Trang 1
Luận văn
Một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng công tác
thanh toán điện tử tại NHCT
Hai Bà Trưng
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Thực hiện chủ trương phát triển và mở rộng thanh toán qua ngân hàng để
từng bước phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước, ngành ngân hàng đã từng bước triển khai mạnh mẽ các công việc
cụ thể là: hoàn thiện hoá các thể lệ thanh toán hiện đại hoá công nghệ ngân hàng.
Thực hiện chủ trương hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, đổi mới các
nghiệp vụ ngân hàng để phục vụ tốt nhất khách hàng trong nước, từng bước hội
nhập với hệ thống tài chính tiền tệ khu vực và quốc tế, phương thức thanh toán
điện tử đã ra đời nối mạng toàn quốc trong hệ thống Ngân hàng công thương Việt
Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và của NHNN, đến nay có thể nói
chủ trương trên được thực hiện là phù hợp với tình hình thực tế. Tuy phương thức
thanh toán điện tử mới được đưa vào áp dụng trong vài năm trở lại đây, nhưng qua
kết quả đã minh chứng rằng việc mở rộng thanh toán điện tử là cần thiết, hoàn toàn
có khả năng thực hiện tốt thanh toán điện tử sẽ góp phần tạo thêm nguồn vốn cho
sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, giảm lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường,
thúc đẩy tiến trình đổi mới công nghệ thanh toán qua ngân hàng. Bên cạnh những
tế quốc dân một cách dễ dàng mà còn đem lại hiệu quả to lớn cho nền kinh tế - xã
hội.
2.2. Ý nghĩa của thanh toán không dùng tiền mặt
Trong thực tế, nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển thì việc thanh toán,
chi trả bằng tiền mặt ngày càng ít đi và thay thế là quá trình thanh toán không dùng
tiền mặt, ở các nước có nền kinh tế phát triển thì tỷ lệ thanh toán không dùng tiền
mặt là rất lớn, hầu hết mọi giao dịch đều được tập trung thông qua ngân hàng để
thanh toán, chính vì vậy thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa rất lớn.
Thanh toán không dùng tiền mặt giúp ngân hàng và các tổ chức tài chính có
thể phát huy được khả năng huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để
cho vay phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, tăng cường nguồn vốn cho ngân hàng.
Việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt góp phần thực hiện tốt chính
sách tiền tệ của nhà nước.
Tạo điều kiện giảm chi phí lưu thông tiền mặt, tiết kiệm lao động xã hội,
tăng cường độ an toàn và phòng ngừa rủi ro.
II. VAI TRÒ, Ý NGHĨA, NGUYÊN TẮC THANH TOÁN VÀ CÁC
PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN GIỮA CÁC NGÂN HÀNG
1. Vai trò
Thanh toán qua lại giữa ngân hàng thể hiện chức năng tập trung thanh toán
của ngân hàng đối với nền kinh tế và điều hoà vốn trong nội bộ ngân hàng.
Thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán giữa các ngân hàng chính là thực hiện
được yêu cầu của công tác thanh toán không dùng tiền mặt đó là: nhanh chóng, kịp
thời, chính xác, an toàn tài sản, tăng nhanh vòng quay vốn góp phần tiết giảm chi
phí lưu thông do không phải in ấn vận chuyển tiền mặt từ nơi này sang nơi khác.
Để thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán qua lại giữa các ngân hàng thì đòi hỏi
ngân hàng phải cải tiến thể lệ, chế độ thanh toán không dùng tiền mặt cho phù hợp
với yêu cầu của việc trao đổi thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ của toàn xã hội,
Trang 8
tăng cường trang thiết bị kỹ thuật phục vụ thanh toán nhanh chóng chính xác, cải
Trang 9
hưởng ở các ngân hàng khác nhau thì đòi hỏi phải có ít nhất 2 ngân hàng tham gia
thực hiện thanh toán, thông qua nghiệp vụ thanh toán qua lại giữa các ngân hàng.
Thanh toán giữa các ngân hàng còn do nhu cầu của việc tập trung và điều hoà vốn
thuộc ngân sách nhà nước, của các ngành, các tổ chức kinh tế.
