàng. Ví dụ, mặt hàng quý đổi lấy mặt hàng quý, hàng
tồn kho đổi lấy hàng tồn kho, nhập hàng với gía CIF thì xuất hàng cũng phải với giá
CIF
Buôn bán đối lưu có hai nghiệp vụ chủ yếu là hàng đổi hàng và nghiệp vụ bù
trừ:
- Nghiệp vụ hàng đổi hàng: hai bên trực tiếp trao đổi với nhau những hàng
hóa có giá trị tương đương và việc giao hàng gần như diễn ra đồng thời.
- Nghiệp vụ bù trừ: hai bên trao đổi hàng hóa với nhau trên cơ sở quan hệ giá
trị hàng giao. Đến cuối kỳ hạn, hai bên mới so sổ sách đối chiếu giá trị hàng giao
với giá trị hàng nhận. Nếu sau khi bù trừ tiền hàng mà còn số dư thì số tiền đó được
giữ lại để chi trả theo yêu cầu của chủ nợ. Nghiệp vụ này là hình thức phát triển
nhanh nhất của buôn bán đối lưu.
- Ngoài ra, trong buôn bán đối lưu còn một số nghiệp vụ khác như nghiệp vụ
mua đối lưu, nghiệp vụ chuyển giao nghĩa vụ hoặc giao dịch bồi hoàn.
3.5 Hình thức tạm nhập tái xuất
Đây là hình thức xuất khẩu những hàng hóa đã nhập khẩu trước đây nhưng
vi thị trường nhất định. Nhưng nó không xác định mà thay đổi do những nhân tố
tổng hợp trong những giai đoạn nhất định. Có thể chia làm ba nhóm nhân tố ảnh
hưởng tới dung lượng thị trường:
- Nhóm 1: Các nhân tố làm cho dung lượng thị trường biến đổi có tính chất
chu kỳ như sự vận động của tình hình kinh tế các nước trên thế giới, đặc biệt là các
nước phương tây, tính chất thời vụ trong quá trình sản xuất, phân phối và lưu thông
hàng hóa
- Nhóm 2: Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự biến đổi dung lượng thị
trường như tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, các biện pháp, chính sách của
Nhà nước, tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng, ảnh hưởng của hàng hóa thay
thế
- Nhóm 3: Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với dung lượng thị trường.
Nó bao gồm: hiện tượng đầu cơ trên thị trường gây ra những biến đổi về cung cầu,
bão lụt, hạn hán
Như vậy, khi nghiên cứu thị trường hàng hóa khác nhau phải căn cứ vào đặc
điểm của chúng để đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, xác định
được nhân tố chủ yếu có ý nghĩa quyết định đến xu hướng vận động của thị trường
trong giai đoạn hiện tại và tương lai. Đặc biệt trong quá trình kinh doanh xuất nhập
khẩu nói chung và xuất khẩu nói riêng, nắm vững dung lượng thị trường giúp cho
các nhà kinh doanh cân nhắc để đề ra những quyết định kịp thời, chính xác và
nhanh chóng chớp được thời cơ giao dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong kinh
doanh.
1.3 Nghiên cứu giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới.
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, đồng thời biểu hiện một
cách tổng hợp các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ kinh tế như quan hệ cung cầu
hàng hóa, tích lũy tiêu dùng Giá cả luôn gắn với thị trường và chịu tác động của
nhiều nhân tố.
Trong buôn bán quốc tế, giá cả thị trường rất phức tạp do việc buôn bán diễn
ra ở các khu vực khác nhau và trong một thời gian dài. Mặt khác, hàng hóa được
vận chuyển qua nhiều nước có các chính sách thuế khác nhau nên giá cả cũng khác
mới, mặt hàng mới mà cần phải nắm bắt các thông tin về thị trường. Có thể nói,
việc lựa chọn đối tác kinh doanh có căn cứ khoa học là điều kiện quan trọng để thực
hiện thắng lợi các hoạt động mua bán trong thương mại quốc tế. Song việc lựa chọn
các đối tác kinh doanh cũng tùy thuộc một phần vào kinh nghiệm của người nghiên
cứu và truyền thống trong mua bán của mình.
