TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
PHÂN PHỐI THU NHẬP, NGHÈO ĐÓI VÀ
BẤT BÌNH ĐẲNG
Người hướng dẫn: TS. NGUYỄN THỊ MINH HIỀN
Nhóm thực hiện: Nhóm 4 - Lớp Cao học KT B2 - K17
Nguyễn T.Thu Huyền (1977)
Nguyễn Thị Lan Hương
Trần Thị Mai Hương
Đỗ Thị Mai Hường
Nguyễn Văn Luận
Ngô Văn Nam
Nguyễn Thị Đông Mai
HÀ NỘI - 2009
CHUYấN
PHN PHI THU NHP, NGHẩO ểI V BT BèNH NG
Mt xó hi phỏt trin l nim m c v mong mun ca nhiu quc gia
trờn th gii. Tuy nhiờn, cựng vi s phỏt trin l s ny sinh v tn ti cỏc vn
kinh t - xó hi nh: phõn phi thu nhp v nghốo úi, dõn s v s gia tng
dõn s, vic lm v tht nghip . Trc tỡnh hỡnh ú nhúm chỳng tụi tin hnh
nghiờn cu chuyờn "Phõn phi thu nhp, nghốo úi v bt bỡnh ng".
I. Mụ hỡnh v s bt bỡnh ng
Sau chiến tranh TG lần thứ 2, các nớc đang phát triển đều nhấn mạnh vai
trò của tăng trởng, coi đó nh là một điều kiện thiết yếu cho sự phát triển kinh tế
- xã hội. Nhng một thực tế cho thấy, từ những năm 60 trở lại đây, mặc dù nhiều
nớc đang phát triển đạt đợc tốc độ tăng trởng tơng đối cao, thu nhập bình quân
đầu ngời đợc nâng cao nhng mức sống của hàng trăm triệu ngời ở Châu Phi,
châu á, Mỹlatinhhầu nh không tăng, phân phối thu nhập càng trở nên xấu đi,
nghèo đói vẫn là một hiện tợng phổ biến ở các nớc đang phát triển. Tại sao vậy?
Cụng trỡnh nghiờn cu mi quan h gia tng trng v phõn phi thu nhp
1
, Q
2
), ta thấy hệ số GINI tăng lên. Mức bất bình đẳng tăng.
- Khi thu nhập tăng lên mức cao (Q
3
), ta thấy hệ số GINI giảm xuống.
Mức độ bất bình đẳng giảm hay sự phân phối được cải thiện.
Hạn chế của mô hình:
Kuznets chỉ đưa ra được nhận xét tổng quát mang tính quy luật, ông chưa
giải thích được 2 vấn đề quan trọng sau:
+ Nguyên nhân cơ bản nào tạo ra sự bất bình đẳng, các yếu tố tác động
đến hệ số Gini và sự bất bình đẳng trong quá trình phát triển.
+ Phạm vi khác biệt về các nước trong xu thế thay đổi này trong điều kiện
họ sử dụng các chính sách khác nhau tác động đến tăng trưởng và bất bình đẳng
như thế nào?
Những số liệu gần đây của các nước đang phát triển giữa tăng trưởng và
bất bình đẳng trong phân phối thu nhập không hoàn toàn giống như quy luật mà
Kuznets đã chỉ ra: tốc độ tăng trưởng cao ở giai đoạn đầu của quá trình phát
triển không nhất thiết làm cho phân phối thu nhập xấu đi như người ta vẫn
tưởng; và khi thu nhập bình quân đầu người đã khá cao cũng không bảo đảm
phân phối thu nhập sẽ tốt hơn bởi vì tăng trưởng chỉ là điều kiện cần chứ chưa
3
phải là điều kiện đủ để giảm bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và xoá đói
giảm nghèo.
