Luận văn " QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ PHÁP – VIỆT THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG " - Pdf 10


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

===========
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ PHÁP – VIỆT

THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG

Giáo viên hướng dẫn : Vũ Thị Hiền

Sinh viên thực hiện : Hoàng Cẩm Vân

Lớp : Pháp 1 – K38E

2. Về phía Việt Nam 12

III. Quá trình phát triển quan hệ hợp tác Pháp - Việt 13

1. Giai đoạn trước năm 1973 13

2. Giai đoạn từ năm 1973 tới nay 15

IV. Năm lĩnh vực hợp tác cần được chú trọng trong việc phát triển quan hệ
hợp tác Pháp - Việt
21CHƠNG 2: QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ
25

PHÁP - VIỆT

I. Thuận lợi và khó khăn của quan hệ thương mại và đầu tư 25

Pháp - Việt

1. Thuận lợi 25

2. Khó khăn 30

II. Thực trạng của quan hệ thương mại Pháp - Việt 32

1. Kim ngạch buôn bán hai chiều 32



2. Hạn chế và nguyên nhân 61CHƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY QUAN
63

HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ PHÁP - VIỆT

I. Triển vọng quan hệ thương mại và đầu tư Pháp - Việt 63

1. Định hướng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư Pháp - 63

Việt

2. Dự báo triển vọng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư 64

Pháp - Việt

II. Những giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và 66

đầu tư Pháp - Việt
1. Những giải pháp mang tính vĩ mô 66

1.1 Thúc đẩy quan hệ chính trị 66

1.2 Có chính sách hỗ trợ hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Pháp 67

1.3 Có chính sách thu hút mạnh mẽ hơn nữa và nâng cao hiệu quả 68


mối quan hệ hữu hảo với Việt Nam, phải kể đến Cộng hoà Pháp. Là một nước lớn
trong liên minh Châu Âu với số dân hơn 60 triệu người, Pháp là một thị trường
lớn, có sức hấp dẫn cao đối với không chỉ nền kinh tế Việt Nam. Ngược lại Việt
Nam là một trong số những nước đang phát triển có mức tăng trưởng kinh tế cao
nhất nhì thế giới, dân số lại khá đông nên nhu cầu về hàng hoá của Pháp về tiêu
dùng và phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là rất cao.

Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta đến nay (1973), kim
ngạch buôn bán hai chiều giữa hai quốc gia ngày càng gia tăng. Cụ thể là kim
ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Pháp là 677 triệu FRF (năm 1990)
đến nay kim ngạch ngoại thương hai chiều giữa Việt Nam và Cộng hoà Pháp là
737,8 triệu USD (năm 2002).

Trải qua 30 năm quan hệ ngoại giao, hiện nay có thể nói quan hệ về chính
trị, văn hoá và nhiều mặt khác với Pháp là một trong những mối quan hệ tốt đẹp
nhất của Việt Nam. Tuy nhiên quan hệ về kinh tế giữa hai quốc gia vẫn chưa thật
tương xứng với tiềm năng của cả hai nước. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước
ta đang cố gắng tìm nhiều biện pháp để có thể thúc đẩy mối quan hệ thương mại -
đầu tư giữa hai nước lên tầm cao mới.

Chính vì lí do đó mà em đã lựa chọn đề tài: “Quan hệ thương mại và đầu
tư Pháp – Việt: thực trạng và triển vọng” để viết Khoá luận tốt nghiệp trường
Đại học Ngoại thương của mình.
Nội dung Khoá luận bao gồm các chương sau:
Chương 1: Khái quát về quan hệ Pháp – Việt
Chương 2: Quan hệ thương mại và đầu tư Pháp – Việt
Chương 3: Các giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư
Pháp – Việt

Với một thời gian không dài và việc thu thập tài liệu còn gặp nhiều hạn chế

Nước Pháp nằm ở phía Tây Châu Âu với diện tích là 551.965 km², thủ đô là
Paris. Pháp là đất nước rộng lớn nhất Tây Âu (chiếm gần 20% diện tích của liên
minh Châu Âu) có vùng biển rộng lớn (vùng đặc quyền kinh tế trải rộng trên 11
triệu km²). Diện tích đồng bằng chiếm hai phần ba tổng diện tích.

