Trang 1 Luận văn
Giải pháp tăng cường huy
động vốn tại ngân hàng công
thương Ba Đình
Trang 2
LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu hướng hội nhập kinh tế khu vực
và toàn cầu. Một trong những vấn đề có vị thế quan trọng hàng đầu trong sự
nghiệp mà chúng ta đang theo đuổi đó là vấn đề về nguồn lực, vấn đề vốn - vấn đề
thuộc cơ sở “ hạ tầng mềm” cho đầu tư phát triển. Đây là vấn đề mang tính cấp
thiết, đầy biến động đòi hỏi phải xây dựng, phát triển và thường xuyên được xử lý,
điều chỉnh nhằm đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế, giải quyết được
những thiếu hụt trong chi tiêu của Chính phủ. Vậy thì giải pháp nào cho huy động
vốn; chúng ta phải có những phương án, quyết sách cụ thể mang tính chiến lược
trong dài hạn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn cũng như nâng cao khả năng hấp thụ
vốn của nền kinh tế. Ngân hàng thương mại với chức năng của mình cần phải có
biện pháp thích hợp tập trung mọi nguồn vốn còn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư
và các tổ chức kinh tế, nhất là các hình thức huy động trung và dài hạn để cho vay
và đầu tư vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, đổi mới
công nghệ. Hệ thống ngân hàng đang phấn đấu nhằm thực hiện có hiệu quả chiến
lược huy động vốn trong nước và tranh thủ các nguồn vốn từ bên ngoài để đáp ứng
nhu cầu vốn của nền kinh tế, đẩy mạnh cho vay, khắc phục tình trạng ứ đọng vốn
trong hệ thống ngân hàng, đồng thời tập trung giảm tỷ lệ nợ quá hạn và kiểm soát
chất lượng tín dụng.
Nằm trong hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam, ngân hàng
I. VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐỐI VỚI NHTM.
1. Các hoạt động chủ yếu của NHTM.
1.1. Khái niệm NHTM
Theo luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ tháng 10 năm 1998, NHTM
được định nghĩa như sau: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ
yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khác hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện
thanh toán”.
NHTM là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, trong đó có hai
mặt cơ bản:
- Nhận ký thác của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức, cơ quan nhà
nước.
- Sử dụng các khoản ký thác đó để cho vay và chiết khấu.
Các loại hình của NHTM:
+ NHTM quốc doanh: là NHTM được thành lập bằng 100% vốn của nhà
nước.
+ NHTM cổ phần: là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ
phần.
+ Chi nhánh NHTM nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo luật
pháp nước ngoài nhưng hoạt động theo luật pháp nước sở tại.
+ Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên
ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam và hoạt
động theo luật pháp Việt Nam.
Trang 5
Quá trình phát triển của NHTM gắn liền với quá trình phát triển của thị
trường tài chính thông qua các giai đoạn từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Khi mới ra đời, tổ chức và nghiệp vụ hoạt động rất đơn giản nhưng càng về sau,
theo đà phát triển của kinh tế hàng hóa, tổ chức cũng như các nghiệp vụ của các
ngân hàng càng phát triển và hoàn thiện hơn. Ngày nay các NHTM có xu hướng
dưới mọi hình thức để thực hiện nhiệm vụ đầu tư, cho vay đối với các thành phần
kinh tế, giúp họ đổi mới trang thiết bị sản xuất, nâng cấp nhà xưởng phục vụ kinh
doanh…
Nghiệp vụ tài sản có (Sử dụng vốn):
- Nghiệp vụ dữ trữ tiền mặt:
Ngân hàng dự trữ tiền mặt nhằm duy trì khả năng thanh khoản của ngân
hàng, đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên, liên tục của khách
hàng vào bất cứ lúc nào. Dự trữ tiền mặt cao hay thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt
động, cơ cấu và tính chất nguồn vốn của NHTM. Các khoản dự trữ của NHTM
không sinh lời.