Bất bình đẳng phụ thuộc vào:
+ Dân số, lực lượng lao động
+ Vốn con người
+ Vốn vật chất
II. Tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập và nghèo đói
rồi sau đó xác định xem mỗi nhóm nhận được bao nhiêu phần trăm trong tổng
thu nhập quốc dân. Phương pháp chung đó là chia dân số thành 5 nhóm hoặc 10
nhóm bằng nhau, kế tiếp nhau theo các mức thu nhập tăng dần rồi xác định xem
mỗi nhóm nhận bao nhiêu phần trăm trong tổng thu nhập quốc dân.
Bảng 1: Thu nhập phân theo 5 nhóm người của một số quốc gia (năm 1987)
Tên nước
GNP/
người
20% dân số có thu nhập
Thấp nhất Thấp TBình Cao Cao nhất
Bănglađet 160 10,0 13,7 17,2 21,9 37,2
Ấn độ 270 8,2 12,3 16,3 22,6 41,4
Philippin 630 4,4 8,5 13,7 21,5 51,9
Malaixia 1.700 4,6 9,3 13,9 21,2 51,2
Hồng Kông
8.200 5,4 10,8 15,2 21,6 47,0
Nhật Bản 22.800 8,7 13,2 17,5 23,1 37,5
2. Các chỉ tiêu phản ánh sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Để phản ánh sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, các nhà kinh tế
học và xã hội học sử dụng rất nhiều thước đo nhưng có 2 thước đo phổ biến, đó
là: Hệ số GINI và đường cong Lorenz.
* Đường cong Lorenz
5
Đường cong Lorenz là đường thể hiện mối quan hệ giữa các nhóm dân số và
phần trăm thu nhập tương ứng của họ trong tổng thu nhập quốc dân. Đường cong
Lorenz được xây dựng trên phương thức phân phối thu nhập theo quy mô.
Một đường cong Lorenz được xây dựng như sau:
Trục hoành biểu hiện phần trăm dân số(kí hiệu là Xi); trục tung biểu hiện
phần trăm thu nhập (kí hiệu là Yi)
- OO' là đường bình đẳng tuyệt đối vì nó cho biết bao nhiêu phần trăm
dụng một chỉ tiêu khác để phản ánh sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập,
đó là: hệ số GINI.
Hệ số GINI là tỷ số giữa diện tích hình bán nguyệt tạo bởi đường cong
Lorenz và đường phân giác OO'.
Hệ số GINI =
Diện tích (A)
Diện tích (A +B)
Một số công thức đại số tính hệ số GINI:
G =
∑X
i-1
* Y
i
- ∑X
i
*Y
i-1
10000
Hoặc:
G =1-
∑( Y
i+1
+Y
i
)*(X
i+1
- X
i
)
10000
Hệ số GINI phản ánh mực độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập:
0 < G < 1
+ G càng lớn thì bất bình đẳng càng cao
+ G = 0: bình đẳng tuyệt đối
+ G = 1: bất bình đẳng tuyệt đối
* Một số chỉ tiêu khác
- So sánh tỷ lệ đỉnh/ đáy: tỷ lệ thu nhập của 20% dân số giàu nhất với
20% dân số nghèo nhất
- So sánh tỷ số giữa thu nhập của 40% dân số nghèo nhất với tổng thu
nhập kinh tế quốc dân
Hệ số GINI cung cấp những thông tin hữu ích về mức độ bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập của các nhóm dân cư. Hệ số GINI đã lượng hoá được
mức độ bất bình đẳng đó.
Trong thực tế, người ta thường dùng đồng thời hai chỉ tiêu hệ số GINI và
đường cong Lorenz bởi 2 chỉ tiêu này hỗ trợ cho nhau trong việc xem xét vấn đề
8
phân phối thu nhập của các nhóm dân cư (mô tả trực quan và lượng hoá được
vấn đề nghiên cứu)
3. Đánh giá về sự nghèo khổ
Đánh giá tình trạng nghèo có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạch định
các chương trình xoá đói giảm nghèo, các chương trình phát triển nông thôn và
các chương trình phát triển kinh tế xã hội nói chung. Cụ thể đánh giá tình trạng
nghèo sẽ giúp: xây dựng chiến lược tăng trưởng; xác định hiệu quả chi tiêu xã
hội; định hướng can thiệp cho đối tượng mục tiêu; xác định chiến lược xoá đói
giảm nghèo.