Dân số nước Pháp là 60 triệu người, trong đó có khoảng gần 30 triệu người ở
độ tuổi lao động. Mật độ dân số là 105 người/km², mức thấp nhất liên minh Châu
Âu (EU).

2. Về Chế độ Chính trị
Nhà nước Pháp theo chế độ cộng hoà tư sản. Hiến pháp ngày 4 tháng 10 năm
1958 điều chỉnh sự vận hành của các thể chế của nền Cộng Hoà thứ năm. Hiến
pháp đã được sửa đổi nhiều lần: bầu cử Tổng Thống Cộng Hoà theo phương thức
phổ thông đầu phiếu trực tiếp (1962), đưa thêm một mục mới liên quan đến trách
nhiệm hình sự của các thành viên Chính Phủ (1993), thiết lập kỳ họp duy nhất ở
Nghị Viện và mở rộng quy mô trưng cầu dân ý (1995), rút ngắn nhiệm kỳ Tổng
Thống từ 7 năm xuống 5 năm (2000).

Theo Hiến pháp năm 1958, người đứng đầu Nhà nước là trụ cột cho các thể
chế. Đó là người đảm bảo để các thể chế vận hành tốt. Là người đứng đầu quân
đội, chịu trách nhiệm cho độc lập dân tộc, Tổng Thống có một số quyền đặc biệt
trong thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng. Tổng Thống có thể đưa ra trưng cầu dân

ý một số dự thảo luật và giải tán Quốc Hội. Trên thực tế, Tổng Thống có một vai
trò hàng đầu trong việc xác định các phương hướng của chính sách đối ngoại.
Tổng Thống bổ nhiệm Thủ Tướng, cũng như các thành viên của Chính Phủ theo
đề nghị của Thủ Tưóng, và chủ trì Hội Đồng Bộ Trưởng.
Thủ Tướng Chính Phủ, người chịu trách nhiệm về quốc phòng và có nhiệm vụ
thực thi các đạo luật, lãnh đạo hoạt động của Chính Phủ. Chính Phủ xác định và
thi hành chính sách quốc gia. Chính Phủ có bộ máy hành chính và lực lượng vũ


Được xây dựng dựa trên những nguyên tắc của nền Cộng Hoà, chính sách đối
ngoại của Pháp nhằm hai mục đích là gìn giữ độc lập quốc gia đồng thời phấn đấu
vì sự phát triển của tình đoàn kết khu vực và quốc tế.

Pháp, một cường quốc thứ tư trên thế giới luôn muốn xây dựng và cải cách
Châu Âu. Châu Âu luôn là trung tâm trong chính sách đối ngoại của Pháp. Tướng
De Gaulle, các Tổng Thống Pompidou, Giscard d’Estaing, F.Mitterrand và
J.Chirac đã không ngừng phấn đấu cho việc xây dựng và phát triển liên minh
Châu Âu để biến tổ chức này thành một cường quốc kinh tế và một cơ cấu chính
trị được tôn trọng.

Mười lăm nước thành viên Liên minh Châu Âu tập hợp 380 triệu dân. Khối
này sánh ngang với lục địa Bắc Mỹ về kinh tế và nhân lực và là một trong những
khu vực kinh tế quan trọng nhất của thế giới. Liên minh Châu Âu có đồng tiền
của riêng mình là đồng Euro, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 ở mười hai
nước (Đức, Áo, Bỉ, Tây Ban Nha, Phần Lan, Pháp, Hy Lạp, Ai len, Ý,
Luxembourg, Hà Lan và Bồ Đào Nha): là sự cụ thể hoá của Liên minh tiền tệ,
đồng tiền quốc tế mới này đang phải đương đầu với những thử thách của quá
trình toàn cầu hoá.
Liên minh 15 nước Châu Âu cũng cần phải tăng cường bản sắc chính trị và
chuẩn bị cho sự mở rộng của liên minh đối với nhiều Nhà nước ứng cử viên.
Nghiên cứu về tương lai của Châu Âu và về những cải cách về mặt thể chế được

