1
Luận văn
Thực trạng của việc quản lý
TSCĐ ở Công ty Mây Tre
2
LỜI NÓI ĐẦU
Trong tình hình kinh tế hiện nay, chất lượng sản phẩm hiện nay là vấn đề
quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tài sản cố định (TSCĐ) lại
là một bộ phận cơ bản tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật của hoạt động sản xuất
kinh doanh, nó giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất tạo ra sản
phẩm. Hơn thế nữa, trong điều kiện khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp, TSCĐ thể hiện trình độ công nghệ, năng lực sản xuất và thế mạnh
của doanh nghiệp.
Vì vậy tài sản cố định cần được quản lý chặt chẽ phát huy được hiệu quả
cao nhất trong quá trình sử dụng. Hiệu quả quản lý TSCĐ quyết định hiệu quả
sử dụng vốn và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
Nhận thức được vấn đề đó, Công ty Mây Tre Hà Nội đã từng bước bổ
sung và hoàn thiện cơ sở vật chất nhằm góp phần tạo ra sản phẩm chất lượng
cao đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng.
Tổ chức tốt công tác TSCĐ là mối quan tâm chung của cả Công ty, nó có
ý nghĩa rất quan trọng đối với việc quản lý và sử dụng đầy đủ, hợp lý hoá công
suất TSCĐ, góp phần phát triển sản xuất, hạ giá thành sản phẩm thu hồi nhanh
vốn đầu tư để tái sản xuất, trang bị thêm và đổi mới không ngừng TSCĐ.
Trong quá trình thực tập, tìm hiểu thực tế ở Công ty Mây Tre Hà Nội tôi
đã nghiên cứu và chọn đề tài: "Thực trạng của việc quản lý TSCĐ ở Công ty
QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 4
I. TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA TSCĐ TRONG SẢN XUẤT
KINH DOANH
1. Khái niệm chung về TSCĐ
* Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình
sản xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền
với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản, tạo nên quá trình sản xuất. Nói
cách khác quá trình sản xuất là quá trình kết hợp ba yếu tố: tư liệu lao động, sức
lao động, đối tượng lao động. Mà trong đó TSCĐ là một yếu tố quan trọng hợp
thành tư liệu lao động. Vậy TSCĐ là gì?
Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu
có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, còn giá trị của nó được
chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ sản xuất.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các TSCĐ của doanh nghiệp cũng
được coi như một loại hàng hoá như mọi loại hàng hoá thông thường khác. Nó
không chỉ có giá trị mà còn có giá trị sử dụng. Thông qua mua, bán trao đổi các
TSCĐ có thể chuyển dịch quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang
chủ thể khác trên thị trường.
Theo quy định hiện hành: Quyết định số 1082 của Bộ Tài chính có hiệu
lực thi hành kể từ ngày 1/1/977 thì một tư liệu lao động được coi là TSCĐ phỉa
đồng thời thoả mãn hai yêu cầu sau:
Một là: Phải có thời gian sử dụng tối thiểu là 1 năm trở lên.
Hai là: Phải đạt giá trị từ 5 triệu đồng trở lên
Tuy nhiên trong một số nghành nghề đặc thù có những nhu cầu quản lý
riêng tài sản, đặc biệt là TSCĐ thì Bộ chủ quản có thể xin phép Bộ Tài chính để
có thể quy định một số tư liệu lao động không đủ hai tiêu chuẩn trên vẫn được
coi là TSCĐ và ngược lại.
6
Trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ bị hao
mòn dần và giá trị của nó được chuyển dần vào chi phí sản xuất kinh doanh. Khi
snả phẩm được tiêu thụ thì hao mòn TSCĐ chuyển thành vốn tiền tệ và nguồn
vốn này dùng để tái đầu tư TSCĐ của doanh nghiệp.
Ngoài ra, TSCĐ còn lại là một hàng hoá (nó vừa có giá trị và giá trị sử
dụng), nó được mua bán, chuyển nhượng, trao đổi trên thị trường, tư liệu sản
xuất.
