Luận văn: Những giải pháp chủ yếu và định hướng của công ty cổ phần fintec - Pdf 10


1Luận văn

Những giải pháp chủ yếu và
định hướng của công ty cổ
phần fintec

2
Lời mở đầu

Như chúng ta đều biết, mỗi sinh viên sau khi rời khỏi nghế nhà truờng đều
muốn trang bị cho mình nhũng kiến thức thực tế để ảp dụng cho những gì
mình được học qua bốn năm học. Thực tập tốt nghiệp là nhằm đáp ứng diều
đó, nó giúp cho sinh viên có được sự chuẩn bị tốt cho quá trình làm việc tại
doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp. Những làm quen bước đầu đó sẽ là những
bài học cho những bước tiếp theo khi sinh viên rời ghế nhà trường đồng thời
thực tập còn là cơ hội tốt cho sinh viên tiếp cận với các doanh nghiệp mà
mình mong muốn làm việc sau khi ra trường. Thực tập tốt nghiệp còn nâng
cao khả năng giao tiếp khả năng giao tiếp, quan hệ và làm quen dần với phong
cách làm việc trong môi trường mới. Không những thế thực tập còn giúp cho
sinh viên áp dụng được những kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tế
và dùng nó như những công cụ để làm việc. Trong quá trình thực tập sinh
viên có thể phát hiện những vấn đề mới làm phong phú hơn cho vốn kiến
thức mình.
Sau thời gian 2 tuần thực tập tại Công ty cổ phần Đầu tư- Kỹ nghệ- Công
nghiệp - Thường mại (FINTEC), tuy con rất nhiều bở ngở, nhưng em cũng đã
thấy được một phần những lợi ích của việc tiếp cận thực tế trong kinh doanh.
Qua thời gian này em đã hoàn thành báo cáo tổng hợp, với những nội dung

- Dịch vụ tài chính
- Đầu tư và tư vấn đầu tư
FINTEC là Công ty lớn và có uy tín trong thị trường công nghệ thông
tin nên Công ty được chọn làm nhà phân phối các sản phẩm công nghệ thông
tin của các hãng máy tính hàng đầu thế giới chẳng hạn :
Đại lý tích hợp hệ thống của COMPAQ và ORACLE
Đại lý thương mại các sản phẩm máy tính và tin học của IBM

4
Đại lý phân phối chính thức các sản phẩm tin học của MICRON
Đại lý bán hàng của MICROSOFT và LOTUS
Đại lý phân phối các sản phẩm tin học của thiết bị mạng thuộc các hiệu
TOSHIBA, DELL, EPSON, CANON, HEWLETT-PACKARD,
MOTOROLA, 3COM, CISCO
Công ty FINTEC thành lập một chi nhánh chuyên sản xuất, kinh doanh
các sản phẩm tiêu dùng vào cuối năm 1998- Xí nghiệp chế biến thực phẩm
với mục đích cung cấp các loại sản phẩm tiêu dùng thiết yếu.
Dịch vụ tài chính của Công ty thực hiện việc giao nhận kiều hối của các
cá nhân và tổ chức ở trong và ngoài nước.
Có thể liệt kê ra đây các mốc sự kiện đánh dấu quá trình phát triển của
Công ty:
Tháng 9/1995 Công ty FINTEC được thành lập theo hình thức Công ty
cổ phần tư nhân, hoạt động sản xuất và kinh doanh các sản phẩm công nghệ
thông tin với số vốn điều lệ ban đầu là 2 tỷ rưỡi (2.500.000.000).
Trụ sở chính 212 C2 Vĩnh Hồ, quận Đống Đa, Hà Nội.
Tháng 1/1996 gia nhập phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Tháng 4/1997 thành lập Trung tâm thiết bị văn phòng đặt tại số 101 K1
Giảng Võ, quận Đống Đa, Hà Nội.
Tháng 9/1998 thành lập xí nghiệp chế biến thực phẩm đặt tại số 2
Chương Dương Độ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