trao cho một uỷ ban do cựu Tổng Thống Cộng Hoà Pháp Valery Giscard
d’Estaing làm Chủ Tịch.
Về đảm bảo an ninh quốc tế và đấu tranh chống khủng bố: những năm chiến
tranh lạnh cũng như thời kỳ bất ổn kế tiếp sau đó đã đặt lên vai nước Pháp và các
quốc gia dân chủ khác những trọng trách lớn. Tham gia vào khối liên minh Bắc
Đại Tây Dương (OTAN), Pháp cũng là thành viên của tổ chức Hợp tác và An

học Quốc Gia (CNRS), Viện Y tế và Nghiên cứu Y học Quốc Gia (INSERM) hay
Viện Nghiên cứu Nông nghiệp thực phẩm Quốc gia (INRA) hoạt động tại nhiều
nước.
Khi dành một vị trí đặc biệt cho hoạt động nhân đạo trong chính sách đối
ngoại, nước Pháp thể hiện mong muốn được tiếp tục ở cấp độ cao nhất những giá
trị mà Pháp đã là nước đi tiên phong. Các tổ chức Phi Chính Phủ của Pháp (ONG)
hoạt động thường xuyên tại những nơi xảy ra thiên tai và trong các cuộc xung đột
vũ trang. Trong số đó, có các tổ chức Bác sỹ không biên giới (MSF), Bác sỹ thế
giới (MDM), Dược sỹ không biên giới (PSF), Hoạt động Quốc tế chống lại nạn
đói (AICF).

3. Về tiềm lực kinh tế
Pháp là nước có nền kinh tế tăng trưởng mạnh nhất châu Âu. Năm 2003, tăng
trưởng kinh tế của Pháp đã dần lấy lại được nhịp độ tăng trưởng (khoảng 2%) so
với 1,2% của năm 2002. Mặc dù kinh tế có sự giảm sút, chủ yếu do sự suy giảm
của môi trường quốc tế (tác động của các cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm
2001) và do nhu cầu giảm đi của các doanh nghiệp, Pháp vẫn là nước có tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) cao hơn mức trung bình của khu vực đồng Euro và của liên

minh Châu Âu cụ thể là GDP của Pháp năm 2001 là 20.635 USD/người và năm
2002 đã tăng lên đạt 22.690 USD/người.

Tuy trong bối cảnh nền kinh tế không được phát triển như trước nhưng tiêu
dùng của các hộ gia đình Pháp vẫn thể hiện những khả năng giữ vững mạnh mẽ
so với toàn bộ các nước trong khu vực đồng Euro và là động lực chính của tăng
trưởng kinh tế Pháp.

Nhìn chung, sức tiêu thụ vẫn giữ tốc độ tăng trưởng như năm vào khoảng
+2,9%/năm. Cụ thể là các chi tiêu tiêu dùng các sản phẩm chế biến và dịch vụ vẫn
năng động với mức gia tăng 3,1% và 3,3%/năm.

lại với nhau để tạo thành các tập đoàn khổng lồ và tháng 3 năm 1999, Renault đã
nắm quyền kiểm soát Nissan-Nhật chiếm 9,1% thị phần đứng hàng thứ 4 thế giới
sau GM-Isuzu-Forel, Volvo-Mazda, Toyota-Daihatsu.

Công nghiệp hàng không vũ trụ của Pháp đứng vào hàng thứ ba trên thế giới
sau Mỹ và Anh. Hiện nay ba đặc trưng lớn của ngành này là có nhiều triển vọng
đối với việc sản xuất máy bay dân dụng, cạnh tranh ngày càng gay gắt trong
ngành vũ trụ và khó khăn trong việc sản xuất, tiêu thụ máy bay quân sự.