2. Giao dịch đàm phán và kí kết hợp đồng xuất khẩu
2.1 Giao dịch đàm phán
Đàm phán là việc bàn bạc, thoả thuận giữa hai hay nhiều bên để cùng nhau
nhất trí và thoả hiệp giải quyết về các điều kiện mua bán giữa các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu để đi đến ký kết hợp đồng. Thông thường có các hình thức: đàm
phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp, đàm phán qua thư tín, đàm phán qua điện thoại
Quá trình đàm phán thường được tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Chào hàng: đây là việc nhà kinh doanh thể hiện rõ ý định bán hàng
của mình, là lời đề nghị ký kết hợp đồng.
- Bước 2: Hoàn giá: khi khách hàng nhận được đơn chào hàng nhưng không
chấp nhận hoàn toàn các điều kiện trong đơn chào hàng đó mà đưa ra một lời đề
nghị mới thì lời đề nghị này gọi là hoàn giá.
- Bước 3: Chấp nhận: là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện chào hàng
mà phía bên kia đưa ra. Sau đó tiến hành ký kết hợp đồng.
- Bước 4: Xác nhận: sau khi hai bên thỏa thuận với nhau về điều kiện giao
dịch, có thể ghi lại tất cả các thỏa thuận gửi cho bên kia. Đó là văn kiện có chữ ký
của cả hai bên. Quá trình đàm phán kết thúc.
2.2 Hợp đồng kinh tế về xuất khẩu hàng hóa
Nếu quá trình đàm phán thành công thì các bên tiến hành kí kết hợp đồng
xuất khẩu. Hợp đồng xuất khẩu là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch
giữa các bên ký kết về việc thực hiện xuất khẩu hàng hoá, và quyền lợi và nghĩa vụ
của các bên liên quan trong hoạt động xuất khẩu đó. Đối với các đơn vị xuất khẩu
hợp đồng là hình thức tốt nhất để bảo vệ quyền lợi của cả hai bên.
Khi ký kết hợp đồng cần chú ý những điểm sau:
- Hợp đồng cần trình bày rõ ràng, sáng sủa, phản ánh đúng nội dung đã thỏa
của các doanh nghiệp. Vì vậy, tạo nguồn hàng cho xuất khẩu là công tác rất quan
trọng. Thông thường người ta tìm nguồn hàng cho xuất khẩu thông qua việc nắm
bắt khả năng cung ứng hàng xuất khẩu của các đơn vị trong và ngoài ngành và trên
cơ sở nhu cầu của khách hàng.
4. Lập phương án xuất khẩu
Dựa vào những kết quả phân tích được trong quá trình nghiên cứu thị trường,
kết hợp với mục tiêu kinh doanh cũng như tiềm lực của chính doanh nghiệp, đơn vị
kinh doanh lập phương án kinh doanh xuất khẩu cho mình. Phương án này là kế
hoạch hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn cũng như dài hạn nhằm đạt tới
những mục tiêu xác định. Việc xây dựng phương án xuất khẩu bao gồm các nội
dung sau:
- Đánh giá tình hình thị trường, về cạnh tranh, về giá cả và môi trường kinh
doanh để có thể nhận biết một cách tổng quát về những khó khăn, thuận lợi trong
quá trình kinh doanh.
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh. Sự lựa
chọn này phải có tính thuyết phục dựa trên cơ sở phân tích tình hình thực tế.
- Đề ra mục tiêu cụ thể: khối lượng, giá bán và thị trường xuất khẩu.
- Đưa ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu đó bằng các biện pháp xúc
tiến thương mại, đầu tư vào nâng cao chất lượng sản phẩm từ đó có thể tiến tới kí
kết các hợp đồng kinh tế.