- Nghiệp vụ đầu tư: Ngân hàng tham gia góp vốn liên doanh, liên kết, thành
lập công ty con
- Nghiệp vụ cho vay: Cho vay là nghiệp vụ đem lại lợi nhuận chủ yếu cho
các NHTM. Các NHTM sử dụng phần lớn số tiền huy động được để cho vay đối
với nền kinh tế. Lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay là nguồn thu nhập chính
để bù đắp các loại chi phí trong hoạt động của Ngân hàng và thu lợi của NHTM.
Các dịch vụ Ngân hàng:
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình, các NHTM đã tiến hành cung
ứng các dịch vụ phục vụ khách hàng như: dịch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn tài
chính, trên cơ sở đó Ngân hàng thu phí dịch vụ. Ngày nay do nhu cầu phát triển
của nền kinh tế đòi hỏi hoạt động dịch vụ Ngân hàng ngày càng mở rộng về số
lượng và chất lượng. Các Ngân hàng đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, áp dụng
các công nghệ tiên tiến vào hoạt động Ngân hàng, thực hiện tốt khâu thanh toán
không dùng tiền mặt như uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán séc, thanh toán
bù trừ, thực hiện chuyển tiền nhanh qua mạng máy tính, thực hiện thanh toán bằng
thẻ tín dụng…
Trang 7
Thực hiện tốt khâu cung ứng dịch vụ góp phần làm tăng thu nhập cho Ngân
hàng vì xu hướng phát triển trong hoạt động của NHTM hiện đại là mở rộng các
tạo lập từ đâu, bằng cách nào phụ thuộc rất lớn vào cơ chế, chính sách tạo vốn.
Nguồn vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế – xã hội. Vậy, nguồn vốn của NHTM là gì?
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập và
huy động được để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập và huy động được không những giúp cho
ngân hàng tổ chức được mọi hoạt động kinh doanh mà còn góp phần quan trọng
trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng
cũng như sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung. Tuy nhiên,
nguồn vốn của NHTM được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: vốn chủ sở
hữu, vốn huy động, vốn đi vay và các loại vốn khác.
2.1. Vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của
NHTM, nó thực hiện một số chức năng không thể thay thế đó là: cung cấp nguồn
lực ban đầu cho ngân hàng có thể duy trì hoạt động khi ngân hàng mới thành lập,
là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng đến giao dịch với ngân hàng, phòng ngừa rủi
ro kinh doanh cho ngân hàng. Vốn chủ sở hữu bao gồm:
Trang 9
2.1.1. Nguồn vốn hình thành ban đầu.
Đây được coi như vốn điều lệ của ngân hàng trong quy định về điều kiện
thành lập ngân hàng của pháp luật. Nguồn vồn này là lượng vốn tối thiểu mà ngân
hàng cần phải có để đáp ứng điều kiện thành lập cũng như hoạt động kinh doanh.
Các loại hình ngân hàng khác nhau thì có nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác
nhau: Đối với ngân hàng quốc doanh thì nguồn vốn hình thành ban đầu là do ngân
sách nhà nước cấp, nếu là ngân hàng liên doanh thì là do các bên liên doanh đóng
góp, nếu là ngân hàng cổ phần thì các cổ đông góp vốn thông qua việc mua cổ
phần hoặc cổ phiếu của ngân hàng; nếu là ngân hàng tư nhân thì đó là vốn thuộc sở
hàng, vì trong nền kinh tế thị trường không thể tránh khỏi những rủi ro bất khả
kháng có thể xảy ra, khi đó, ngân hàng có thể trích các quỹ để bù đắp.
2.1.4. Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần.
Các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng mà có khả năng chuyển đổi
thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận vốn sở hữu của ngân hàng (vốn
bổ sung) do nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào
nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
2.2. Nguồn huy động.
Nguồn huy động không phải là nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng nhưng
lại là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân
hàng,thường thì tiền gửi vào và tiền rút ra không đồng thời hoặc chênh lệch nhau
một lượng nhất định. Ngân hàng sẽ sử dụng lượng vốn tạm thời nhàn rỗi này vào
mục đích cho vay kiếm lời. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng. Vốn huy động bao gồm:
- Tiền gửi giao dịch:
Là loại tiền gửi do khách hàng gửi vào nhằm mục đích giao dịch thanh toán,
chi trả các hoạt động mua bán hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi phí phát sinh
trong kinh doanh một cách an toàn, thuận tiện. Đặc tính cơ bản của tiền gửi giao
dịch là có thể phát séc, lãi suất thấp và có tính không ổn định.