 Nấm, mộc nhĩ sấy khô.
 Vải hộp, tương ớt

6
Đặc điểm của loại hình sản xuất này mang nặng tính thời vụ và gia
công. Có ưu điểm là không mất chi phí dự trữ bởi Công ty đặt gia công tại
vùng nguyên liệu và chỉ mang về xưởng để đóng gói và chuyển cho khách
hàng.
Về bộ phận dịch vụ FINTEC thực hiện việc chi trả kiều hối cho các tổ
chức trong nước và nước ngoài. Với chi phí phục vụ thấp thủ tục đơn giản,
thuận tiện Công ty đã nhận được sự tín nhiệm của đông đảo quần chúng và
kiều bào ta ở nước ngoài cũng như người ngoại quốc muốn thực hiện việc
chuyển tiền về nước.
Bên cạnh đó, Công ty còn nhận cung cấp các dịch vụ xây dựng các giải
pháp mạng LAN, WAN, INTRANET. Đào tạo sử dụng và ứng dụng các sản
phẩm công nghệ thông tin. Hiện nay Công ty còn nhận cung cấp các dịch vụ
tìm kiếm thông tin, cũng như tìm kiếm giải pháp khắc phục sự cố trên máy vi
tính phục vụ cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu. Những dịch vụ này do chi
nhánh tin học đảm nhận chi nhánh này đặt tại số 5-7 Đinh Lễ, Hà Nội.
Bộ phận thương mại thực hiện các hoạt động mua bán vào các sản
phẩm máy tính và thiết bị văn phòng. Sau đây là danh sách một số các sản
phẩm chủ yếu được lấy từ báo cáo bán hàng của Công ty do phòng báo cáo
cung cấp 12/2000:
Các sản phẩm máy tính và thiết bị văn phòng chủ yếu được cung cấp từ Công
ty cổ phần FINTEC
Mã vật tư Vật tư
MT Máy tính
COMPAQ COMPAQ
DESKPRO DESKPRO
04044 COMPAQ DESKPRO EP300/32M/4.3/2MVram/WoMo

(Nguồn : Phòng kế toán Công ty cổ phần FINTEC ngày 15/12/2000)

3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của CôNG TY FINTEC
Mô hình Công ty FINTEC mang đầy đủ các đặc điểm của một Công ty
cổ phần nội bộ cụ thể là cổ phiếu do các cổ đông sáng lập nắm giữ và không
phát hành rộng rãi ra công chúng. Loại hình này không tạo ra được tiền đề
cho sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng như không huy động được
nhiều các nguồn vốn khác từ bên ngoài giúp cho sự phát triển của Công ty.
Trong tương lai Công ty cũng đã có những dự trù cho sự phát triển thành
Công ty cổ phần đại chúng. Có thể nêu ra đây một số các vị đứng đầu Công
ty ở thời điểm hiện nay.
Bà Nguyễn Hoàng Yến là vị Chủ tịch Hội đồng quản trị từ khi thành
lập cho đến nay. Tổng giám đốc Công ty là ông Nguyễn Hồng Chương và hai
vị phó tổng giám đốc là ông Lê Linh Lương phụ trách IT (Information
technology công nghệ thông tin), ông Đỗ Hồng Minh phụ trách sản xuất. Mô
hình về cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty cổ phần FINTEC được minh họa
bằng sơ đồ sau:

9
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty


đốc
Trung
tâm thiết
bị văn
phòng
ChánhV
ăn
phòng
Công ty
ChánhV
ăn
phòng
kiều hối
Ban kiểm soát

10
mái trong tâm lý làm việc tại Công ty. Bên cạnh đó có những cán bộ phải phụ
trách các nhiệm vụ không đúng với chuyên môn của mình. Chẳng hạn Chánh
văn phòng lại phụ trách cả mảng xuất nhập khẩu. Mặc dù vậy với tình trạng
như thế hiện nay Công ty vẫn chưa có những rắc rối trầm trọng nào tuy nhiên
khi mà quy mô của Công ty phát triển hơn thì việc phân định rõ ràng trách
nhiệm của các nhà quản lý cho phù hợp với quy mô cũng như chuyên môn thì
sẽ có hiệu quả hơn cho công tác quản lý.

