1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ MÔN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
ĐỀ TÀI:
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ
ĐẦU TƯ GIỮA VIỆT NAM VÀ EU GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : TH.S HOÀNG HƯƠNG GIANG
NHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 5
LỚP : THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
KHOÁ : 49
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2010
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 5
1. Trần Thị Minh Trang – Làm phần “ Quan hệ Việt Nam-EU “ và làm bản
word.
2. Trần Thị Thiên Trang - Làm phần “ EU và đặc điểm kinh tế của EU”
3. Ngô Thị Lan Phương – Làm phần “ Chính sách ngoại thương VN-EU và
Tình hình nhập khẩu từ EU của Việt Nam ”
4. Lương Thị Tuyết – Làm phần “ Tình hình xuất khẩu sang thị trường EU
và Quan hệ Việt Nam với 1 số nước EU ”
5. Bùi Thu Trang – Làm phần “Quan hệ đầu tư Việt Nam-EU “ và làm slide
6. Nguễn Quốc Huy – Làm phần “ Thuận lợi trong quan hệ Việt Nam- EU ”
7. Trương Thị Thanh Bình – Làm phần “ Khó Khăn trong quan hệ Việt
Nam-EU ”
8. Nguyễn Thanh Hương – Làm phần “ Định hướng và giải pháp tăng cường
quan hệ thương mại Việt Nam-EU “
2
MỤC LỤC
4
Lời mở đầu
Trong những những năm gần đây nền kinh tế nước ta phát triển và đạt nhiều
thành tựu đáng kể, điển hình là Việt Nam trở thành thành viên chính thức
của tổ chức thương mại thế giới WTO. Việc là thành viên của WTO cho
nước ta nhiều cơ hội cũng như thách thức, đặc biệt là ở thị trường khó tính
như EU.
Thiết lập quan hệ ngoại giao từ 1990, quan hệ song phương VN - EU đã
phát triển mạnh mẽ ở tất cả các cấp độ. với việc đa dạng hóa nhanh quy mô
hợp tác song phương trên tất cả các lĩnh vực. Đối thoại chính trị mở rộng.
Hiện nay, EU là nhà cung cấp viện trợ phát triển không hoàn lại hàng đầu
cho VN và tiếp tục hỗ trợ VN trong các lĩnh vực ưu tiên như phát triển con
người, cải cách kinh tế, xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế.
EU là đối tác thương mại, thị trường xuất khẩu rộng lớn, nguồn cung cấp
FDI quan trọng của VN. EU là một trong những đối tác thương mại lớn đầu
tiên kết thúc đàm phán song phương WTO với VN năm 2005.
EU là một trong những thị trường xuất khẩu chủ yếu của doanh nghiệp Việt
Nam bên cạnh thị trường Mỹ, Nhật. Để có thể kinh doanh thành công tại thị
trường khó tính này doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm hiểu rõ những
chính sách ngoại thương của EU.
Vì vậy thông qua báo cáo nghiên cứu về quan hệ thương mại và đầu tư VN-
EU này,một mặt tái hiện lại những thành tựu trong quan hệ VN-EU ;mặt
khác kết hợp đưa ra giải pháp và phương hướng mới cho mối quan hệ giữa
VN-EU trong tương lai trên cơ sở nhũng thuận lơi và khó khăn trong quan
hệ thương mại.
5
A. Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam-EU
I. EU và đăc điểm kinh tế của EU:
1. Giới thiệu chung
Liên minh châu Âu hay Liên hiệp Châu (European Union), viết tắt là EU, là
được ký kết. Từ đó đến nay, sự liên kết giữa các quốc gia châu Âu đã không
ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu với đỉnh cao là một Liên
minh châu Âu như chúng ta thấy ngày nay và trong tương lai có thể sẽ đạt
tới cấp độ liên kết cao hơn. Nhìn lại hơn 50 năm hình thành và phát triển của
Liên minh châu Âu, có thể thấy quá trình này gắn liến với các hiệp ước chủ
yếu sau đây (từ năm 1951 đến nay):
Hiệp ước Paris thành lập cộng đồng Than – Thép châu Âu (ECSC)
được ký ngày 18/04/1951 với sự tham gia của 6 nước: Pháp, Đức,
Italy, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg
Hiệp ước Rome thành lập Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu
(EURATOM) và Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) được ký ngày
25/31957 với sự nhất trí của 6 nước thành viên ECSC.
Hiệp ước thành lập Cộng đồng châu Âu (EC) được ký ngày
08/04/1965 giữa các nước của 3 nước Cộng đồng này dưới tên gọi:
Cộng đồng châu Âu.
Hiệp ước Maastricht thành lập Liên minh châu Âu được ký ngày
07/2/1992 tại Maastricht – Hà Lan, với sự nhất trí hoàn toàn của
nguyên thu quốc gia các nước thành viên (lúc này, số thành viên của
EC là 12 nước bao gồm: Pháp, Đức, Bỉ, Italy, Hà Lan, Luxembourg,
Anh, Đan mạch, Ailen, Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) nhằm
thành lập một “không gian châu Âu” thống nhất về kinh tế, chính trị,
an ninh, quốc phòng và các chính sách về xã hội.
Hiệp ước Amsterdam được ký vào ngày 2/10/1997 bởi các nguyên thủ
của 15 nước thành viên (năm 1995 EU đã kết nạp thêm 3 nước thành
viên nữa là: Thuỵ Điển, Phần Lan, Áo). hiệp ước này được hình thành
trên cơ sở sửa đổi hiệp ước Maastricht nhằm đưa những cố gắng của
EU trong việc xây dựng một liên minh kinh tế - tiền tệ (EMU) trở
thành hiện thực.