- Tiền gửi phi giao dịch:
Trang 11
Bao gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, chúng có tính ổn định cao,
người gửi được hưởng lãi suất cao nhưng không được phát hành séc.
Bên cạnh đó, NHTM còn có thể huy động vốn thông qua phát hành các giấy
tờ có giá như: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu. Trong đó chứng chỉ tiền
gửi và kỳ phiếu là loại phiếu nợ ngắn hạn; trái phiếu là loại phiếu nợ trung, dài
hạn. Các loại phiếu nợ trên được Ngân hàng phát hành từng đợt với mục đích, số
lượng cụ thể và chỉ phát hành khi được sự cho phép của NHTW. Đặc điểm của các
loại giấy nợ này là chúng có lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi và tiền gửi tiết
vay này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng
nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn, là giải pháp tình thế cho ngân hàng
trong hoàn cảnh khó khăn.
3. Vai trò của nguồn vốn huy động đối với ngân hàng thương mại.
Các nguồn vốn huy động được sẽ quyết định quy mô cũng như định hướng
hoạt động của ngân hàng. Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá
trình kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động được coi là yếu tố đầu
vào thường xuyên, chủ yếu nhất của ngân hàng. Ngân hàng thực hiện các nghiệp
vụ tín dụng, đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn này.
Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh
của NHTM. Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí
thấp nó có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao. Ngược lại,
với quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn trong hoạt
động kinh doanh của mình. Chi phí huy động vốn của ngân hàng liên quan chặt
chẽ với lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các
công cụ nợ do ngân hàng phát hành.
Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng bù đắp được thiếu
hụt trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông qua huy động
vốn, ngân hàng nắm bắt được năng lực tài chính của khách hàng có quan hệ tín
dụng với ngân hàng. Qua đó, ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn đầu tư cho
vay đối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ tham ô, trốn
thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng. Từ đó có biện pháp
ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Trang 13
Cơ cấu nguồn vốn cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của NHTM.
Vốn tự có của ngân hàng chỉ phát sinh khi nhu cầu thanh toán tín dụng cấp bách
còn ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn huy động được. Nếu một ngân hàng huy
động được vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng đầu tư dài
hạn. Nhưng hiện nay việc huy động vốn trung và dài hạn chưa đáp ứng được nhu
“biến tướng” của tài khoản thanh toán để nâng lãi suất của loại tiền gửi này lên
nhằm cạnh tranh với các tài chính tín dụng khác.
Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn quá thấp, để
khuyến khích việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng, các NHTM thực hiện trả
lãi cho loại tiết kiệm tiền gửi này (hiện nay khoảng 0,2%/tháng). Ở các nước phát
triển loại tiền gửi này chiếm khoảng 30% tiền gửi của các ngân hàng. Vì lẽ đó, tạo
nguồn tiền gửi trên tài khoản thanh toán này được ngân hàng đặc biệt coi trọng.
Bên cạnh đó các ngân hàng có thể huy động vốn thông qua tài khoản tiền
gửi thanh toán của các ngân hàng khác, nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một
số mục đích khác, NHTM có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên, quy mô
của nguồn này thường không lớn.
1.2. Tạo vốn thông qua tiền gửi có kỳ hạn.
Nhiều khoản thu của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau
một khoảng thời gian nhất định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện trọng hoạt
động thanh toán song lãi suất lại thấp, để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi
tiền ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Tiền gửi có kỳ hạn là loại
tiền gửi được ủy thác vào ngân hàng trên cơ sở có sự thỏa thuận về thời gian rút
tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Như vậy, theo nguyên tắc khách hàng ký thác
chỉ được rút tiền ra khi đến hạn đã thỏa thuận. Tuy nhiên trên thực tế do phải cạnh
tranh để thu hút tiền gửi, các ngân hàng thường cho phép khách hàng được rút
trước hạn. Trong trường hợp này có thể có hai cách giải quyết: hoặc khách hàng
vay tiền của ngân hàng, sau đó khi đến hạn rút tiền thì dùng số tiền và lãi thu được
để trả nợ (cả gốc và lãi vay của ngân hàng); hoặc là thỏa thuận với khách hàng rút
tiền ra trước hạn và nhận lãi suất thấp hơn.