Hơn nữa TSCĐ còn có giá trị đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm
Từ những đặc điểm trên cho thấy TSCĐ cần phải được quản lý chặt chẽ
cả về mặt hiện vật và giá trị. Cụ thể, về mặt hiện vật cần phải kiểm tra chặt chẽ,
thường xuyên việc bảo quản, sử dụng TSCĐ ở doanh nghiệp, theo thu hồi vốn
đầu tư ban đầu củ các loại TSCĐ để thực hiện việc đầu tư TSCĐ trong doanh
nghiệp. Cần phải có một công cụ kiểm tra luôn cung cấp thông tin đầy đủ, chính
xác, kịp thời về thực trạng TSCĐ để từ đó các bộ phận quản lý và sử dụng
TSCĐ có những biện pháp khác phục những khó khăn, tồn tại đồng thời tận
dụng được khả năng, công suất của TSCĐ
III. KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH:
1. Khái niệm:
Khấu hao là sự bù đắp về kinh tế hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
của tài sản cố định tuỳ theo mức độ hao mòn của nó.
Khấu hao được thực hiện bằng cách chuỷen dần giá trị của tài sản cố định
một cách có kế hoạch, theo định mức đã quy định vào sản phẩm sản xuất ra hoặc
vào công tác phục vụ trong suốt thời gia sử dụng tài sản cố định, đồng thời lập
quỹ khấu hao để bù đắp lại từng phần và toàn bộ hình thái vật chất của tài sản cố
định.
7
tố, song cơ bản nhất là phải xác định được thời hạn khấu hao. Việc đi tìm thời
gian hữu ích của tài sản cố định là một việc không đơn giản vì có nhiều nhân tố
tác động khác nhau đến hao mòn tài sản cố định. Đặc biệt là hao mòn vô hình
như sự xuất hiện của những phát minh mới rất khó dự đoán được chính xác. Do
khấu hao là sự bù đắp hao mòn nên khấu hao phải bù đắp cả hao mòn hữu hình
và hao mòn vô hình, bởi vậy thời gia tính khấu hao phải ngắn hơn thời gian sử
dụng tài sản cố định.
Để tính được lượng khấu hao hàng năm của tài sản cố định cần phải xác
định được tổng giá trị bình quân tài sản cố định cần tính khấu hao và tỷ lệ khấu
hao.
Tài sản cố định trong năm tăng hoặc giảm do nhiều nguyên nhân, chẳng
hạn
Tài sản cố định tăng do mua sắm bằng các nguồn vốn khác nhau của
doanh nghiệp, do nhận góp vốn liên doanh, do được cấp phát, do xây dựng cơ
bản hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng, do uy tín đối với khách hàng ngày
một tăng, do có những phát minh và sáng kiến mớiv.v
Tài sản cố định giảm do nhượng bán những phần không cần dùng, do
thanh lý bộ phận bị hư hỏng, do đem đi góp vốn liên doanh, do mất mát. do bàn
giao cho đơn vị khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền, do danh tiếng bị
mất dần, uy tín ngày càng giảmv.v
Chính vì vậy khi tính khấu hao chúng ta phải tính tổng giá trị bình quân
tài sản cố định theo các công thức sau đây:
T
ổng giá trị
bình quân tài T
ổng giá trị t
ố định giảm
trong năm
Giá trị tài sản cố định Số tháng sẽ sử dụng
tăng thêm trong năm x tài sản cố định tăng
trong năm
Giá trị bình quân
tài sản cố định tăng =
thêm trong năm 12
Giá trị tài sản cố định Số tháng sẽ sử dụng
giảm thêm trong năm x tài sản cố định giảm
trong năm
Giá trị bình quân
tài sản cố định giảm =
thêm trong năm 12
Do đơn vị thời gian để tính tổng giá trị sản lượng của tài sản là tháng nên
người ta quy ước như sau: Tài sản cố định tăng vào một ngày nào đó trong tháng
thì tháng sau mới phải tính khấu hao; tài sản cố định giảm vào ngày nào đó trong
tháng thì tháng sau mới thôi không tính khấu hao.
Trong đó:
Nguyên giá của tài sản cố định được xác định theo nhiều cách khác nhau
dựa trên nhều nguồn hình thành khác nhau, chẳng hạn:
- Đối với tài sản cố định do mua sắm (kể cả trường hợp mua tài sản cố
định cũ và mới). Nguyên giá của tài sản cố định bao gồm: Trị giá mua của tài
sản cố định và chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử, thuế phải nộp về tài
sản cố định mua về (nếu có).
10
- i vi ti sn c nh t ch, xõy dng mi. Nguyờn giỏ ca nú bao
tớnh khu hao, chỳng ta cn phi xỏc nh t l khu hoa hng nm. T l khu
hao ny ph thuc vo phng phỏp tớnh khu hao.