* Khái niệm về nghèo khổ
Ngân hàng thế giới còn đưa ra quan điểm : Nghèo là một khái niệm đa
chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất, nghèo không chỉ gồm các chỉ
số dựa trên thu nhập mà cong bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như
dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền
Khu vực nông thôn: dới 200.000 đồng/ngời/tháng.
Khu vực thành thị: dới 260.000 đồng/ngời/tháng.
(Ngun: B Lao ng thng binh v xó hi)
* Cỏc quan nim v nghốo úi u phn ỏnh 3 khớa cnh ca ngi nghốo:
- Khụng c th hng nhng nhu cu c bn mc ti thiu dnh cho con
ngi.
- Cú mc sng thp hn mc sng trung bỡnh ca cng ng dõn c.
- Thiu c hi la chn, tham gia trong quỏ trỡnh phỏt trin cng ng.
* c im kinh t ca nhúm ngi nghốo
- Phm vi nghốo úi tuyt i l s kt hp ca thu nhp/u ngi thp
v s phõn phi khụng u ca thu nhp ú
- i b phn nhng ngi nghốo úi tp trung nụng thụn v tham gia ch
yu vo nụng nghip v cỏc hot ng cú liờn quan, mt b phn nhng ngi nghốo
khỏc sng cỏc khu chut thnh th. (Khong 80% ngi nghốo sng cỏc vựng
nụng thụn Chõu + Chõu Phi; 50% ngi nghốo sng nụng thụn chõu M latinh).
- N gii thng cú xu hng nghốo hn nam gii. (Nguyờn nhõn do bt bỡnh
ng gii, do h b hn ch hn v trỡnh hc vn, a v xó hi, cụng vic v chu
s rng buc kht khe v phong tc tp quỏn)
10
- Đa số những người nghèo là dân tộc thiểu số. (Do họ bị hạn chế hơn các dân
tộc khác về trình độ, ytế, giáo dục, tiếp cận thông tin và tiếp nhận sự quan tâm của
chính phủ…)
- Những người nghèo thường là những người ngoài độ tuổi lao
động (người già và trẻ em). ( vì khả năng tạo ra thu nhập của họ thấp hơn rất
nhiều so với những người trong độ tuổi lao động).
* Yếu tố trực tiếp gây nghèo đó là thu nhập:
Nguyên nhân trực tiếp gây ra nghèo đói là Thu nhập thấp; song để dẫn
đến thu nhập thấp lại có rất nhiều những yếu tố ảnh hưởng đến nó.
Bảng2: Một số nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở Việt Nam năm 2000
STT NGUYÊN NHÂN NGHÈO ĐÓI TỶ LỆ (%)
thấy tầm quan trọng của việc kết hợp tăng trưởng kinh tế gắn với những biện
pháp giải quyết việc làm ở nông thôn, mở rộng hệ thống dạy nghề, tăng kỹ thuật
mới, giảm nhẹ điều kiện làm việc, cải thiện điều kiện sống. Phát triển công
nghiệp nông thôn nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, cải tạo nền kinh tế thuần nông
với phương châm "Ly nông bất ly hương". Chính vì vậy, tuy là một nước đông dân
nhất thế giới nhưng Trung Quốc lại là nước có tỷ lệ số người sống ở mức nghèo khổ
thấp nhất (năm 1991 còn 87 triệu người sống dưới mức nghèo khổ, 27 triệu người
sống ở mức bần cùng).
Inđônêxia, Malaysia và Thái Lan áp dụng việc loại trừ đói nghèo ở từng
vùng trọng điểm thông qua chính sách phát triển. Từ những năm 70, Chính phủ
Inđônêxia đã dùng phần lớn số tiền từ khai thác dầu để phát triển kinh tế và tập
trung xoá đói giảm nghèo ở vùng Java. Hiện nay đất nước này tiếp tục hướng về
giải quyết đói nghèo ở các vùng khác. Kết quả thu được là khả quan: giảm 70
triệu người nghèo khổ (60% dân số) trong thập niên 70 xuống còn 27 triệu người
nghèo đói (15% dân số) vào đầu thập niên 90.
