1 Luận văn
Một số giải pháp nhằm tăng
cường công tác tiêu thụ sản
phẩm tại Công ty cổ phần Gỗ
Hà Nội 2
Lời nói đầu
Nền kinh tế thị trường cùng với các quy luật kinh tế đặc trưng của nó
như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh đã tạo nên môi
trường kinh doanh hấp dẫn, sôi động nhưng cùng đầy rủi ro và không kém
phần khốc liệt thị trường vừa là cơ hôi, vừa là thách thức đôí với doanh
nghiệp trong quá trình tồn tại và phát triển nó phản hồi lại bằng chính kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp .
Hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng
nhằm tìm kiếm lợi nhuận, là mục tiêu kinh kinh tế cao nhất, là điều kiện tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp. Song để có được lợi nhuận thì một trong
các điều kiện quan trọng là doanh nghiệp phải tiêu thụ được sản phẩm của
mình. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới thu hồi được vốn, trang trải các chi
phí đã bỏ ra và lãi, ổn định được hình thành tài chính và tạo khả năng đầu tư
Phần thứ nhất
Thực trạng tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm tại công ty cổ phần Gỗ Hà
Nội. 4
1.1. Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Gỗ Hà Nội :
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Tiền thân của Công ty cổ phần Gỗ Hà Nội là xí nghiệp Gỗ Hà Nội.
Được thành lập từ những năm sau giải phóng Thủ Đô ( 1956) với mặt bằng
sản xuất rộng khoảng 5 ha, có nhiệm vụ sản xuất đồ Gỗ dân dụng, phục vụ
nhu cầu cần tiêu dùng trong nước, không phục cho xuất khẩu. Tuy nhiên có
mặt bằng rộng lớn nhưng cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty lại thấp kém.
sản xuất: Đội ngũ cán bộ công nhân viên chức cũng được tiến hành chuẩn hoá
nâng cao trình độ và trình giảm, lao động gián tiếp được giảm thiếu .Ngoài ra
việc thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm tích cực tìm kiếm những đơn
hàng, sản phẩm sản xuất ra tiêu chuẩn về mặt kỹ thuật đồng thời có kiểu dáng
đẹp hợp thị hiếu người tiêu dùng Những yếu tố trên đã hợp lực tạo cho
doanh nghiệp một năng lực sản xuất lớn gấp bôị phần giúp cho doanh nghiệp
tạo được chỗ đứng trên thị trường , không những bảo đảm ( lương bình quân
của Công ty hiện nay là 75000
đ
, người / tháng ) thực hiện nghĩa vụ với Nhà
nước đầy đủ
Trải qua gần 10 năm hoạt động, Công ty cổ phần Gỗ Hà Nội đã nỗ lực
phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thức thách tự khẳng định được mình trên
thị trường. Không chỉ bằng lòng với những gì đã đạt đựơc toàn thể Công ty
luôn lỗ lực phấn đấu hoàn thành và vượt mức kế hoạch sản xuất, đáp ứng tốt
nhất và ngày càng nhiều nhu cầu thị trường, tạo nền tảng vững chắc cho sự
phát triển trong tương lai.
1.1.2 Đặc điểm cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần
Gỗ Hà Nội
Công ty cổ phần Gỗ Hà Nội tổ chức bộ máy quản lý một cách theo cơ
cấu trực tuyến chức năng. Theo cơ cấu này, các phòng chức năng được
chuyên môn hoá theo các chức năng quản trị, có nhiệm vụ giúp Giám đốc ( và
phó biến ) chuẩn bị các quyết định quản trị về chuyên môn hoá của mình theo
dõi hướng dẫn cấp dưới thực hiện đúng đắn, kịp thời các quyết định đó. Ngoài
việc thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn các phong chức năng còn phải
phối hợp chặt chẽ với các phòng ban khác nhằm đảm bảo hoạt động của
doanh nghiệp được tiến hành đồng bộ, nhịp nhàng. Các phòng ban chức năng
không có quyền trực tiếp chỉ huy các bộ phận sản xuất .
Sơ đồ bộ máy quản lý như sau
chế độ chính sách của Nhà nước đổi mới người lao động khi nghỉ chế độ.