- Cuối cùng là đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh thông qua các
chỉ tiêu chủ yếu như: lợi nhuận thu về, tỷ suất ngoại tệ, thời gian hoàn vốn, điểm
hòa vốn
5. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi hợp đồng được ký kết thì đơn vị kinh doanh xuất khẩu phải thực hiện
theo các quy định ghi trong hợp đồng, các bên phải có trách nhiệm thực hiện hợp
đồng theo các điều khoản đã được ký. Trước đây mọi đơn vị khi tham gia xuất khẩu
hàng ra nước ngoài đều phải xin giấy phép do cơ quan quản lý cấp, sau khi có Nghị
định 57 CP thì các doanh nghiệp đã được tạo thuận lợi hơn rất nhiều, các doanh
nghiệp chỉ cần đăng kí mã số xuất khẩu với Bộ thương mại và có thể xuất khẩu trực
Ký kết
hợp đồng
xuất khẩu
Giao hàng
lên tàu
Mua bảo
hiểm
Kiểm
tra L/C
Làm thủ
tục hải
quan
Làm thủ
tục
thanh
Chuẩn
bị hàng
hóa
Thuê
tàu
Thanh
lý hợp
đồng
hấp dẫn, thị phần rất nhỏ, khả năng thâm nhập thị trường và thông tin ít,
1.2 Môi trường văn hoá - xã hội
Đây là một trong những yếu tố tạo nên đặc điểm thị trường xuất khẩu, nó tạo
nên đặc điểm nhu cầu khách hàng ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực, mỗi dân tộc khác
nhau. Chính vì thế, khi xuất khẩu hàng sang một quốc gia nào đó thì trước tiên phải
hiểu được phong tục, tập quán và văn hoá của họ để từ đó mới có thể đưa ra những
sách lược kinh doanh, phong cách giao tiếp, tạo lâp mối quan hệ lâu dài.
1.3 Môi trường chính trị - luật pháp và chính sách kinh tế của Nhà nước
Các yếu tố thuộc lĩnh vực chính trị và luật pháp chi phối mạnh mẽ sự hình
thành cơ hội thương mại và sự hấp dẫn của thị trường. Mỗi quốc gia có một chế độ
chính trị khác nhau và đất nước được quản lý điều hành bởi bộ máy Nhà nước riêng,
luật pháp riêng. khi hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp không còn sự lựa chọn
nào hơn là thích nghi với môi trường chính trị luật pháp ở đó.
Sự ổn định của môi trường chính trị và pháp luật được xác định là một trong
những tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mức độ hoàn
thiện, thay đổi và thực thi pháp luật trong nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến kế
hoạch kinh doanh cung như sự thuận lợi trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu doanh nghiệp thường chịu ảnh
hưởng của các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước như:
a. Công cụ thuế quan
Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng
xuất khẩu, việc đánh thuế xuất khẩu làm tăng tương đối mức giá cả của hàng xuất
khẩu so với mức giá quốc tế nên đem lại bất lợi cho sản xuất kinh doanh trong
nước. Nhìn chung, công cụ này chỉ được áp dụng đối với một số ít các mặt hàng
xuất khẩu bổ xung cho nguồn thu của ngân sách đất nước.
b. Các công cụ phi thuế quan
Hạn ngạch được áp dụng như một công cụ chủ yếu trong hàng rào phi thuế
quan và ngày càng có vai trò quan trọng trong nước xuất khẩu hàng hóa. Hạn ngạch
được hiểu như quy định của nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hoặc
một nhóm hàng được phép xuất, nhập khẩu từ một thị trường trong một thời gian
toán và cán cân thương mại có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy sự tăng
trưởng kinh tế. Đương nhiên, biện pháp để cân bằng không phải là phải hạn chế
xuất khẩu, cấm nhập khẩu hoặc vay vốn mà là phải có chính sách khuyến khích sản
xuất hàng hóa xuất khẩu. Song song với việc đó là mở rộng xuất khẩu, đa dạng hóa
mặt hàng xuất khẩu. Có như vậy, một quốc gia mới có thể giảm dần nhập siêu, tiến
tới cân bằng xuất khẩu.
1.4 Môi trường kinh tế - công nghệ
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa
học công nghệ tiên tiến đã ra đời, thúc đẩy sự phát triển các ngành nghề nói chung
và các đơn vị sản xuất, kinh doanh mặt hàng xuất nhập khẩu nói riêng.