Tiền gửi có kỳ hạn là một nguồn vốn tín dụng mang tính chất ổn định, vì
mục đích của người gửi tiền là kiếm lợi chứ không phải là để thanh toán. Do đó,
Trang 15
khác với loại tiền gửi không kỳ hạn yếu tố lãi suất có tác động rất lớn đến loại
nguồn vốn này.
Các công cụ nợ của ngân hàng là các giấy nhận nợ mà ngân hàng bán cho
công chúng. Đây là cách thức vay vốn của NHTM, bởi vì những người sở hữu các
công cụ này được hoàn trả vốn vào thời gian đáo hạn cộng thêm khoản tiền lãi nhất
định. Những công cụ nợ của ngân hàng là:
- Tín phiếu ngân hàng: Đây là công cụ nợ ngân hàng dùng để huy động
những khoản vốn ngắn hạn.
- Kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng: Là những công cụ nợ để ngân hàng huy
động những khoản vốn trung - dài hạn.
Nếu đối với các tài khoản tiền gửi phụ thuộc nhiều vào sở thích của khách
hàng thì việc sử dụng các công cụ nợ là một hình thức huy động vốn mang tính
chủ động của ngân hàng. Tuy nhiên việc khách hàng có chấp nhận mua các công
cụ nợ đó hay không mới là điều quan trọng. Nguồn vốn huy động có được bằng
việc phát hành các công cụ nợ sử dụng cho những khoản tín dụng trong kế hoạch
của ngân hàng. Với lãi suất tín dụng trong kỳ kế hoạch, ngân hàng xác định mức
lãi suất nhất định cho các công cụ nợ, hay đưa vào thời hạn các khoản tín dụng
trong kế hoạch mà ngân hàng xác định sử dụng loại công cụ ngắn hạn hay trung -
dài hạn.
Đây là một hình thức tương đối mới mẻ so với các NHTM của các nước
đang phát triển vì nó phụ thuộc vào uy tín và năng lực tài chính của chính ngân
hàng đó. Tại Việt Nam, Thống đốc NHNN đã ban hành quyết định số 89/ QĐ-
NH9 và quyết định số 76/ QĐ- NH vào ngày 18/03/1995 về việc thành lập thị
trường mua bán lại tín phiếu cùng với quy chế tổ chức hoạt động của thị trường
này, tuy nhiên sự chấp nhận của khách hàng, dân cư còn thấp. Thị trường chứng
khoán ra đời phần nào đã thúc đẩy được việc mở rộng hình thức huy động vốn của
các NHTM qua việc phát hành các công cụ nợ.
Trang 17
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN.
3.1. Những nhân tố khách quan.
3.1.1. Tình hình kinh tế- xã hội.
thúc đẩy phát triển các thị trường tiền tệ cũng như hoạt động của hệ thông ngân
hàng. Mặt khác, việc xây dựng một môi trường pháp lý lành mạnh, thông thoáng
cũng là một nhân tố quan trọng góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động huy động
và sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại.
3.2. Những nhân tố chủ quan.
3.2.1. Lãi suất
Với tư cách là giá vốn, lãi suất có tác động điều tiết trực tiếp đến hoạt động tín
dụng, cho vay và huy động vốn của ngân hàng, tác động đến lợi nhuận khi xem
xét kết quả kinh doanh, tính toán lãi suất chênh lệch đầu ra đầu vào. Khi lãi suất
thay đổi theo diễn biến quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ, phản ánh
đúng tín hiệu của thị trường, điều đó khiến ngân hàng phải tìm kiếm, hoạch định
mức lãi suất phù hợp cho mình. Trong trường hợp lãi suất biến động do tác động
của các yếu tố phi vật chất (yếu tố tâm lí, yếu tố cạnh tranh không lành mạnh ) sẽ
có tác động bất lợi đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Đây là khó khăn đối
với các ngân hàng thương mại có quy mô hoạt động nhỏ, vốn tự có và khả năng tài
chính thấp. Trong trường hợp đó là viêc tăng lãi suất huy động, tác động hiệu ứng
đối với toàn bộ hệ thống, buộc các ngân hàng khác cũng phải tăng lãi suất để giữ
khách hàng gửi tiền trong khi đó có thể không thực sự có khó khăn về nguồn vốn.