Giám c
Phó giám c
Phòng k hoch
tài chính
Phòng k hoch
k thut vt t
Phân xng x
Phân xng mc
Phân xng c
in và dich v
Phòng t chc
hành chính bo v 7
Cơ cấu trên vẫn đảm bảo mệnh lệnh được truyền trực tuyễn đồng thời
không lãng phí các luyện viên trong vai trò cố vấn cho Giám đốc.
1.1.3 Đặc điểm cơ cấu sản xuất kinh doanh :
Công ty cổ phần Gỗ Hà Nội tổ chức sản xuất kinh doanh theo kiểu tập
trung với cơ cấu tổ chức loại 2:
Doanh nghiệp Phân xưởng Nơi làm việc
Hệ thống sản xuất kinh doanh của Công ty gồm hai khối:
* Khối sản xuất kinh doanh chính : gồm cơ cấu phân xưởng một ( bộ
phận sản xuất mặt hàng chính của Công ty ) và phân xưởng xẻ ( bộ phận hỗ
trợ cho phân xưởng mộc ) phân xưởng cơ điện thực hiện công tác duy tư, bảo
chức năng tham mưu, giúp giám đốc trong công tác xây dựng và chỉ đạo thực
hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh từng quý, từng năm và nhiều năm. phong
luôn nắm bắt các thông tin kinh tế trên thị trường, hết hợp khai thác khẳ năng
thực tế lập phương án mặt hàng, phương án sản phẩm. Nghiêm cứu, áp dụng
công nghệ mới, kỹ thuật thiết bị tiên tiến, thiết kế tạo dáng sản phẩm để đưa
vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Xây dựng kế hoạch
giám sát, kiểm tra và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản
phẩm, xây dựng,các định mức về vật tư, lao động và đơn giá tiền lương sản
phẩm giúp Giám đốc xây dựng và thực hiện kế hoạch cung ứng vật tư nguyên
- nhân lựa, chọn nhằm đảm bảo cung cấp kịp thời theo kế hoạch sản xuất.
Quản lý chung trong toàn doanh nghiệp hồ sơ thiết bị máy móc, công tác an
toàn và bảo hộ lao động theo quy định hiện hành.
- phòng kế toán - tài chính: là phòng nghiệp vụ tổng hợp, có chức năng
quản lý theo dõi tình hình biến động tài sản về vốn của Công ty, thực hiện
việc nghi chép sổ sách kế toán định kỳ phục vụ cho quản lý nội bộ và cho bên
ngoài. Tham mưu giúp giám đốc trong công tác quản lý và tài chính của
doanh nghiệp.
- Các phân xưởng: Có chức năng trực tiếp sản xuất các sản phẩm theo
kế hoạch đều độ của Công ty, góp phần vào việc thực hiện hoàn thành kế
hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty. 9
- Bộ phận dịch vụ và tư doanh: có chức năng kinh doanh sửa chữa
dịch vụ theo quy định của pháp luật, tự chịu trách nhiệm, đảm bảo việc làm và
đời sống cho cán bộ công nhân viên của mình và tham gia đong góp tài chính
cho Công ty
Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất như sau:
Phân xng
c in
B phn dch
v
Phân xng mc
Phân xng x
T mc máy
T x thô
T mc máy
T mc tay
T x tinh
T véc ni
10
trường,trong những năm gần đây, hầu hết các Công ty trong lĩnh vực sản xuất
gỗ, vừa phải cạnh tranh với các Công ty trong nước, vừa phải đối phó với các
Công ty nước ngoài có trụ sở và sản xuất tại Việt Nam như các Công ty của
Singapor, Hàn Quốc, Thái Lan Đứng trước tình hình đó, Công ty đã phát
huy mọi khả năng sản xuất kinh doanh của mình để đứng vững trên thị trường