Về lĩnh vực vận tải hàng không và đường bộ, đã có một số công ty của Pháp
có mặt tại Việt Nam như: Air France (vận tải hành khách và hàng hoá theo đường
hàng không), Cica (vận tải đường bộ), Graveleau (vận tải), SDV Vietnam,
Cargoteam.
Chúng ta có thể thấy rằng đối với ngành này, Pháp có rất nhiều triển vọng để
phát triển như sự phát triển của công nghệ, đội ngũ kỹ thuật viên lành nghề và
quan trọng hơn cả là thị trường để phát triển.

Ngành công nghiệp điện tử viễn thông: hai động lực chính thúc đẩy ngành
này của Pháp là Quốc Phòng và thị trường công cộng về viễn thông. Công nghiệp
điện tử và viễn thông Pháp có những tập đoàn lớn như SCS-Thomson, Bull,

Alcatel, Alstom. Các công ty điện tử viễn thông của Pháp đã có mặt tại Việt Nam
là FCR Vietnam, EDF, Schneider Electric, Thales International Asia Holding.

Ngành hoá dược của Pháp có uy tín và sức mạnh truyền thống, đứng hàng
thứ tư trên thế giới. Các tập đoàn lớn trong ngành dược của Pháp là Roussel-
Uclaf, Sanofi, Rhône-Poulenc. Các tập đoàn này hiện cũng đã có mặt tại Việt
Nam : Aventis Pharma, Bio-Rad Laboratoires, Pierre Fabre, Sanofi Synthelabo,
Sanpromex, Servier Vietnam.


Hanoi, Sunway Hotel Hanoi, Victoria Hotel & Ressorts.
- Tài chính ngân hàng: Pháp đã tiến hành tư hữu hoá các ngân
hàng nhà nước như Crédit Lyonnais, BNP. Hiện nay có những ngân hàng làm ăn
có lãi như: CCF, Société Générale, Crédit Agricole Các ngân hàng của Pháp đã
có mặt tại Việt Nam là BNP Paris, Crédit Agricole Indosuez, Crédit Lyonnais,
Natexis, Société Générale.
- Về phân phối: Các siêu thị của Pháp phát triển khá mạnh trong
thời gian ba thập kỷ lại đây. Ngành phân phối của Pháp hiện nay là một ngành
đang trên đường Châu Âu hoá bằng cách hợp nhất thông qua việc ký các hợp
đồng hợp tác với các công ty nước ngoài. Các hãng lớn như Carrefour, Auchan,
Intermarché, Lelerc. Pháp đã xây dựng hai đại siêu thị Cora tại Việt Nam mà cụ
thể là tại thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay đang trong giai đoạn xây dựng một
đại siêu thị là Bourbon tại Hà Nội.

II. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN QUAN HỆ HỢP TÁC
PHÁP-VIỆT
1. Về phía Pháp
Kể từ đầu thập kỷ 90, Pháp thực hiện một chính sách nhất quán đối với Việt
Nam, coi Việt Nam là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mình ở khu

vực. Với chính sách đó, Pháp mong duy trì và đẩy mạnh ảnh hưởng truyền thống
của họ ở ba nước thuộc địa cũ ở Đông Dương và hy vọng Việt Nam đóng vai trò
cầu nối cho sự hợp tác giữa Pháp và các nước khác trong khu vực. Pháp thấy ở
Việt Nam:
 Một xã hội ổn định lâu dài về chính trị. Sức lao động, trí tuệ, đất đai dồi
dào là những lợi thế của Việt Nam mà Pháp có thể khai thác, các doanh
nghiệp Pháp có thể yên tâm làm ăn lâu dài.
 Hệ thống pháp luật kinh tế, các cơ chế chính sách đang được từng bước
đồng bộ hoá nhằm tạo thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh đã thực sự có sức
hấp dẫn các nhà đầu tư Pháp.

cách cơ cấu hợp tác phát triển ở Pháp, Việt Nam đã được xếp vào “Khu vực đoàn
kết ưu tiên” và vì thế có thể nhận được những khoản tín dụng hợp tác lớn hơn.