Thái Lan áp dụng mô hình gắn liền chính sách phát triển quốc gia với chính
sách phát triển nông thôn thông qua hình thành phát triển xí nghiệp ở làng quê
nghèo, phát triển doanh nghiệp nhỏ, mở rộng các trung tâm dạy nghề ở nông thôn
để giảm bớt nghèo khổ. Nhờ hoạt động của Ban phát triển nông thôn (IBIRD) và tổ
chức hiệp hội dân số và phát triển cộng đồng (PDA) theo mô hình trên. Tỷ lệ người
nghèo ở Thái Lan từ 30% trong thập niêm 80 đã giảm xuống 23% năm 1990 (13
triệu người).
12
5. Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề xoá đói giảm
nghèo
Xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy các chính sách phát triển kinh
tế - xã hội đều hướng vào người nghèo, xã nghèo tạo động lực, tạo tiền đề cho
xoá đói giảm nghèo.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ : "Tạo
tiên cho người dân vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
6. Kết quả xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh của Việt Nam trong suốt thập kỷ 1990 đã
có tác động quan trọng đến việc xoá đói giảm nghèo và phát triển xã hội.
Từ năm 1992 đến 2004, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 30% xuống
còn 8,3%. Tính đến tháng 12-2004, trên địa bàn cả nước có 2 tỉnh và thành phố
cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩn; có 18 tỉnh tỷ lệ nghèo chiếm 3-5%;
24 tỉnh có tỷ lệ nghèo chiếm 5-10% Đáng kể trong chương trình Xóa đói giảm
nghèo là những xã nằm trong diện 135 (xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn) đã có
những thay đổi biến chuyển rõ nét. Nếu năm 1992, có tới 60-70% số xã nghèo
trong diện 135, thì đến năm 2004 giảm xuống còn khoảng 20-25%.
Số hộ nghèo của năm 2004 là 1,44 triệu hộ, tỷ lệ nghèo là 8,3%, đến cuối
năm 2005 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ. Như vậy tỷ lệ hộ nghèo năm
2005 đã giảm khoảng 50% so với năm 2000.
Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ rớt trở lại vào
cảnh nghèo đói.
Tuy nhiên tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng và có xu
hướng chậm lại, các hệ số tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo từ 1 - 0,7 trong
14
những năm 1992 - 1998, giảm xuống còn khoảng 1 - 0,3 giai đoạn 1998 - 2004.
Bình quân trước đó mỗi năm giảm 34 vạn hộ nghèo.
7. Các chính sách giảm bớt bất công trong phân phối thu nhập và nghèo đói
Thứ nhất nâng cao năng suất nông nghiệp. Đây là cách trực tiếp nhất
nhằm nâng cao đời sống của người nông dân. Cải tổ đất đai và tự do hóa nông
nghiệp thường có những tác động lớn, mặc dù chỉ một lần, và tạo ra những
khuyến khích đối với quy mô sản xuất. Cải tiến nông nghiệp dựa trên những
giống cây trồng mới và hệ thống tưới tiêu (“Cuộc cách mạng xanh”) đã tạo ra
nhiều thành công rực rỡ ở nhiều nước.
Thứ hai, khuyến khích các ngành và dịch vụ ở nông thôn. Ở Việt Nam, các
làng thủ công mỹ nghệ nằm rải rác khắp các vùng miền, và cũng đóng vai trò quan
tước đoạt đi những cơ hội của họ trong việc hiện thực hoá những mục tiêu phát
triển không chỉ với thế hệ hiện tại mà còn trong tương lai như thế nào? Các nước
thế giới thứ 3 có khả năng cải thiện mức sống (cải thiện được chất lượng giáo dục
và cuộc sống) ở hiện tại và tương lai hay không? Tốc độ tăng dân số nhanh sẽ ảnh
hưởng thế nào đến tình hình lương thực thế giới? Các nước đang phát triển sẽ đối
phó với tình hình lao động tăng mạnh như thế nào? Cơ hội về việc làm ở các
nước này có nhiều hay không?