và nâng cao uy tín của mình. Công ty đã kết hợp nhiều biện pháp như nâng
cao chất lượng sản phẩm, nâng cao tay nghề đội ngũ lao động , chức sản xuất
14.823
50,47
42,35
Giá vốn hàng bán 4109,5
6677,71
9733,87
62,25
45,77
Lợi nhuận gộp 2.810,85
3.735,19
5.089,13
32,88
36,25
L
ợi nhuận thực hiện
Số lao động 135
200
302
55,55
43,8
11
Qua bảng kết quả sản xuất kinh doanh trong 3 năm.1999 2001 ta
thấy tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty diễn ra theo chiều hướng tích
cực, các chỉ tiêu đều tăng lên qua mỗi năm. Điều này chứng tỏ Công ty có
hướng do đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Mguyên
nhân do năm 2000 Công ty mạnh dạn đầu tư đổi mới trong chất thiết bị, nâng
cao chất lượng sản phẩm,mở rộng quy mô sản xuất, đáp ứng nhu cầu thị
trường nên đã sản xuất ra sản lượng tăng đáng kể. Năm 2001 được coi là năm
xây dựng cơ sở hạ tầng nên các công trình lớn tiêu thụ được xây dựng, bên
cạnh đó đòi hỏi trang thiết bị nội thất hiện đại, tiên tiến, nên các sản phẩm cao
cấp của Công ty không ngừng được ra đời và tiêu thụ. Về tổng doanh thu ta
thấy từ năm 1999 đến năm 2001 doanh thu đều tăng, năm 2000 đạt 10.436,8
triệu đồng tăng 50,1% so với năm 1999. Điều đó chứng tỏ rằng mặt hàng kinh
doanh của Công ty đã phần nào được thị trường chấp nhận và được tín nhiệm
với khách hàng, mặc dù tốc độ tăng trưởng chưa cao.
Cùng với sự tăng lên của doanh thu là sự tăng về lợi nhuận do có sự
quản lý về tổ chức tốt khâu sản xuất kinh doanh đồng thời tiết kiệm được chi
nhập bình quân tăng, kết quả này là do Công ty đã tìm ra thu nhập bình quân
tăng, kết quả này là do Công ty đã tìm ra hướng đi đúng trong hoạt động sản
xuất kinh doanh và để bổ sung cho những điểm chưa hoàn thiện khắc phục
những khó khăn của Công ty thì cần thiết phải thực hiện đó là tìm ra các giải
pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty trên thị trường.
1.2.2. Tình hình tiêu thụ sản phẩm thu thị trường.
Cơ chế thị trường đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong công tác tiêu thụ
sản phẩm của các doanh nghiệp nói chung và của Công ty cổ phần Gỗ Hà Nội
nói riêng. Trong cơ chế bao cấp, công tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty chủ
yếu là phân phối theo chỉ tiêu giao nộp của nhà nước. Hình thức này mang
tính chất trao đổi hiện vật, không phát huy tính sáng tạo của Công ty từ khi
chuyển sang nền kinh tế thị trường, được giao quyền từ chủ trong sản xuất
kinh doanh, Công ty đã không tránh khỏi sự bỡ ngỡ trớc tình hình mới, sản
phẩm ứ đọng, sản xuất cầm chừng, nợ lương công nhân kéo dài có thể dẫn
đến nhà máy giải thể. Đứng trước tình hình đó Công ty đã tổ chức xắp xếp lại 13
nhằm tiêu thụ hết sản phẩm sản xuất ra và không ngừng mở roọng thị trường.
Công ty đã áp dụng nhiều chính sách và tìm ra ccs giải pháp thúc đẩy quá
trình tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay Công ty đã tìm ra được chỗ đứng trên thị
trường và dần khôi phục uy tín của Công ty trong cả nước.