Xã hội công dân của Pháp cũng đã được huy động tham gia thúc đẩy quan hệ
hợp tác Pháp-Việt. Với 300.000 người Pháp gốc Việt, nước Pháp là nước có cộng
đồng người Việt lớn thứ hai trên thế giới sau Hoa Kỳ. Gần 40 tỉnh, thành phố,
vùng của Pháp và hơn 100 hiệp hội đoàn kết quốc tế đã thiết lập mối quan hệ hợp
tác với Việt Nam.

2. Về phía Việt Nam
Để đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã gia nhập tổ chức
ASEAN và AFTA và các hội nghị cấp cao EU-ASEAN (ASEM). Tháng 11 năm
1998, Việt Nam chính thức là thành viên của Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu
Á-Thái Bình Dương (APEC) mở ra một không gian mới cho sự hợp tác về kinh tế
và thương mại. Như vậy, Việt Nam không còn bị phân biệt đối xử cả trên bình
diện đa phương lẫn song phương. Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình phấn
đấu trở thành thành viên WTO. Pháp sẽ ủng hộ tích cực đơn xin gia nhập WTO

của Việt Nam. Đối với Việt Nam, hội nhập vào nền kinh tế quốc tế và khu vực
vừa là xu thế tất yếu, vừa là một yêu cầu khách quan. Đây là một quá trình đầy
khó khăn và thử thách nhưng mang lại những lợi ích to lớn.

Việt Nam coi Pháp là một đối tác quan trọng trong các nước phương Tây.
Đẩy mạnh quan hệ với Pháp về mọi mặt, Việt Nam có thể hoà nhập vào thị
trường EU và tạo ra một sự hài hoà cân bằng trong quan hệ với các nước tư bản
lớn khác như Anh, Mỹ, Đức. Pháp sẽ là cầu nối Việt Nam với EU để mở rộng
quan hệ kinh tế, thương mại với các nước EU khác.

Pháp là một tiếng nói trọng lượng trong đàm phán của Việt Nam với EU.
Hơn nữa, vào tháng 6 năm 2000 Pháp giữ vai trò Chủ Tịch EU, vì vậy Việt Nam

thường hoá quan hệ với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà trên cơ sở bình đẳng và hai
bên cùng có lợi.

Tháng 12/1954, Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã chấp nhận cho
Chính phủ Pháp lập cơ quan Tổng đại diện tại Hà Nội. Ngày 14/10/1954 Hiệp
định thương mại đầu tiên được ký kết mở đầu quan hệ chính thức trao đổi hàng
hoá giữa hai nước Việt Nam - Pháp. Nhưng cho đến tận tháng 3/1956, Pháp mới
thoả thuận về việc lập cơ quan đại diện thương mại của Việt Nam tại Paris và
tháng 8/1966 quan hệ này được nâng lên cấp Tổng đại diện.

Trong thời kỳ Mỹ xâm lược Việt Nam, đặc biệt từ khi Pháp chủ trương thực
hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ đối với Mỹ, chính phủ Pháp đã nhiều lần
lên tiếng phản đối chính sách can thiệp của Mỹ ở Đông Dương. Ngày 29/8/1963,
Tổng Thống De Gaulle tuyên bố mong muốn: “Một Việt Nam độc lập với bên
ngoài, hoà bình thống nhất bên trong, hoà hợp với các nước láng giềng” và cho
rằng chính sự can thiệp của Mỹ là nguồn gốc gây ra chiến tranh và đòi Mỹ chấm

dứt mọi hành động chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam. Sau khi Pháp nâng cấp
quan hệ với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, quan hệ giữa Chính quyền Sài
Gòn và Pháp xấu đi và thậm chí đã bị gián đoạn cho đến tận năm 1973.