II. Kết quả sản xuất kinh doanh và tình hình quản lý tài chính của công ty:
1. Kết quả sản xuất kinh doanh:
Sau khi đã biết đến mô hình cơ cấu tổ chức ở phần trên ở phần này chúng
ta sẽ phân tích xem với cơ cấu tổ chức như thế kết quả hoạt động kinh doanh
của Công ty ra sao cụ thể ở đây là tình hình tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm của
Công ty chủ yếu được sản xuất từ xí nghiệp chế biến thực phẩm.

nghiệp trong hai năm 1999 và năm 2000.
Bảng tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp chế biến
thực phẩm năm 1999-2000
Chỉ tiêu Năm 1999

Năm 2000

Năm
2000 so
với năm
1999(%)

Tổng doanh thu 2200071455

11296267003
513.5

Trong đó: doanh thu hàng
xuất khẩu
0

10009227636 Các khoản giảm trừ 0

266333158 - Chiết khấu 0

7518686829

374

3. Lợi tức gộp 190230812

3511247016 4. Chi phí bán hàng 59851

223210260 5. Chi phí quản lý doanh nghiệp

59004

340064336 6. Lợi tức thuần từ hoạt động
kinh doanh
190111957

2947972390 7. Lợi tức hoạt động tài chính 0


và máy tính cá nhân cùng các thiết bị mạng đã tạo cho trung tâm một thị
trường rộng lớn. Tuy vậy không riêng gì trung tâm mà có rất nhiều những
doanh nghiệp khác cũng kinh doanh các thiết bị văn phòng và không thiếu gì
những Công ty nước ngoài đặt đại lý tại Việt Nam. Sự kết hợp chặt chẽ giữa
trung tâm thiết bị văn phòng và chi nhánh tin học hiện tại có thêm trung tâm

13
thương mại điện tử thì việc tiêu thụ các thiết bị văn phòng có phần thuận lợi
hơn.
Từ năm đầu 2000 khi trung tâm thương mại điện tử được thành lập
thì Công ty đã có thêm một hình thức quảng cáo mới đó là việc thiết lập các
trang web site trên mạng nhằm giới thiệu về Công ty cũng như các sản phẩm,
dịch vụ mà Công ty cung cấp với địa chỉ http/www.fintec-vn.vnn.vn . Đây là
một hình thức marketing mới được đánh giá là có hiệu quả trong trào lưu phát
triển của thời đại công nghệ thông tin. Tuy nhiên vì là một hình thức mới
nên đòi hỏi Công ty cần có những sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt cả nhân
lực lẫn vật lực. Bởi để có thể áp dụng hình thức marketing mới cần có sự tìm
hiểu kỹ lưỡng về cách thức hoạt động cũng như chi phí tốn kém cho việc áp
dụng nó hay kết quả thu được từ hoạt động này như thế nào. Trung tâm
thương mại điện tử mới thành lập chưa lâu được gần một năm bởi vậy mà
hoạt động của trung tâm này còn ở dạng đang khai hoang, mở đất. Những
bước đầu đạt được còn khiêm tốn như xây dựng các trang web cho các tập
thể, hay cá nhân có yêu cầu. Một số các trang web như Nha xa. net,
Audio4fun là những sản phẩm đầu tiên khẳng định sự có mặt của trung tâm.
Một khó khăn lớn nhất mà đang là vấn đề nan giải đặt ra cho trung tâm đó là
vấn đề về các thủ tục thanh toán qua mạng đối với dịch vụ của Công ty sao
cho thuận lợi và bảo đảm an toàn. Đây là một vấn đề cần đặt ra đối với tất cả
các doanh nghiệp muốn tham gia và thương mại điện tử. Bởi thanh toán ở
Việt Nam bằng credit card còn mới mẻ và không được phổ biến như ở nước
ngoài gây ra những cản trở nhất định trong quá trình trao đổi.