Ngoài ra, xuất phát từ các nghiệp vụ ngân hàng từ yêu cầu của công cuộc
điều hoà vốn trong từng hệ thống ngân hàng cũng đòi hỏi phải tổ chức nghiệp vụ
thanh toán giữa các ngân hàng.
4. Các phương thức thanh toán giữa các ngân hàng
Do cơ cấu tổ chức của hệ thông ngân hàng Việt Nam hiện nay, mỗi hệ thống
độc lập về vốn, mỗi NHTM được tổ chức thành lập từ trung ương đến cơ sở. Vì
vậy thanh toán giữa các đơn vị ngân hàng được thực hiện theo các phương thức
sau:
- Phương thức thanh toán liên hàng
- Phương thức thanh toán bù trừ
- Phương thức thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN hoặc qua tài
khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng khác.
- Phương thức thanh toán uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ.
III. PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN ĐIỆN TỬ (TTĐT) Ở NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG
1. Các quy định chung
Quy trình thanh toán điện tử thay thế quy trình thanh toán liên hàng qua máy
vi tính hiện hành là quy trình hạch toán quản lý điều hành vốn tập trung trong hệ
thống Ngân hàng Công thương Việt Nam.
- Mọi khách hàng giao dịch với Ngân hàng Công thương Việt Nam đều
được tham gia hệ thống thanh toán điện tử theo cơ chế thanh toán qua ngân hàng
ban hành theo quyết định số 22/QĐ-NH1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và
các văn bản hướng dẫn của Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam.
vào phần kiểm soát để kiểm tra lệnh thanh toán trên máy tính. KSV nhập lại các
yếu tố bắt buộc là: số tiền, ngân hàng nhận lệnh. Tuỳ theo yêu cầu quản lý để đảm
bảo sự khớp đúng cao giữa chứng từ gốc với chứng từ trên máy tính, trưởng phòng
kế toán có thể thiết lập để nhập lại các yếu tố cần thiết khác như: Mã NHB, tài
khoản người phát lệnh, tài khoản người nhận lệnh. Nếu khớp đúng, ký chữ ký
kiểm soát trên chứng từ gốc trước khi quyết định chấp nhận ghi KHM trên máy
tính để chuyển đi. Sau đó giao lại chứng từ gốc cho bộ phận kế toán CTĐT chuyên
trách.
- Sau khi tính KHM, chứng từ được tự động hạch toán và chuyển đi, bút
toán hạch toán được tự động gửi về trung tâm/ chi nhánh để đối chiếu.
3.1.1.2. Lệnh thanh toán tạo lập từ chứng từ điện tử:
NHPL nhận được chứng từ điện tử từ các hệ thống thanh toán nội bộ, thanh
toán song biên, thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTLNH), bù trừ điện tử, ngân
hàng bán lẻ (thanh toán trực tiếp từ khách hàng)… chuyển đến. Sau khi đã được
giải mã, chứng từ hợp lệ sẽ được chương trình tự động chuyển hoá thành lệnh
thanh toán trong hệ thống NHCTVN.
Trang 18
Kiểm soát viên căn cứ bảng kê chứng từ điện tử nhận đến từ các hệ thống
thanh toán trên, lựa chọn lệnh thanh toán từng hệ thống để tính KHM theo lô
chuyển đi ngân hàng nhận lệnh (NHNL). Trường hợp cần thiết có thể lựa chọn tính
KHM từng lệnh thanh toán như đối với chứng từ tạo lập từ chứng từ giấy để kiểm
soát.
- Sau khi tính KHM, lệnh thanh toán được tự động hạch toán và chuyển đi,
bút toán hạch toán được tự động gửi về trung tâm/chi nhánh để đối chiếu.
3.2. Hạch toán:
3.2.1. Tại ngân hàng phát lệnh
3.2.1.1. Lệnh thanh toán của khách hàng:
- Đối với lệnh thanh toán có:
Nợ: TK tiền gửi khách hàng hoặc TK thích hợp
phải nộp, kế toán viên lập chứng từ trích TK tiền gửi của chi nhánh tại NHNN trên
địa bàn theo quy chế thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để
chuyển sang NHNN. Đồng thời KTV lập lệnh thanh toán chuyển về NHCTVN (số
hiệu 999) và hạch toán:
Nợ: TK ĐCV trong kế hoạch
Có: TK tiền gửi tại ngân hàng nhà nước.