Trong nền kinh tế thị trường, các hiện tượng kinh tế thường có diễn biến, thay đổi
nhanh. Lãi suất cũng là yếu tố nhạy cảm và thường xuyên thay đổi, gắn liền với sự
thay đổi của quan hệ cung cầu về vốn. Vì vậy, ngân hàng thương mại trong quá
trình hoạt động cần có sự theo dõi sát sao sự biến động đó để có những giải pháp
ứng phó kịp thời nhằm ổn định tình hình kinh doanh của mình.
3.2.2. Công nghệ ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng ngày càng có có sự cạnh tranh mạnh
mẽ không chỉ giữa các ngân hàng thương mại trong nước, mà trong tiến trình hội
nhập với nền kinh tế thế giới, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam còn
phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng có nhiều kinh nghiệm và tiềm
Trang 19
Trang 20
hàng ngày càng cao. Các ngân hàng cần phải đổi mới nhanh chóng trang thiết bị,
kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ… Thông qua công tác
marketing ngân hàng cần phải đưa ra các hình thức huy động vốn với thời hạn, giá
cả hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể để đáp ứng tốt nhất nhu
cầu, mong muốn của khách hàng về chất lượng, chủng loại các sản phẩm của ngân
hàng. Không những thế, công tác marketing ngân hàng còn phải biết kích thích các
nhu cầu của khách hàng nhằm lôi kéo khách hàng về với mình để không ngừng mở
rộng thêm các khách hàng mới, ngày càng thu hút được nhiều vốn hơn.
Trên cơ sở nghiên cứu thị trường ngân hàng có thể nắm bắt toàn bộ các
thông tin về môi trường kinh doanh, về khách hàng, đồng thời xây dựng chiến lược
marketing. Dựa trên yếu tố này, các ngân hàng sẽ sử dụng một cách linh hoạt,
mềm dẻo các công cụ kỹ thuật của marketing ứng dụng trong hoạt động của ngân
hàng để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Các công cụ kỹ thuật
marketing được tập trung vào 4 chính sách lớn:
- Chính sách thông tin, ngiên cứu, tìm hiểu điều tra.
Thực thi chính sách này cần huy động toàn bộ phương tiện vật chất cần thiết
để thực hiện việc quan sát, phân tích và tổng hợp các lĩnh vực cơ bản có liên quan
đến thị trường của ngân hàng. Từ các thông tin có được ngân hàng sẽ đưa ra các
chính sách kinh doanh nói chung và chính sách huy động vốn nói riêng phù hợp
với nhu cầu của khách hàng và nhu cầu sử dụng vốn của thị trường.
- Chính sách sản phẩm giá cả.
Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng bao gồm các dịch vụ cơ bản của nghề
ngân hàng là nghiệp vụ huy động vốn, nguồn vốn sử dụng vốn, nghiệp vụ thanh
toán và các nghiệp vụ ngoại vi mang tính chất hỗ trợ như dịch vụ tư vấn khách
hàng, nghiệp vụ thông tin theo nhu cầu, dịch vụ két… có những nghiệp vụ ngoại vi
không mạng lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng, song có tác dụng kích thích sự
chú ý, thu hút khách hàng và làm tăng giá trị cung ứng sự thỏa mãn của khách
hàng đối với các dịch vụ cơ bản. Đặc biệt với sự đa dạng hóa các sản phẩm của
- Chính sách giao tiếp, khuyếch trương.
Mục tiêu của chính sách này là làm thế nào để quảng bá thương hiệu của
ngân hàng ra đông đảo quần chúng nhân dân, giúp cho họ hiểu rõ về ngân hàng và
các dịch vụ ngân hàng. Bởi vì sự giao tiếp của nhân viên với khách hàng tạo ra
Trang 22
hình ảnh của ngân hàng, tạo ra sự tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng.