đ== 16.000.000
12
x824
N năm trong tăng TSCDĐ BQ trị Gía
đ== 13.500.000
12
19 x18
N năm trong mgiả TSCĐ BQ trị Giá
Vy tng giỏ tr bỡnh quõn ca TSC trong nm N ca doanh nghip X l :
300.000.000 + 16.000.000 - 13.500.000 = 302.500.000
Sau khi ó xỏc nh c tng giỏ tr bỡnh quõn ca TSC cn tớnh khu hao,
chỳng ta cn phi xỏc nh t l khu hao hng nm. T l khu hao hng ny
ph thuc vo phng phỏp khu hao
3. Cỏc phng phỏp tớnh khu hao c bn ti sn c nh hu hỡnh:
11
Phương pháp khấu hao bình quân theo thời gian (khấu hao theo đường
thẳng, khấu hao tuyến tính). Đây là phương pháp khấu hao mà mức khấu hao
phải trích giữa các kỳ như nhau. Phương pháp này hiện nay cũng được nhiều
doanh nghiệp áp dụng.
Theo phương pháp này việc xác định mức khấu hao phải trích mỗi năm
được tính như sau:
Số tiền khấu hao Nguyên giá của + Chi phí tháo dỡ để - Giá trị thanh lý TSCĐ
trung bình phải = tài sản cố định thanh lý TSCĐ lý TSCĐ
trích mỗi năm Số năm hữu dụng của TSCĐ
x Tỷ lệ thời gian sử dụng TSCĐ trong năm
12
5
140
KH Møc =x=
Mức khấu hao cho 2 tháng (tháng 1 và tháng 2 )năm 2000 là :
tr 4,7
12
2
x
5
140
2000 KH Møc ==
Tổng mức KH = 23,3 + (28 x 4) + 4,7 = 140 tr
13
Trong đó:
K: là mức khấu hao TSCĐ hàng năm:
N
G
K =
T: là tỷ lệ KH (%)
G: Là nguyên giá TSCĐ
N: Là tời gian hữu dụng dự kiến
áp dụng vào ví dụ ta có:
100(%) x
5
1
ứ
Cách kh
ấu hao
M
ức KH
Giá tr
ị c
òn l
ại của TSCĐ
1
40% x 150 tr
60tr
90tr
2
40% x 90 tr
36tr
54tr
3
N
1) -(i - n
Mi =
Trong đó:
M
i
: Là mức khấu hao tính trích kỳ thứ i
n: Là số năm sử dụng của TSCĐ
N: Là tổng số năm hữu dụng của TSCĐ [ N= n (m+1);2]
il : Là năm tính khấu hao (i=1,n)
Ví dụ 4: Một TSCĐ mới, nguyên giá là 100tr.đ, thời gian hữu dụng là 5 năm, giá
thanh lýứoc tính là 7 tr.đ.
Tổng số năm hữu dụng N = 5(5+1):2 =15.
Kết quả mức tính khấu hao hàng năm như sau: 15
Năm
th
ứ
cách tính
M
ức KH phải tính
2/15 x (100tr
-
7tr)5
1/15 x (100tr
-
7tr)Ngoài các phương pháp tính khấu hao cơ bản của tài sản cố định hữu hình
ở trên, chúng ta cần phải tính mức khấu hao sửa chữa và bảo dưỡng của tài sản
cố định trong quá trình sử dụng theo công thức:
Theo chế độ tài chính hiện hành ở nước ta quy định thì Bộ tài chính xây
dựng và quy định tỷ lệ khấu hao TSCĐ thống nhất đối với từng nhóm TSCĐ,
các doanh nghiệp áp dụng theo quy định đó. Mức khấu hao đựơc tính hàng
tháng theo công thức sau:
Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện và mức độ sử dụng TSCĐ ở doanh nghiệp có thể
xác định hệ số điều chỉnh mức trích khấu hao cho phù hợp với tình hình thực tế
sử dụng TSCĐ hàng tháng thì người ta dựa vào mức trích khấu hao tháng trước
và số khấu hao tài sản cố định tăng thêm và giảm bớt trong tháng để tính.
th¸ng 12
(%) KH lÖ tû xTSC§ NG
th¸ng trong trÝchTSC§ KH Sè
∑
0140.000.00
1995 KH Møc =x=
Các phương pháp khấu hao nhanh:
Các phương pháp khấu hao có mức khấu hao ở những thời kỳ đầu sử
dụng TSCĐ cao hơn mức khấu hao ở những thời kỳ sau và càng về sua, mức
khấu hao càng giảm dần, gọi là phương pháp khấu hao nhanh.