Những điều đó đã đặt ra vấn đề cơ bản cần quan tâm và định hướng về
dân số chính là: phát triển dân số và chất lượng cuộc sống.
* Tình hình dân số Việt Nam
- Dân số Việt Nam tăng lên qua các năm, tuy nhiên tốc độ tăng có xu
hướng ngày càng chậm lại
Bảng4: Dân số trung bình của Việt Nam từ 1993-2003
ĐVT: triệu người
93 94 95 96 97 98 99 00 01 02 03
16
69,64 70,82 71,99 73,16 74,31 75,46 76,6 77,63 78,69 79,73 80,90
Nguồn: Tổng cục thống kê (số liệu điều tra dân số năm 2004)
- Dân số chủ yếu tập trung ở nông thôn (chiếm trên 70% tổng số dân của cả
nước).
Bảng 5: Dân số và cơ cấu dân số Việt Nam theo vùng (tr. người, %)
Năm 93 94 95 96 97 98 99 00 01 02 03
Thành thị 13.96 14.43 14.94 15.42 16.84 17.46 18.08 18.77 19.5 20.02 20.67
CC (%) 20.05 20.37 20.75 21.08 22.66 23.15 23.61 24.18 24.74 25.11 25.8
Nông thôn 55.67 56.41 57.06 57.73 57.48 57.96 58.50 58.86 59.32 59.71 59.45
CC (%) 79.95 79.63 79.25 78.92 77.34 76.85 76.39 75.82 75.26 74.89 74.2
Nguồn: Tổng cục thống kê (số liệu điều tra dân số năm 2004)
- Chất lượng dân số vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, miền
núi còn rất thấp kém.
- Nữ giới chiếm số lượng cao hơn nam giới trong tổng dân số
* Một số vấn đề khác:
- Kém phát triển: nếu có những chiến lược đúng đắn mang lại mức sống
cao hơn, mức độ tự trọng cao hơn, tự do cao hơn thì vấn đề dân số tự nó giải
quyết lấy nó. Và như vậy, sự kém phát triển mới chính là vấn đề thực sự, và sự
phát triển là mục tiêu duy nhất.
- Tình trạng vắt kiệt nguồn lực chủ yếu do các nước phát triển gây ra: thực
tế cho thấy các nước phát triển chiếm chưa đầy 25,5% dân số nhưng lại “ngốn”
mất 80% nguồn lực. Theo luận điểm này, các nước phát triển cần phải kìm hãm
hoặc cắt bớt những tiêu chuẩn cao một cách quá đáng
- Sự phân bố dân số: nhiều khu vực trên thế giới lại thiếu dân, như vậy các
nguồn lực tập trung vào một số lượng dân nhỏ trong khi có nhiều khu vực khác lại tập
18
trung một lượng dân quá lớn. Vì vậy, chính phủ cần hạn chế sự di cư từ nông thôn ra
thành thị.
b. Tăng dân số là điều đáng mong muốn
- Tăng dân số sẽ kích thích sự phát triển kinh tế.
- Dân số lớn sẽ là cơ sở để mức cầu tăng, từ đó đem lại hiệu quả kinh tế
theo quy mô, hạ thấp giá thành và tạo một mức cung lao động vừa đủ với giá rẻ
để đạt mức sản lượng cao.
c. Tăng dân số là một vấn đề thực sự
- Tăng dân số gây nên hậu quả kinh tế – là vấn đề nghiêm trọng ở các
nước đang phát triển
- Luận điểm “Diều hâu” về dân số: tăng dân số dẫn đến tiêu cực về kinh tế
– xã hội (nghèo đói, mức sống thấp, suy dinh dưỡng, ốm đau, sự xuống cấp của
môi trường …) chính vì vậy, giảm dân số là một yêu cầu cấp bách.
d. Quan điểm của LHQ
LHQ đưa ra 4 tuyên bố:
- Sự tăng dân số không phải là một nguyên nhân chủ yếu hay rất quan
trọng dẫn đến mức sống thấp
- Vấn đề dân số không chỉ đơn giản là vấn đề về con số mà còn là vấn đề
- Chính phủ có thể trực tiếp bắt buộc người dân hạn chế sinh đẻ thông qua
luật pháp và các hình phạt.