Đối với lĩnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, việc nghiên cứu và đưa vào
ứng dụng công nghệ mới sẽ giúp các đơn vị sản xuất tạo ra những sản phẩm có chất
lượng cao, gía thành thấp. Nhờ đó, chu kỳ sống của sản phẩm sẽ được kéo dài và
thu được lợi nhuận cao.
1.5 Các quan hệ kinh tế quốc tế
Quan hệ kinh tế quốc tế có tác dụng và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu. Khi xuất khẩu hàng hóa sang một nước nào đó họ
thường phải đối mặt với các rào cản như thuế quan thu nhập, thuế quan bảo hộ, sự
phân biệt đối xử với các nhà kinh doanh nước ngoài và đặc biệt là hạn ngạch nhập
khẩu. Các rào cản này chặt chẽ hay nới lỏng phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ kinh tế
song phương giữa các nước.
Trong khi đó, với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, nhiều liên
minh kinh tế ở mức độ khác nhau được hình thành và nhiều hiệp định thương mại
song phương, đa phương giữa các nước cũng đã được ký kết. Mục đích của các
công việc này là giảm bớt thuế quan giữa các nước tham gia, giảm giá cả và thúc
đẩy hoạt động thương mại trong khu vực và toàn thế giới.
Tóm lại, có được mối quan hệ kinh tế quốc tế rộng mở, bền vững và tốt đẹp
sẽ tạo ra những tiền đề thuận lợi cho việc đẩy mạnh xuất khẩu của một quốc gia.
2. Các nhân tố thuộc bản thân doanh nghiệp
2.1 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Vốn huy động: phản ánh khả năng thu hút các nguồn đầu tư.
Tỷ lệ tái đầu tư
Khả năng sinh lời
Các nguồn nợ ngằn hạn và dài hạn
+ Nếu xét về phương thức sử dụng nguồn vốn
Tài sản cố định
Tài sản lưu động
2.3 Nguồn tài sản hữu hình và trình độ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
công nghệ
Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với sự phát triển của tư liệu lao
động. Sự phát triển tư liệu lao động gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng năng suất lao
động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành. Như vậy, cơ sở vật chất
kỹ thuật là một nhân tố hết sức quan trọng trong việc tăng hiệu quả sản xuất. Nếu
xét trong mối quan hệ với lao động thì cơ sở vật chất kỹ thuật vừa là công cụ vừa là
môi trường tốt để nâng cao năng lực của đội ngũ lao động. Đội ngũ lao động có
năng lực, có trình độ kết hợp với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại thì hiệu quả kinh
doanh sẽ rất cao. Và cơ cấu nguyên liệu vật liệu hợp lý cả về số lượng, chất lượng là
yếu tố quan trọng để đảm bảo sự liên tục của qúa trình sản xuất kinh doanh, giúp
cho quá trình sử dụng nguyên liệu có hiệu quả và do đó quá trình sản xuất kinh
doanh có hiệu quả. Rõ ràng, mức độ chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp bị
tác động rất mạnh mẽ bởi trình độ hiện đại, cơ cấu tính đồng bộ, duy trì khả năng
làm việc theo thời gian của máy móc thiết bị và việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm
nguyên liệu . Đặc biệt là những doanh nghiệp mà tính chất sản xuất hàng loạt theo
dây truyền tự động hoá cao. Đối với doanh nghiệp này, nhân tố khoa học kỹ thuật
có tính chất quyết định tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm quyết định
tính cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã thực sự đưa khoa
học công nghệ có vai trò quyết định đối với nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu
quả và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế ở nước ta, phù hợp với xu thế đó, hầu hết
các doanh nghiệp đã và đang tìm mọi biện pháp để nâng cao khả năng đầu tư, ngày
Nếu chỉ tiêu này thấp hơn tỷ giá hối đoái trên thị trường thì xuất khẩu có hiệu
quả.
3.2. Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp , nó phản ánh kết quả cuối cùng các tác
động của tất cả các yếu tố vào hoạt động xuất khẩu.
Lợi nhuận là phần dôi ra của doanh thu (DT) so với chi phí (CP)
L = DT – CP
3.3. Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn T tính theo công thức
T =
S
B + A + I
Trong đó :
S : tổng số tiền (tự có + đi vay ) bỏ ra để kinh doanh
B : lãi