Bảng số liệu sau cho ta thấy kết quả tiêu thụ sản phẩm của Công ty
trên các thị trường trong nước qua 3 năm gần đây
Bảng 2: Tình hình tiêu thụ sản phẩm theo thị trường của Công ty
cổ phần Gỗ Hà Nội 1999 - 2001
Năm
Khu vực
N¨m 2001
89,29%
10,71%
MiÒn B¾c MiÒn Trung
N¨m 2000
11,61%
88,39%
N¨m 1999
86,97%
13,03%
14 Biểu đồ thể hiện tình hình tiêu thụ sản phẩm theo thị trường
1. Hà Nội 2.346,15
33,74
3.182,05
30,49
4.712,5
31,73
2. Hoà bình 899,34
12,9
873,98
8,37
908,96
6,12
3. Hà Tây 1,205,67
17,34
2.315,7
7,4
B. Khu vực M. trung 906,256
13,03
1,212,1
11,61
1.590,16
10,71 Như vậy nguyên nhân của sự gia tăng doanh thu ở thị trường miền bắc
chủ yếu là do Hà Nội là thị trường chính của Công ty. Một số năm trước sản
phẩm của Hà Nội sản xuất phục vụ của các vùng ở xa còn thị trường Hà Nội
tiêu thụ so sản phẩm nơi khác mang về. Hiện nay Công ty cổ phần Gỗ Hà
Nội xác định thị trường Hà Nội là một thị trường trọng điểm mà sản phẩm
của Công ty có tính cạnh tranh cao hơn so với các sản phẩm cùng loại của
các doanh nghiệp thuộc cùng lĩnh vực hoạt động. Từ năm 1999 Tỷ trọng tiêu
thụ tại thị trường Hà Nội luôn chiểm trên 30% Tổng doanh thu. Trong năm 16
1999 đạt 33.74% Tổng Doanh thu năm 2000 và năm 2001 tỷ trọng có giảm
đi nhưng không đáng kể nhưng gía trị tiêu thụ là tăng nền đáng kể. Năm 1999
đạt 2.346,15triệu đồng, năm 2000 đạt 3.182,05 triệu đồng, năm 2001 đạt cao
Hải Phòng cho nên số lượng đơn đặt hàng tămg nhanh làm cho doanh thu
tăng. Tuy nhiên Hải Phòng chưa nằm trong mục tiêu kinh doanh hàng đầu,
của Công ty vì chi phí vận chuyển, giao hàng đến thị trường này đến là tối
kém.
Ngoài 4 thị trường tiêu biểu nói trên thì các tỉnh khác cũng có các tỉnh
khác cũng có các đơn vị mua sản phẩm của Công ty nhưng không thường
xuyên giá trị doanh thu tiêu thụ được không ổn định. Mặc dù doanh thu lại
giảm đi. Năm 1999 đạt 618,764 triệu đồng chiếm 8,89% trên tổng doanh thu.
Năm 2000 đạt 821,81 triệu đồng chiếm 7,87% trên tổng doanh thu. Năm 2001
đạt 1098,78 triệu đồng năm 2000 và đặc biệt năm 2001 Công ty đã mở rộng
thih trường ra sau nhiều tỉnh mới trở thành bạn hàng thân thiết. Đây là mục
tiêu chiến lược của Công ty nhằm tăng khả năng tiêu thụ trong những năm tới.
- ở thị trường miền trung tiêu thụ rất ít so với thị trường miền bắc, tuy
doanh thu lại giảm.Năm 1999 doanh thu tiêu thụ chiếm 13,03% tổng doanh
thu. Năm 2000 tỷ trọng tiêu thụ chỉ đạt 11,61% tổng doanh thu tuy nhiên
doanh thu ở thị trường này vẫn tăng, đạt 1212,128 triệu đồng. Năm 2001
doanh thu tiếp tục tăng đạt 1590,16 triệu đồng nhưng chỉ đạt tỷ trọng 10,71%.
Nguyên nhân là do thị trường này Công ty mới chỉ có một số lượng khách
hàng tương đối ít ở các tỉnh như Huế. Quảng trị Nên mặc dù thời gian qua
ở các tỉnh này nhu cầu về sản phẩm của công ty ngày càng tăng nhưng doanh
thu vẫn tăng chậm một trong việc thâm nhập của công ty vào thị trường miền
trung tương đối khó khăn do gặp nhiều yếu tố địa lý khoảng cách vận chuyển
xa, Công ty không có điều kiện ra giá khuyến mại . Mặt khác do nguồn lực
về máy móc, trang thiết bị của Công ty còn nhiều hạn chế, nên Công ty chứa
mở rộng được quy mô sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường cho nên,
các bạn hàng của công ty tại thị trường này chưa thể trở thành bạn hàng
chuyền thống dẫn đến doanh thu do thị trường này đem lại còn bất bình không
ổn định.