tích tài chính trong các lĩnh vực khác nhau. Bởi Công ty kinh doanh trong
nhiều lĩnh vực cho nên đòi hỏi có các chính sách quản lý tài chính khác nhau.
Mặc dù xí nghiệp thuộc nghành sản xuất nông nghiệp bởi các sản phẩm mà
xí nghiệp sản xuất ra là các sản phẩm từ nông nghiệp như lạc, vải, ớt bởi
thế quản lý tài chính sẽ khác hơn so với quản lý tài chính của trung tâm thiết

15
bị văn phòng hay chi nhánh tin học hay văn phòng kiều hối. Do đó để có thể
đánh giá được tình hình quản lý tài chính của Công ty chúng ta sẽ phân tích từ
trong các kế hoạch về quản lý chi phí giá thành sản xuất kinh doanh, sau đó
sẽ phân tích đến các chỉ số tài chính được phân tích từ kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh và bảng cân đối kế toán cuối cùng sẽ là phân tích về quản lý
lợi nhuận, phân phối lợi nhuận.
Tại Công ty FINTEC Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm
quản lý tài chính cùng với sự quản lý chuyên môn của kế toán trưởng. Đối với
xí nghiệp thì vì đơn vị này hạch toán độc lập nên việc quản lý tài chính do
giám đốc xí nghiệp trực tiếp quản lý. Việc phân định rõ ràng phạm vi trách
nhiệm quản lý cũng như quyền hạn của người ra quyết định tài chính được ghi
rõ ràng trong điều lệ Công ty. Việc quản lý tài chính tại Công ty thực hiện
theo nguyên tắc mọi khoản chi đúng tính chất, hợp pháp, hợp lệ đảm bảo
đúng mục đích công bằng tiết kiệm có hiệu quả, tạo điều kiện cho cán bộ
công nhân viên hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu đánh giá tình hình tài chính của Công ty
được nêu ra trong bảng sau đây:
Bảng phân tích các chỉ tiêu tài chính
Chỉ số Năm
1996
Năm
1997
Năm

5.36
24.68
8.24
6- Kỳ luân chuyển hàng tồn kho
181
67
15
44
7- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
32.75
50.56
33.18
48.02
8- Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần
4.62
7.44
8.76
11.28

16
9- Tỉ số nợ
0.75
0.81
0.55
0.82
10-Tỉ số tổng tài sản trên vốn cổ phần
3.98
5
2.21
5.57

thấy được một bức tranh toàn cảnh về kết quả hoạt động tài chính của doanh
nghiệp trong các năm từ 1996 đến 1999. Chỉ số thanh toán hiện thời cho biết
trong Công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt thanh
toán cho các khoản nợ ngắn hạn. ở năm 1996 chỉ số thanh toán hiện hành của
Công ty cho thấy cứ 1đ nợ ngắn hạn thì có 1.29 đồng tài sản có thể sẵn sàng
cho việc trả nợ. Vào cuối năm 1997 thì khả năng thanh toán của Công ty có
giảm sút điều này được chỉ rõ khi chỉ số thanh toán hiện thời chỉ còn là 1.12
tuy vậy xét về khả năng thanh toán thì vẫn có cải thiện vào năm 1998 với chỉ

17
số thanh toán ở mức cao nhất trong các năm là 1.67. Việc chỉ số thanh toán
hiện thời tăng khẳng định khả năng trả nợ tăng tuy nhiên nếu chỉ số này quá
cao thì lại chứng tỏ khả năng sử dụng vốn lưu động không linh hoạt bởi nếu
vốn lưu động bị tồn đọng trong hàng tồn kho hay phải thu của khách hàng sẽ
làm giảm hiệu quả của vốn lưu động. Để có thể đi đến kết luận chính xác ta
cần xem xét với các chỉ số hoạt động đó là chỉ số về vốn lưu động cụ thể là
vòng quay các khoản phải thu và hàng tồn kho.
Chỉ số kỳ thu tiền bình quân cho thấy cứ trung bình 37 ngày(hơn 1
tháng) vào năm 1996 thì Công ty thu hồi được tiền khách hàng nợ 1 lần. Đối
với mặt hàng mà Công ty đang kinh doanh vào thời điểm lúc đó thì chỉ số này
cho thấy chính sách bán chịu của Công ty là khá thoáng tuy rằng nó vẫn ở cho
phép. Cho tới cuối năm 1997 thì tình trạng bán chịu vượt mức cho phép, số
vốn bị khách hàng chiếm dụng khá lớn gấp hơn 5 lần so với năm 1996. Điều
này đã làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty bởi nếu thu
được tiền nhanh hơn thì Công ty có thể dùng đầu tư vào lô hàng mới hoặc đầu
tư cho khác hoạt động mang lại lợi nhuận khác. Đó là xét về mặt lý thuyết
tuy nhiên khi chúng ta xem xét Công ty vào thời ký năm1997 khi mà trung
tâm thiết bị văn phòng mới được thành lập để tạo được mối quan hệ thân thiết
với khách hàng đồng thời làm quen với thị trường thì Công ty đã có chính
sách nới lỏng việc quản lý tài chính bởi thế mà tiền bán chịu đã tăng nhiều