Trước việc leo thang chiến tranh của Mỹ, Pháp đồng ý cho Mặt trận Dân Tộc
Giải Phóng Miền Nam Việt Nam lập phòng thông tin tại Paris năm 1968. Năm
1973, Pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đàm phán tại Paris giữa Việt Nam
và Mỹ về việc chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Xét về thực chất, trong suốt giai đoạn từ 1955 đến 1973, mối quan hệ thương
mại giữa hai nước chỉ dừng lại ở con số rất khiêm tốn. Tuy trao đổi hàng hoá
không bao giờ bị gián đoạn ngay cả trong những năm tháng mà quan hệ chính trị
và ngoại giao hai nước căng thẳng, kim ngạch buôn bán rất nhỏ và tăng hết sức

triển đa dạng, đặc biệt là từ năm 1991, khi chính sách đổi mới của Việt Nam thu
được những thành tựu bước đầu quan trọng và Việt Nam bắt đầu tái hội nhập vào
cộng đồng quốc tế.

Tháng 7 năm 1993, Chính phủ Pháp đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam
50 triệu USD để trả nợ cho IMF nhằm giải toả mối quan hệ với các tổ chức tài
chính quốc tế.

Năm 1993, Tổng Thống Mitterrand thăm Việt Nam và sau đó Thủ Tướng Võ
Văn Kiệt thăm Pháp. Qua hai chuyến viếng thăm ở cấp cao, Pháp đã tỏ rõ thái độ
ủng hộ Việt Nam hoà nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế. Điều đáng lưu ý là
cuối năm 1993, Pháp đã giúp Việt Nam giải quyết vấn đề nợ nhà nước tại Câu lạc
bộ Paris bằng cách thuyết phục các chủ nợ thông qua phương án trả nợ có lợi cho
ta. Bản thân Pháp đã xoá nợ cho Việt Nam 1,215 tỷ FRF trong số 2,2 tỷ FRF và
giải toả 34 triệu FRF thuộc tài sản của Việt Nam bị phong toả tại Ngân khố Pháp
từ năm 1954. Tháng 10/1994 tại Hội nghị đầu tiên các nhà tài trợ quốc tế, Pháp đã
vận động các nước cam kết tài trợ cho Việt Nam 2 tỷ USD. Để hỗ trợ cho các xí
nghiệp Pháp làm ăn ở Việt Nam, Pháp đã nối lại bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

COFACE cho Việt Nam và đưa Việt Nam từ nhóm 4 (nhóm nhiều rủi ro nhất
trong đầu tư) lên nhóm 3.

Để tỏ rõ mối quan tâm của mình muốn thúc đẩy quan hệ Pháp – Việt và coi
Việt Nam là cầu nối giữa Pháp và các nước khác ở khu vực này, tháng 11/1994,
Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp lúc đó, Alain Juppé khi đi thăm Việt Nam đã tuyên
bố: “Nước Pháp nằm ở giữa lục địa Châu Âu, một châu lục đang ngày càng trở
nên thống nhất và nước Việt Nam nằm ở giữa lục địa Châu Á, một châu Á đã
được hoà giải và đang tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Hai nước chúng ta có thể
cùng nhau làm nên nhiều việc lớn”.


Ngay từ thế kỷ XVII, các nhà thông thái Pháp đã tìm cách hiểu biết cặn kẽ hơn
nền văn minh lâu đời và ngôn ngữ Việt Nam. Kể từ đó, hai dân tộc chúng ta đã
dệt nên những sợi dây liên kết bền vững nhất giữa hai dân tộc với nhau. Những
liên kết ấy đã tồn tại bất chấp những đối đầu và sự xa cách về địa lý giữa hai
nước chúng ta. . .
Trong tất cả các lĩnh vực, các quan hệ giữa chúng ta đã không ngừng củng cố và
mở rộng. . .
Đối thoại giữa hai nước phát triển, gặp gỡ giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam và
Pháp được tăng cường. . .
Chúng ta hãy cùng nhau đi xa hơn nữa. hãy tăng cường sự hợp tác về ngôn ngữ,
khoa học và y tế. Hãy nhân rộng các chương trình về hỗ trợ sư phạm và đào tạo
đại học. Hãy mở thêm các trường trung học và các lớp song ngữ. Chúng ta hãy
cùng nhau phát triển các cơ sở giáo dục mới, bao trùm tất cả các khu vực của đời
sống kinh tế, hành chính và công nghệ.
Các doanh nghiệp Pháp, lớn cũng như nhỏ, có kỹ năng và kinh nghiệm về tăng
trưởng và luôn sẵn sàng chia sẻ với Việt Nam những kỹ năng và kinh nghiệm đó,
tất nhiên là sẵn sàng hợp tác với các bạn. Tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo kinh tế,

các doanh nghiệp, các nhà đầu tư Pháp hãy tiếp tục những cố gắng của họ trên
đất nước Việt Nam, hãy tới Việt Nam đông đảo hơn và nắm lấy những thời cơ mà
Việt Nam đã trao cho.”