6005,3
86,37
8653,17
82,91
11968,4
80,59
1. Bàn 1971,65
28,36
2.665,23
25,54
3.374,89
22,73
2. Ghế 1722,39
24,77
2.074,16
B. Sản phẩm khác 947,5
13,63
1783,63
17,09
2.881,6
19,41
Tổng 6.952,8
100
10.436,8
100
14.850
100Qua bảng số liệu trên ta thấy năm 1999 doanh thu tiêu thụ các sản phẩm
chính đạt 6.005,3 triệu đồng, năm 2000 doanh thu tiêu thụ đạt 8.653,17 triệu
đồng tăng 2.647,87 triệu đồng so với năm 1999 đến năm 2001 daonh thu đạt
11.968,4 triệu đồng tăng 3.315,26 triệu đồng so với năm 2000 (tương ứng với
cho Công ty. Bởi bàn và ghế thường là những mặt hàng đi kèm với nhau. Đặc
biệt năm 2001 bàn và ghế đã được những tiêu chuẩn về chất lượng, sang trọng
phục vụ cho nhà khách, hội trường cấp cao. Tiêu biểu như ghế salông, ghế
tựa nan mặt đệm, ghế thuỵ sĩ mặt tựa đệm Bên: có bàng hội trường, bàn hộp
bầu dục, bàn hai thùng Vì thế mặt hàng ghế đem lại doanh thu cao không
kém gì mặt hàng bàn thậm chí năm 2001 còn cao hơn bàn 234,23 triệu đồng 20
(chiếm 24,3% cao nhất trên tổng doanh thu năm 2001). Trong khi đó năm
1999 đạt 24,77% đứng thứ hai tổng doanh thu, đến năm 2000 mặc dù giá trị
doanh thu tăng 351,77 triêụ đồng so với năm 1999 nhưng tỷ trọng lại giảm
chiếm 19,87% tổng daonh thu. Như vậy, bàn và ghế là hai mặt hàng chủ đạo
của Công ty, cho nên Công ty đã chú ý thay đổi mẫu mã, nâng cao chất lương
làm tăng doanh thu tiêu thụ.
Bên cạnh đó tủ và giường cũng có doanh thu tăng qua các năm. Đặc biệt
năm 2000 doanh thu tiêu thụ tủ còn cao hơn cả ghế, tủ chiếm 23,12%, ghế chỉ
chếm 19,87% nhưng đến năm 2001 tốc độ tăng của tủ lại chậm hơn tốc độ
tăng của ghế (tủ đạt 19,93%, ghế đạt 24,3% tổng doanh thu). Từ năm 1999
đến năm 2001 doanh thu của tủ tăng là kết quả của việc nghiên cứu thị
trường cho ra đopừi một loại tủ có kiểu dáng mẫu mã phù hợp với nhu cầu.
Tuy nhiên, nguyên nhân tủ không đạt đc giá trị doanh thu lớn nhất vì mặt
hàng này thường được đạt với số lượng ít, yêu cầu về kỹ thuật và mỹ thuật
tương đối cao. Mặt khác trên thị trường hiện nay còn có rất nhiều các cửa
hàng tư nhân cùng cạnh tranh với nhau trong doanh nghiệp. Các tư nhân này
thường bán hàng với giá rẻ do vậy đã kích thích, lôi kéo được khá nhiều
khách hàng, gây ảnh hưởng tới khả năng tiêu thụ sản phẩm Công ty.
Ngoài 3 nhóm mặt hàng trê, giường cũng là nhóm mặt hàng có doanh
thu tăng qua mỗi năm nhưng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong 4 nhóm mặt
hàng. Năm 1999 đạt doanh thu 954,26 triệu đồng (chiếm 13,72%) năm 2000
6,25
1020,16
6,89
Môi gi
ới
695,976
10,01
881,668
8,45
682,44
4,6
Bán trực tiếp 5.826,44
83,8
8.902,76
85,3
13147,4
làm giảm doanh thu tiêu thụ 199,228 triệu đồng với tốc độ giảm 22,59% so
với năm 200. Năm 1999 sở dĩ phương thức bán qua môi giới chiếm tỷ trọng
lớn vì Công ty còn hạn chế về tài chính nên không đầu tư thích đáng cho 23
công tác quảng cáo bởi vậy khách hàng ít biết đến các sản phẩm của Công ty,
để thúc đẩy tiêu thụ lúc đó biện pháp bán qua môi giới phát huy tác dụng.