nghiệp. Chúng ta sẽ chuyển sang phần cuối cùng về chính sách phân phối lợi
nhuận của Công ty.
b.Chính sách phân phối lợi nhuận của Công ty cổ phần FINTEC
Phân phối lợi nhuận của Công ty FINTEC có đặc điểm như sau các chi
nhánh đương nhiên hoạt động theo quy chế đã nêu về các hình thức quản lý
tài chính và do đó các đơn vị hạch toán độc lập sẽ tự quản lý lấy các phần lãi
giữ lại của mình sau khi đã nộp một tỉ lệ % lợi nhuận nào đó về Công ty.
Doanh thu thuần Tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần = x
T
ổng t
ài s
ản
V
ốn cổ phần19
Chẳng hạn như đối với xí nghiệp là đơn vị độc lập thì có quy chế quản lý tài
chính riêng mình về các khoản lợi tức giữ lại sau khi đã nộp phần trăm lợi tức
hoạt động về Công ty.

Mặc dù các đơn vị tự quản lý lấy phần lãi của mình tuy nhiên công ty
còn đưa ra những quy định về việc lưu giữ các khoản tiền mặt chưa sử dụng
đến trong các đơn vị . Tức là khi các đơn vị có những khoản tiền chưa sử
dụng đến có thể gửi vào quỹ của công ty với lãi suất là 0,3 %/tháng còn
những đơn vị muốn vay từ quỹ của công ty thì phải vay với lãi suất là
0.5%/tháng. Quỹ này gọi là quỹ điều tiết của công ty nhằm trợ giúp cho các
đơn vị gặp khó khăn về tài chính cũng như để có thể điều tiết được nguồn tài
chính của công ty một cách ổn định duy trì sự bình ổn về tài chính giữa các
đơn vị trực thuộc.
Quản lý tài chính đối với lợi nhuận vấn đề cần quan tâm là việc chia cổ
tức như thế nào cho các cổ đông sao cho hợp lý bởi mức cổ tức cao có thể làm
hài lòng các cổ đông nhưng lợi nhuận giữ lại thấp làm cản trở tốc độ tăng
trưởng của Công ty. Phần lợi nhuận giữ lại của Công ty ngày càng cao như
trong bảng cân đối kế toán chúng ta thấy xuất phát từ sự chuẩn bị cho một
chiến dịch phát triển dài hạn tiếp theo của Công ty đó là sẽ trở thành một
Công ty cổ phần đại chúng có cổ phiếu được niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam .
Tóm lại, sau khi phân tích tình hình tài chính, tiền lương, giá thành chi
phí thì điểm nổi bật và dễ thấy nhất là lợi nhuận của Công ty tăng theo các
năm, tài chính ổn định, công tác quản lý giá thành chặt chẽ.
III Những điểm mạnh , những thiếu sỏt và giải pháp của công ty:

21
1.Những điểm mạnh của Công ty cổ phần FINTEC
 Có được đội ngũ nhân viên trẻ và nhiệt tình với công việc. Tuổi đời của
nhân viên ở Công ty trung bình là 26 tuổi. Với hướng phát triển của Công
ty trong các năm tới chú trọng vào phát triển lĩnh vực máy tính và thương
mại điện tử thì điểm này là đáng quan tâm. Bởi lẽ với hướng phát triển này
chắc chắn sẽ đòi hỏi ở một đội ngũ nhân viên trẻ có sức sáng tạo và học
thức cao.

nhân viên khi tham gia vào làm việc tại Công ty có thể hiểu biết cặn kẽ về
Công ty mình biết về các bộ phận phòng ban, về ban lãnh đạo. Việc này
không những giúp cho nhân viên mới không vi phạm những nội quy của Công
ty mà còn có được những hiểu biết cơ bản đối với nề nếp làm việc tại môi
trường làm việc của mình. Không những thế còn có thể tạo cảm giác thân
thiện giữa nhân viên mới và những nhân viên cũ, không gây cảm giác bỡ ngỡ
cho những người mới đến.
 Phân chia công việc cho nhân viên chưa thực sự rõ ràng và thoả đáng.
Việc này có thể gây ra những thắc mắc nho nhỏ trong quá trình làm việc
của các cá nhân nhân viên.
 Phạm vi hoạt động khá rộng có thể dẫn đến khả năng kiểm soát không
được chặt chẽ. Như chúng ta thấy các Công ty mở rộng lĩnh vực kinh
doanh sang các hướng khác nhau là nhằm phục vụ cho các mục đích tiết
kiệm chi phí mở rộng bạn hàng và khuyếch đại số lượng khách hàng ở các
lãnh vực khác nhau. Và các chiến lược mở rộng chỉ có thể được tài trợ
bằng những nguồn vốn lớn đồng thời phải có một nền tảng kinh doanh khá
phát triển mới có thể nhòm ngó sang các lĩnh vực khác. Hơn thế nữa các
lĩnh vực kinh doanh khác nhau có các tính chất khác nhau yêu cầu những
hình thức quản lý khác nhau đòi hỏi các nhà quản lý phải có chuyên môn
về các lĩnh vực mà mình quan tâm.Sở dĩ chúng thấy có các tập đoàn kinh
doanh lớn như DAEWOO, TOSHIBA,GENERAL MOTOR bởi họ có
được tiềm lực về vốn lớn, chuyên môn giỏi và họ sẵn có một nghành kinh

23
doanh phát triển. Nguyên nhân làm nảy sinh các ý tưởng phát triển sang
các lĩnh vực khác nhau cùng còn xuất phát từ việc tiết kiệm các chi phí từ
các nghành khác nhau bởi thế mà các lĩnh vực khác nhau tuy nhiên vẫn
liên quan đến nhau. Và như thế liệu rằng với tiềm lực tại Công ty FINTEC
như hiện nay thì việc duy trì các lĩnh vực kinh doanh rộng như thế có thực
sự là hiệu quả?.

phát triển kinh doanh. Vì là một hướng đi mới và chứa đựng nhiều yếu tố hấp
dẫn cho sự khám phá mở mang thêm hiểu biết đồng thời có thể so sánh với
những hiện thực đang xảy ra trong thế giới ảo nên em muốn có một sự nghiên
cứu tỉ mỉ về vấn đề này. Hơn thế nữa tại Công ty đang có những tiền đề thuận
lợi cho việc nghiên cứu của mình nên em đã lựa chọn đề tài về thương mại
điện tử. Tuy nhiên thương mại điện tử là cả một mảng rất rộng các kiến thức
chuyên môn về kinh tế cũng như kỹ thuật bởi vậy việc khoanh vùng phạm vi
nghiên cứu là cần thiết cũng là để phù hợp với thời gian eo hẹp của việc viết
luận văn. Như đã trình bày ở phần trên marketing là một mảng cần có những
đầu tư thích đáng cho phù hợp với chiến lược phát triển của Công ty bởi vậy
đề tài sẽ là một nghiên cứu sơ bộ nhằm giúp cho Công ty có những chuẩn bị
khi tiếp cận với hướng phát triển mới của mình trong thị trường ảo.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status