Giao tiếp tốt sẽ bảo vệ lợi ích của ngân hàng. Ngoài ra, hoạt động quảng cáo bao
gồm các biện pháp tuyên truyền các thông tin về sản phẩm cũng như dịch vụ tiện
ích của ngân hàng cũng là công cụ hữu hiệu để nâng cao vị thế của ngân hàng, thu
hút thêm khách hàng cho ngân hàng, tạo lòng tin của khách hàng đối với ngân
hàng.
3.2.4. Công tác cán bộ tổ chức.
Chìa khoá thành công của một ngân hàng ngoài các nhân tố khác không thể
không kể đến nhân tố con người. Một ngân hàng xây dựng được một đội ngũ cán
bộ có trình độ chuyên môn cao, đoàn kết, thân thiện, năng động, có bộ máy tổ chức
khoa học hợp lý, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh doanh sẽ có lợi thế trong
huy động vốn . Bởi lẽ, ngân hàng với trang thiết bị cơ sở hạ tầng hiện đại, các nhân
viên nhiệt tình, lịch sự và có chuyên môn nghiệp vụ cao tạo ấn tượng tốt đối với
khách hàng, điều này sẽ thu hút được khách hàng đến giao dịch. Trang 23
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG BA ĐÌNH.
I. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH.
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của NHCT Ba Đình.
Chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Ba Đình Hà Nội (hay gọi tắt là
NHCT Ba Đình) ra đời từ năm 1959, với tên gọi lúc được thành lập là Chi điếm
quản lý cũng như từ cơ chế, theo quyết định số 93/NHCT - TCCB của Tổng Giám
đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam (01/04/1993) Ngân hàng Công thương Ba
Đình thực hiện thí điểm mô hình tổ chức NHCT hai cấp (cấp TW - Quận) xoá bỏ
cấp trung gian là Ngân hàng Công thương Hà nội cùng với việc đổi mới và tăng
cường công tác cán bộ. Do vậy ngay sau khi nâng cấp quản lý cùng với việc đổi
mới cơ chế hoạt động, tăng cường đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực thì hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng Công thương Ba Đình đã có sức bật mới, hoạt động
kinh doanh theo mô hình một NHTM đa năng, có đầy đủ năng lực, uy tín để tham
gia cạnh tranh một cách tích cực trên thị trường và không ngừng tự đổi mới, hoàn
thiện để thích nghi với các môi trường kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường.
Từ đó đến nay hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Ba Đình
được ổn định và phát triển theo bốn định hướng lớn của ngành, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, kìm chế lạm phát, thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ,
đưa lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những năm trước.
1.2. Đặc điểm môi trường hoạt động và khách hàng của NHCT Ba Đình.
Ngân hàng công thương Ba Đình nằm trên địa bàn không có nhiều lợi thế về cơ
sở kinh tế (dân cư không tập trung, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế lớn
không nhiều…) nhưng lại có nhiều các tổ chức tín dụng lập trụ sở để huy động
vốn. Chính vì vậy ngân hàng phải xác định phương châm luôn tự làm mới bản thân
để tồn tại trong môi trường cạnh tranh mà ở đó có không nhiều cơ hội kinh doanh.
Những ngày đầu mới thành lập, hoạt động của ngân hàng chủ yếu trong địa bàn
quận, do vậy đã hạn chế đi nhiều khả năng kinh doanh của ngân hàng. Đến nay,
hoạt động kinh doanh của ngân hàng đã phát triển, mở rộng quy mô cả về lượng và
về chất, hiện nay ngân hàng đã và đang mở thêm nhiều chi nhánh cũng như quầy
giao dịch với mạng lưới rộng khắp nội ngoại thành, có nhiều sản phẩm, dịch vụ đa
Trang 25
năng , tổng hợp trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, thu hút được sự tín nhiệm của đông
đảo khách hàng trong và ngoài nước.
Chương trình đẩy mạnh cho vay và đầu tư của chi nhánh NHCT Ba Đình đã mở