Mặc dù có những thăng trầm của lịch sử, sự có mặt của Pháp ở Việt Nam vẫn
còn để lại nhiều dấu ấn trong các lĩnh vực như giáo dục, hành chính và thiết kế hạ
tầng cơ sở mà ba mươi năm chiến tranh không làm mất đi hoàn toàn. Người Việt
Nam luôn có tín nhiệm với những thành tựu kỹ thuật của Pháp và ngược lại,
người Pháp tìm thấy ở người Việt Nam những đức tính quý báu: cần kiệm, thông
minh, dũng cảm Mối quan hệ lâu đời giữa hai nước, mặc dù trải qua chiến tranh
đã tạo nên những giao lưu kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật. Nhân dân hai
nước có những hiểu biết sâu sắc về văn hoá, ngôn ngữ, thói quen và phong tục tập

số một tại Việt Nam. 54% hàng xuất khẩu của nước này là máy móc, thiết bị và
linh kiện rời. Tuy nhiên, trong các số liệu này, ảnh hưởng của Pháp có phần bị
giảm đi trước việc các cảng Xingapo và Hồng Kông đóng vai trò tái phân phối
trong khu vực, nhất là với rượu vang và các loại rượu nặng. Tuy nhiên, sự mở cửa
dần dần của Việt Nam ra bên ngoài sẽ làm gia tăng sự cạnh tranh và để duy trì
được một vị thế mạnh trên thị trường Việt Nam, các doanh nghiệp của Pháp cần
phải có sự nỗ lực thường xuyên.

Xuất khẩu của Pháp sang Việt Nam giảm dần. Dược phẩm có vị trí chiếm
lĩnh trong cơ cấu ngành của trao đổi thương mại song phương là nhờ vào nỗ lực
đào tạo của Pháp trong giới y khoa và sự hiện diện của các phòng thí nghiệm
Pháp ở Việt Nam.
Xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp thực phẩm của Pháp cũng giảm dần. Sự
giảm sút này gắn với tình hình giảm nhu cầu nội địa. Xuất khẩu rượu vang và
sâmpanh (4 triệu Euro) giảm một triệu Euro đã chứng minh cho điều này, ngoài

ra các sản phẩm này cùng với rượu mạnh đều bị làm giả với số lượng lớn. Thâm
hụt thương mại xuất hiện lần đầu tiên năm 1999 vẫn tiếp tục diễn tiến xấu.

Nhập khẩu của Pháp từ Việt Nam năm 2001 tăng so với năm 2000, nhưng
đến năm 2002 thì lại giảm so với năm 2001. Từ năm 1993, nhập khẩu từ Việt
Nam của Pháp liên tục tăng. Sự gia tăng này gắn với việc thiết lập một Hiệp Định
song phương với Liên minh Châu Âu năm 1995, điều này cho phép Việt Nam
phát triển việc bán các sản phẩm chế biến, dệt và nhất là các sản phẩm từ da. Nếu
thêm vào đó các sản phẩm nông nghiệp thực phẩm, ba loại sản phẩm trên chiếm
tới 90% hàng nhập khẩu của Pháp.
Trong lĩnh vực may mặc và các sản phẩm từ da, nhập khẩu của Pháp tiếp tục
tăng. Chỉ riêng ba loại hàng hoá này đã chiếm gần 2/3 nhập khẩu của Pháp. Nhập
khẩu các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm của Pháp tăng chủ yếu nhờ vào hải
sản, một ngành đang phát triển mạnh ở Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status