- Trường hợp chuyển các loại vốn khác về NHCTVN (điều chuyển giữa các
loại vốn giữa TW với chi nhánh)
Căn cứ nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh của các chứng từ liên quan và
các văn bản hướng dẫn hiện hành của NHCTVN, chi nhánh thực hiện lập chứng từ
điện tử
Việc lập và kiểm soát chứng từ được thực hiện như điểm 1.1 nêu trên.
3.2.2. Tại ngân hàng nhận lệnh (NHNL)
3.2.2.1. Quy trình xử lý lệnh thanh toán đến
Bộ phận kế toán phải bố trí kế toán chuyên trách CTĐT trực tiếp để theo
dõi lệnh thanh toán đến. Khi nhận được lệnh thanh toán đến, kế toán CTĐT thông
báo kịp thời cho KSV để kiểm tra KHM.
KSV khi nhận được thông báo phải thực hiện việc kiểm tra KHM kịp thời.
Sau khi KSV kiểm tra KHM, lệnh thanh toán được tự động hạch toán, bút toán
hạch toán được tự động gửi về TTTT/chi nhanh để đối chiếu.
a) Tại các chi nhánh NHCT
Trang 20
* Đối với lệnh thanh toán của NHNL (chứng từ nội bộ hoặc chứng từ
chuyển cho người nhận lệnh tại NHNL)
- KSV kiểm tra KHM theo từng lệnh thanh toán, kiểm tra thông tin người
nhận lệnh, nếu đủ điều kiện thanh toán thì hạch toán vào tài khoản ngượ nhận lệnh,
nếu không đủ điều kiện thanh toán thì hạch toán vào tài khoản chờ thanh toán để
xử lý theo quy trình xử lý sai sót.
- Sau khi được kết quả đối chiếu khớp đúng với TTTT, kế toán CTĐT in
- Các lệnh thanh toán này được hệ thống tự động hoạch toán và tự động
chuyển tiếp đến ngân hàng nhận lệnh.
- Kế toán CTĐT in báo cáo đối chiếu chứng từ nhận đến từ điểm giao dịch
(mẫu 03-CTĐT) để kiểm tra và lưu trữ.
* Đối với lệnh thanh toán giữa các điểm giao dịch trong cùng CN.
- Lệnh thanh toán được hạch toán tự động và tự động chuyển tiếp đến điểm
giao dịch nhận lệnh.
- Kế toán CTĐT in báo cáo đối chiếu cuối ngày (mẫu 05-CTĐT) để kiểm
tra, đối chiếu với điểm giao dịch.
b) Tại điểm giao dịch.
Chỉ thực hiện xử lý đối với lệnh thanh toán có người hưởng tại điểm giao
dịch như điểm 1.1.1 nêu trên.
3.2.3. Tại trung tâm thanh toán (TTTT)
- Tại TTTT mở tài khoản điều chuyển vốn trong kế hoạch cho từng chi
nhánh để hạch toán đối chiếu. Tài khoản của chi nhánh NHCT nào sẽ mang số
hiệu ngân hàng của chi nhánh NHCT đó. Đối với chi nhánh trực thuộc (CN cấp 1),
TTTT mở một số các tài khoản ĐCV khác để phản ánh và quản lý các loại vốn
giữa TW với CN.
* Lưu ý: Đối với chi nhánh phụ thuộc (CN cấp 2) chỉ được mở duy nhất TK
ĐCV trong kế hoạch
- Khi nhận chuyển tiền từ các chi nhánh, tại TTTT chương trình tự động kiểm
tra, đối chiếu và phân loại các chuyển tiền theo các nội dung để hạch toán:
Trang 22
+ Tính chất nghiệp vụ thanh toán Nợ - thanh toán Có
+ Phạm vi thanh toán trong hệ thống - ngoài hệ thống
3.2.3.1. Xử lý các chuyển tiền trong hệ thống:
- Các chuyển tiền trong hệ thống sau khi kiểm tra, đối chiếu với NHPL
được hạch toán tự động, tự động chuyển đi NHNL và chuyển sang vùng chờ đối
chiếu với NHNL.