- Nâng cao vị thế của người phụ nữ
V. VIỆC LÀM, DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA
1. Việc làm.
Bốn khía cạnh của vấn đề việc làm: Vấn đề việc làm ở các nước đang
phát triển khác so với các nước phát triển có bốn điểm chính. Đó là:
20
a. Những người thất nghiệp có học: không giống với các nước phát triển,
tỷ lệ thất nghiệp trong số những người có học ở các nước đang phát triển cao
hơn nhiều. Nhưng về cơ bản những người ít học nhất sẽ bị thất nghiệp và phải
tìm kiếm bất cứ công việc gì không chính thức ở thành thị. Tuy nhiên, những
người đã tốt nghiệp đại học hoặc trung học đều có thể tìm được những công việc
được trả lương cao hơn và do đó được đếm vào trong số những người thất
nghiệp được biết.
b. Tự làm chủ công việc: Trong khi hầu hết những người tự làm chủ ở
các nước phát triển làm trong các doanh nghiệp nhỏ như là người chủ sở hữu,
những đối tác hữu hạn, hoặc các các chuyên gia (bác sĩ, luật sư, v.v…), ở các
nước đang phát triển hầu hết những người tự làm chủ là những người bán hàng
rong, chủ quán nhỏ, gái mại dâm, đạp xích lô, v.v…
c. Phụ nữ và vấn đề thất nghiệp: Sự tham gia của phụ nữ trong lực lượng
lao động ở các nước phát triển ít hơn nhiều so với các nước đang phát triển. Phụ
nữ thường xuyên bị phân biệt đối xử về tiền lương, sự thăng tiến trong nghề
nghiệp, và an ninh nghề nghiệp. Họ cũng dễ bị thất nghiệp hơn nam giới.
d. Tình trạng thất nghiệp trong thanh niên và lao động trẻ em: Sự thất
nghiệp trong thanh niên tạo nên một mối lo ngại lớn đối với sự phát triển trong
tương lai ở nhiều nước kém phát triển. David Turnham đã ước đoán tỷ lệ thất
nghiệp trong thanh niên vượt quá 30% ở nhiều nước đang phát triển. Điều này đi
đôi với vấn đề lao động trẻ em. Người ta thấy rằng rất nhiều trẻ em ở các nước
đang phát triển dưới 14 tuổi làm việc rất nhiều với mức lương thấp và dưới điều
gian nhưng cường độ làm việc thấp do sức khoẻ yếu
e. Những người làm việc không hiệu quả: là những người làm việc nhiều giờ
nhưng mang lại ích lợi ích, hiệu quả làm việc không cao do thiếu kiến thức, kỹ
năng và tay nghề thấp.
2. Vấn đề việc làm ở Việt Nam và giải pháp giải quyết việc làm
a) Việc làm đang là một vấn đề kinh tế - xã hội gay gắt ở nước ta, đặc biệt
là ở các thành phố. Theo điều tra của Bộ Lao động – Thương binh và Xã
22
hội, năm 1998 cả nước có 9,4 triệu người thiếu việc làm và 856 nghìn người
thất nghiệp. Tỉ lệ thiếu việc làm ở vùng nông thôn là 28,2%. Tỉ lệ thất
nghiệp ở thành thị là 6,8%.