Tuy nhiên áp dụng phương thức bán này Công ty phải trích một khoản hoa
hồng cho môi giới làm tăng chi phí giảm điều kiện hạ giá thành sản phẩm.
Bởi vậy, Công ty đã có quyết định là giảm việc bán qua môi giới từ năm 2000
và sẽ còn giảm trong những năm tiếp theo. Hiện nay sản phẩm của Công ty
đã có chỗ đứng trên thị trường, được khách hàng tin cậy. Việc làm của Công
ty bây giờ là không ngừng cải tiến mẫu mã, trang thiết bị để ngày càng cho ra
đời những sản phẩm tốt hơn, đẹp hơn ra thị trường.
Khác với hai phương thức bán trên thì phương thức bán trực tiếp chiếm
tỷ trọng chủ yếu và có xu hướng tăng cả về doanh thu và tỷ trọng qua từng
năm. Năm 1999 chiếm 83,8% với doanh thu 5.826,44 triệu đồng, năm 2000
doanh thu đạt 8.902,76 triệu đồng chiếm tỷ trọng 85,5% tăng 52,79%. so với
năm 1999. Năm 2001 tỷ trọng tăng lên 88,53% doanh thu đạt 13.147,4 triệu
đồng tăng 147,67% so với năm 2000.
Như đã nói ở trên do phương thức bán qua môi giới liên tục giảm nên
Công ty quyết định tăng cường bán qua phương thức trực tiếp. Với phương
thức này Công ty có thể giảm bớt chi phí lưu thông, chi phí mỗi giới đồng
thời có thề quảng bá được về tính năng công dụng đến người tiêu dùng trực
tiếp. Ngoài ra, hoạt động bán trực tiếp phát triển mạnh còn do Công ty có một
đội người nhân viên tiếp thị năng động, áp dụng các chính sách chiết khấu
linh hoạt, phương thức thanh toán thuận tiện như trả bằng tiền mặt, ngân
phiếu, trả chậm, trả ngay và các hình thức trợ giá vận chuyển nếu khách
hàng tự vận chuyển. Đây chính là các yếu tố quan trọng giúp Công ty khuyến
ty. Để thấy rõ công tác quanr lý giá vốn các nhóm mặt hàng kinh doanh của
công ty ta có thể tham khảo bảng sau.(trang bên)
Nhìn chung mặt hàng kinh doanh cuả công ty khá phong phú. Trong đó
phục vụ các khách hàng từ bình dân đến cao cấp. Do đó hàng tiêu thụ hàng
năm đều rất lớn và không ngừng tăng lên. Mặc dù giá vốn bình quân một 25
chiếc cho từng loại hàng hầu như đều tăng qua từng năm nhưng số lượng tiêu
thụ vẫn tăng làm cho doanh thu tiêu thụ tăng. Điều đó chứng tỏ sản phẩm của
công ty đã đạt yêu cầu của khách hàng va được tín nhiệm cụ thể như sau:
Mặt hàng luôn chiếm đoạt doanh thu tiêu thụ lớn nhất qua từng năm vì
vậy giá vốn bỏ ra cũng hầu như nhiều nhất so với các mặt hàng khác. Trong
đó loại bán thường năm 1999 giá vốn bình quân chỉ có 98. 000 một chiếc lên
đã tiêu thụ được lượng bán khá lớn 6.492, năm 2000 giá vốn bình quân tăng
thành 101.000
đ
nên giá bán ra cao hơn 1999 làm cho số lượng tiêu thụ ít đi có
6125 chiếc năm 2001 giá vốn bình quân còn tiếp tục tăng 7.000
đ
nhưng xem
ra vẫn được khách hàng chấp nhận. Đối với bên cao