Các doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao nhanh thì phải đáp ứng
các điều kiện chủ yếu sau:
Một là : Được cơ quan thuế và cơ quan chủ quản đồng ý.
Hai là: Doanh nghiệp nếu áp dụng phương pháp khấu hao nhanh thì phải có lãi
Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần:
Theo phương pháp này, thì giá trị thanh lý uớc tính của TSCĐ không
được tính đến, trong khi đó tỷ lệ khấu hao hàng năm được tính gấp đôi tỷ lệ
khấu hao theo đường thẳng. Dựa trên tỷ lệ khấu hao đã tính gấp đôi và giá trị
còn lại của TSCĐ hàng kỳ để tính mức khấu hao kỳ đó.
T
ổng số tiền KH sửa
=
T
ổng giá trị BQ TSCĐ
x
T
ỷ lệ KH sửa chữa
17
ch
a v
TSCĐ BQ trị giá tổng
số) doanh (hoặc năm trong SX trị Giá
TSCĐ HSSD số Hệ =
Ch tiờu ny phn ỏnh mt ng TSC trong nm thỡ lm ra c bao nhiờu
ng giỏ tr sn xut
4.2 H s hm lng
H s ny c xỏc nh bng cụng thc:
năm trong SX trị Gía
năm trong VCĐ BQd Số
ịnh vốn lợng hàm số Hệ =đ
Ch tiờu ny phn ỏnh lm ra mt ng giỏ tr sn xut trong nm thỡ cn bao
nhiờu ng vn c nh
4.3 H s li nhun vn c nh
năm trong VCĐ BQd Số
năm hàng ròng nhuận Lợi
VCĐ nhuận lợi số Hệ =
4.4 T l hon vn:
T l ny c xỏc nh bng cụng thc:
2 : ầu) bant ầu (VCĐ
năm hằng KH CF - ándự dụng áp do năm hàng BQ kiệm tiết CF
vốn hoàn lệ Tỷ
đđ
=
18
Công ty còn tổ chức việc mở lớp học thêm để nâng cao trình độ đội ngũ cán
bộ và công nhân viên trong Công ty. Hiện nay nhờ việc áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất đáp ứng nhu cầu cung cấp sản phẩm ra thị trước nớc
ngoài Công ty đã có một hệ thống máy móc hiện đại để sản xuất đồ gỗ và
hàng mây tre đan nh : giường tủ, ghế song mây, mành, chiếu… các mặt hàng
đều có uy tín và chất lượng cao trên thị trường trong nước và quốc tế, do sự
kết hợp giữa nét truyền thống và hiện đại vào sản xuất các mặt hàng. Kết hợp
giữa mối quan hệ tốt của Công ty với bạn hàng nên hàng năm đã tạo ra doanh
thu lớn cho Công ty, vì vậy Công ty dần dần mở rộng việc sản xuất kinh
doanh của mình, song song với việc tuyển dụng thêm một số cán bộ công
nhân viên có tay nghề cao
Trong khi đó Đông Âu và Liên Xô tan rã, Xí nghiệp bị mất đi một thị tr-
ường lớn, đã gây rất nhiều khó khăn cho Công ty
Điều này đã khiến Công ty phải tìm hướng kinh doanh và bạn hàng mới.
Để đáp ứng nhu cầu của thị trường mới, Xí nghiệp đã chuyển mặt hàng từ sản
xuất, chế biến các mặt hàng nấm, mộc nhĩ…sang sản xuất và kinh doanh các
hàng mây tre cùng các loại thủ công mỹ nghệ xuất khẩu khác. Do tính chất
của mặt hàng thay đổi từ năm 1995, Xí nghiệp đã đổi tên thành Công Ty Mây
Tre Hà Nội cho phù hợp (theo quyết định số 226/TCLĐ ngày 07/04/1995 của
Bộ Lâm Nghiệp) với tên giao dịch quốc tế là SFOPRODEX Hà Nội, trụ sở
đóng tại 14- Chương Dương- Hoàn Kiếm Hà Nội.
Do có sự thay đổi về thị trường, cơ chế kinh tế và mặt hàng kinh doanh
nên Công ty phải từng bước bố trí sắp xếp lại cơ cấu tổ chức cho phù hợp với
quy mô và khả năng sản xuất của công ty, Công ty đã không ngừng nâng cao
trình độ quản lý của lãnh đạo, bồi dưỡng tăng cường kỹ thụât nghiệp vụ cho
cán bộ công nhân viên trong công ty.