- Các chuyển tiền nội bộ nhận đến từ các chi nhánh được xử lý như đối với
các lệnh thanh toán nội bộ tại các chi nhánh (mục II điểm 1.1.1)
3.2.3.4. Hạch toán
* Đối với chuyển tiền giữa các chi nhánh trong hệ thống:
- Đối với lệnh thanh toán Có:
Nợ: TK ĐCV trong kế hoạch NHPL.
Có: TK ĐCV trong kế hoạch NHPL.
- Đối với lệnh thanh toán Nợ:
Nợ: TK ĐCV trong kế hoạch NHNL.
Có: TK ĐCV trong kế hoạch NHPL.
* Đối với các chuyển tiền ra ngoài hệ thống NHCT qua thanh toán song
biên, thanh toán điện tử LNH… được tự động toán:
a. Trường hợp nhận được lệnh thanh toán của chi nhánh trước giờ ngừng
thanh toán song biên, liên NH…:
Nợ: TK ĐCV trong kế hoạch NHPL
Có: TK thu chi hộ (TT song biên hoặc TTLNH)
b. Trường hợp nhận được lệnh thanh toán của chi nhánh sau giờ ngừng
thanh toán song biên, liên NH…:
Nợ TK ĐCV trong kế hoạch NHPL
Có TK ĐCV chờ thanh toán
* Hạch toán các khoản vốn từ chi nhánh NHCT về TTTT:
a. Trường hợp chi nhánh chuyển vốn điều hoà về NHCTVN
- Khi nhận chuyển chuyển tiền gửi vốn của chi nhánh chuyển về, TTTT
hạch toán
Nợ: TK ĐCV thanh toán hệ thống
Có: TK ĐCV trong kế hoạch của CN gửi vốn
- Nhận được giấy báo có của NHNN chuyển đến TTTT hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi của NHCTVN tại NHNNTW
Trang 24
Trang 25
Khi phát hiện chuyển tiền thiếu, KTV căn cứ vào chứng từ gốc và lệnh toán
chuyển đến thiếu để lập bổ sung. Nội dung lệnh thanh toán lập bổ sung phải ghi rõ
chuyển bổ sung cho lệnh thanh toán số… ngày… và hạch toán như các lệnh thanh
toán đi bình thường.
- Chuyển tiền thừa:
Khi phát hiện chuyển tiền thừa sau khi đã gửi lệnh thanh toán đi, ngân hàng
phát lệnh phải lập ngay điện thông báo (mẫu 13-CTĐT) và lập biên bản chuyển
tiền thừa gửi ngân hàng nhận lệnh để có biện pháp xử lý kịp thời. Tuỳ từng trường
hợp cụ thể, NHPL xử lý như sau:
+ Trường hợp phát hiện chuyển tiền thừa sau khi đã gửi lệnh thanh toán đi
nhưng NHNL chưa kiểm tra KHM:
KTV căn cứ vào chứng từ gốc và lệnh thanh toán chuyển thừa để lập phiếu
điều chỉnh và hạch toán:
Đối với lệnh thanh toán có:
Nợ: TK ĐCV chờ thanh toán
Nợ đỏ: TK đã trích thừa
Đồng thời lập điện tra soát (mẫu 12-CTĐT) gửi NHNL để yêu cầu hoàn trả
số tiền thừa và ghi nhập sổ theo dõi chuyển tiền thừa chờ xử lý.
Khi nhận được lệnh thanh toán có chuyển trả số tiền thừa nói trên, NHPL
hạch toán:
Nợ: TK ĐCV trong kế hoạch
Có: TK ĐCV chờ thanh toán
Đồng thời ghi xuất sổ theo dõi chuyển tiền thừa chờ xử lý
Đối với lệnh thanh toán nợ:
Lập phiếu điều chỉnh hạch toán:
Có đỏ: TK thích hợp
Có: TK ĐCV chờ thanh toán
Đồng thời lập lệnh thanh toán có chuyển đến NH nhận lệnh để huỷ số tiền