Hiện nay, tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn và tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị
cao nhất là ở đồng bằng sông Hồng, tiếp đến là ở Bắc Trung Bộ. Vấn đề việc
làm ở Đông Nam Bộ trước đây cũng rất căng thẳng, nay đã được cải thiện
rõ rệt.
b) Vấn đề việc làm đã và đang được giải quyết theo các hướng sau
- Phân bố lại dân cư và nguồn lao động giữa các vùng, để vừa tạo thêm
việc làm, vừa khai thác được tốt hơn tiềm năng của mỗi vùng. Tây Nguyên
(đặc biệt là Đắc Lắc) và Đông Nam Bộ (đặc biệt là Đồng Nai) đã tiếp nhận
hàng chục vạn người đến xây dựng các vùng kinh tế mới, nhất là từ các tỉnh
đồng bằng sông Hồng và duyên hải miền Trung.
- Đẩy mạnh kế hoạch hoá gia đình và đa dạng hoá các hoạt động kinh tế
nông thôn. Việc khẳng định vai trò của kinh tế hộ gia đình sẽ tạo điều kiện sử
dụng có hiệu quả hơn lao động nông nghiệp. Nền nông nghiệp đang chuyển dần
từ tự cấp, tự túc thành nông nghiệp hàng hoá, thâm canh và chuyên canh. Các
nghề thủ công truyền thống, các hoạt động dịch vụ ở nông thôn được khôi phục
và phát triển. Lao động thuần nông ngày càng giảm đi. Nước ta đang đẩy mạnh
công nghiệp hoá nông thôn, nhờ vậy vấn đề việc làm ở nông thôn sẽ được giải
quyết vững chắc hơn.
- Phát triển các hoạt động công nghiệp và dịch vụ, trong đó có các hoạt
hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia sẽ là 192.212 ha và theo đó sẽ
2.498.756 lao động nông thôn mất việc.
Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ
trợ cho người dân những vùng bị thu hồi đất như chính sách định cư tại chỗ,
hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, nhưng do nhiều yếu tố khách quan và chủ
24
quan nên số lượng nông dân mất việc làm, thiếu việc làm vẫn chưa thể khắc
phục triệt để.
Thực trạng trên nếu không được khắc phục sớm sẽ trở thành lực cản đối
với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; gia tăng
các vấn đề kinh tế - xã hội
* Những thách thức và vấn đề đặt ra nhằm xóa đói giảm nghèo đối
với nông dân Việt Nam gia nhập WTO
Khi tham gia sân chơi WTO nông dân Việt Nam sẽ phải đối mặt với bốn luật
chơi cực kỳ khó khăn. Không có chu trình nông nghiệp an toàn GAP (Good
Agricultural Practices), nông sản hàng hóa Việt Nam không những tiếp tục bị sa sút
trong xuất khẩu mà còn gặp khó khăn ngay ở thị trường trong nước vì không thể
cạnh tranh với hàng ngoại.
Sân chơi WTO nông sản hàng hóa, một trong những mặt hàng xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam, là mặt hàng lớn nhất của sân chơi WTO trong đó có nông
sản phẩm là rau quả, trị giá gần 103 tỉ đô la Mỹ. Thị trường về lúa gạo, cà phê,
cao su nhỏ hơn; mỗi thứ không quá 10 tỉ đô la Mỹ/năm. Các loại nông sản khác
như chè, điều và hồ tiêu thì lại càng nhỏ; trên dưới 3 tỉ đô la Mỹ/năm, ở Việt
Nam, mãi cho đến năm 2005, ta vẫn còn sử dụng hơn 7 triệu héc ta đất để trồng
lúa. Chỉ có gần 1 triệu héc ta trồng dừa, cao su, trà, cà phê và 1,4 triệu héc ta
trồng trái cây, rau quả và hoa. Đây là sự phát triển không cân đối vì lúa đã trở
nên độc canh, chiếm 74% diện tích canh tác của cả nước, trong khi trái cây, rau
quả và hoa có thị trường xuất khẩu lớn gấp 10 lần thì lại ít phát triển, chỉ chiếm
có 15%.
Mức độ đầu tư về nhân sự, nghiên cứu, đất đai và lao động của ngành trái