20
- Quan hệ và thực hiện nghĩa vụ với chính quyền địa phương trên cơ sở hù
hợp với chế độ chính sách đúng của nhà nước và làm tốt nhiệm vụ kinh tế xã
hội an ninh, quốc phòng trên địa bàn địa phương.
- Cùng với sự nỗ lực phấn đấu của đội ngũ cán bộ công nhân viên công ty,
nên công ty đã thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, bảo toàn và phát triển được
vốn kinh doanh khai thác được nguồn hàng và có chất lượng ổn định giữ vững
đợc bạn hàng truyền thống và mở rộng mối quan hệ kinh doanh với nhiều bạn
hàng nh Đài Loan, Thái Lan, Tiệp Khắc, Nhật Bản, Tây Ban Nha…
2.3 Quyền hạn
Được phép giao dịch và ký kết hợp đồng kinh tế, liên doanh, liên kết hợp
tác với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để phục vụ sản xuất kinh
doanh phù hợp với chủ trương, chính sách đường lối pháp luật của Đảng và
Nhà nớc.
Được quyền vay vốn Ngân hàng, quyền huy động vốn các cá nhân và tổ
chức.
Quyền tham gia hội chợ, quảng cáo, triển lãm hàng hoá.
Quyền tuyển dụng lao động.
2.Đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý ở Công ty Mây Tre Hà nội
2.1 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
- Xưởng sản xuất nan mành xuất khẩu: Sản xuất chiếu trúc có công nghệ
khép kín với các thiết bị cơ giới của Đài Loan
- Xưởng sản xuất chiếu tre xiên lố xuất khẩu: Sản xuất chiếu tre xiên lỗ
với dây truyền công nghệ của Đài Loan.
- Xưởng gia công chế biến đồ gỗ, mây tre đan thủ công mỹ nghệ.
- Cửa hàng giới thiệu sản phẩm.
22
Các quá trình sản xuất của công ty được tổ chức theo các quy trình công
nghệ khép kín, tuỳ theo đặc điểm từng loại sản phẩm trong từng phân xưởng
khao lỗ
mài góc
Cưa cắt
Đánh bóng
Xâu thành
mành
Hoàn
chỉnh
Xấy khô Đóng gói
Tre đoạn
23
Vừa đại diện cho nhà nước, vừa đại diện cho công Nhân viên chức tại
Công ty, là người có quyền cao nhất, quyết định chỉ đạo mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty theo đúng kế hoạch, chính sách, pháp luật của
nhà nớc và nghị quyết của đại hội công nhân viên chức, chịu trách nhiệm tr-
ước nhà n và tập thể lao động về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty.
*Trợ lý giám đốc:
Giúp việc cho giám đốc và điều hành chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty
Các bộ phận nghiệp vụ, kỹ thuật gồm:
*Phòng kỹ thuật – sản xuất
*Phòng nghiệp vụ kinh doanh
*Phòng tài vụ
*Phòng tổ chức hành chính
*Xưởng sản xuất - chế biến
Trong Công ty, các phòng ban chức năng và các phân xưởng sản xuất
Giám đốc
Phòng tổ chức
hành chính
Phòng kinh
doanh
Phòng tài
vụ
Phòng kỹ
thuật KCS
Xưởng sản
xuất chế biến
25
Quản lý chất lượng cán bộ công nhân viên giúp việc cho giám đốc, bố trí,
sắp xếp đội ngũ cán bộ công nhân viên cho phù hợp với hoạt động sản xuất
kinh doanh trong doanh nghiệp.
Quản lý thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách của nhà nước đối với
người lao động. Quản lý và điều hành các công việc thuộc về hành chính quản
trị
*Phòng kế toán - tài vụ
Kế toán của Công ty là một bộ máy kế toán hợp lý và khoa học với đặc
điểm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm phát huy
vai trò của kế toán là một nhu cầu quan trọng của giám đốc và kế toán trưởng.
Công ty Mây Tre Hà Nội là một đơn vị hạch toán độc lập chịu sự chỉ đạo
trực tiếp của Tổng công ty Lâm Nghiệp Việt Nam, phòng kế toán của Công ty
đã tích cực tổ chức tốt công tác kế toán với tư cách là một công cụ quản lý