Hiệp ước Nice (7-11/12/2000) được tập trung vào các vấn đề cải cách
thể chế để đón nhận các thành viên mới
hàng hóa của thế giới, tỷ trọng này của Hoa Kỳ là 10,8% và của Nhật Bản là
6,5%. EU đứng thứ hai thế giới về tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa, kim
ngạch nhập khẩu là 931,3 tỉ USD, chiếm 13,9 trị giá nhập khẩu của thế giới,
tỷ trọng này của Hoa Kỳ là 18,0 và của Nhật Bản là 5,0%.
Về thương mại dịch vụ qua biên giới năm 2002, EU 15 xuất khẩu 673,3 tỉ
USD, đứng đầu thế giới, chiếm 43,8% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ
toàn thế giới, gấp 10 lần Nhật Bản, tỷ trọng này của Hoa Kỳ và Nhật Bản là
17,4% và 4,2%. Về nhập khẩu dịch vụ của EU năm 2002 là 650,9 tỉ USD,
cũng đứng đầu thế giới với tỷ trọng là 42,7%, tỷ trọng này của Hoa Kỳ và
Nhật Bản là 14,3% à 6,9 %.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của EU (không kể đầu tư nội khối)
chiếm 47% tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn thế giới và thu hút
20% FDI toàn thế giới từ bên ngoài vào EU. EU nắm 1.549 tỉ euro cổ phiếu
8
đầu tư trực tiếp nước ngoài, gấp rưỡi Hoa Kỳ. Nếu tính gộp cả CEEC thì
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của EU 25 sẽ gần 1.800 tỉ USD,
chiếm 22,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của thế giới;
kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của EU 25 khoảng 1.800 tỉ USD,
bằng 21,9% kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của toàn thế giới.
EU đang muốn thể hiện một vai trò như người lãnh đạo đối với các thành
viên trong WTO do tầm quan trọng của EU trong thương mại và nền kinh tế
thế giới. EU là người khởi xướng nhiều sáng kiến trong việc xây dựng các
khối liên kết kinh tế khu vực và thế giới, đã phát động trong chương trình
phát triển Doha tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư vào tháng 11/2001. EU đã
có dấu hiệu khởi động làm việc với các đối tác thương mại của mình nhằm
xây dựng lại lòng tin và sự hợp tác với các thành viên WTO sau thất bại tại
vòng đàm phán thiên niên kỷ tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 3 tổ chức tại
Seatle (Hoa Kỳ)
EU cũng đang tích cực cải thiện tầm hiểu biết chung trong WTO bằng
những biện pháp làm tăng tính minh bạch trong chính sách đối ngoại. EU
một loạt hiệp định song phương với EU như Hiệp định khung về hợp tác
kinh tế, khoa học và kỹ thuật ( năm 1990), Hiệp định dệt may (1994, 1996,
1997, 2000, 2003); Hiệp định giầy dép (2000).
Quan hệ hợp tác đầu tiên giữa EU và Việt Nam chủ yếu là trợ giúp người
Việt Nam hồi hương. Từ 1989-1996, tổng viện trợ của EU cho mục đích này
trên 110 triệu USD.
Năm 2002, EU đã thông qua chiến lược hợp tác với Việt Nam trong giai
đoạn 2002-2006, nhằm tạo điều kiện tăng tốc xoá đói giảm nghèo trong
chiến lược phát triển bền vững. Theo đó EU dự kiến trợ giúp 162 triệu euro
tập trung vào 2 lĩnh vực:
Tăng cường phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt hỗ trợ phát triển một số tỉnh
nghèo thông qua hỗ trợ lĩnh vực giáo dục;
Trợ giúp cải cách kinh tế Việt Nam theo hướng cơ chế thị trường để nhanh
chóng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới;
Ngoài ra, trong chiến lược hợp tác này còn có vấn đề bảo vệ môi trường, văn
hoá, giáo dục, chất lượng giới tính và quản lý nhà nước có hiệu quả.
Quan hệ buôn bán thương mại Việt Nam - EU trong 10 năm từ 1990-1999
với quy mô tăng hơn 12 lần và tốc độ tăng bình quân mỗi năm là 32%.. Hiện
Nay,EU là nhà cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam. Trong đó, các lĩnh
10
vực ngành nghề được tài trợ nhiều nhất là nông lâm thủy sản (17,58%), tài
nguyên (13,15%), y tế ( 9,59%), phát triển xã hội (9,58%). Ngoài ra, các
nước thành viên EU còn cung cấp vốn ODA thông qua các tổ chức tài chính
đa phương.
1. Lịch sử hình thành và phát triển quan hệ Việt Nam-EU.
Tháng 11/1990, Việt Nam và EU chính thức thiết lập quan hệ ngoại
giao.
Ngày 17/7/1995: Ký kết Hiệp định khung về hợp tác, thiết lập các
nguyên tắc cơ bản nhằm thúc đẩy mối quan hệ ngoại giao giữa VN-
EU và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01-06-1996, cung cấp cơ sở pháp
xử lý tất cả các vấn đề về chính sách thương mại liên quan đến
EU và các nước thành viên EU.
Tiểu ban về hợp tác xây dựng thể chế, cải cách hành chính,
quản trị công và nhân quyền: Tiểu ban được thiết lập tại cuộc
họp lần thứ 4 của Ủy ban Hỗn hợp vào ngày 21-11-2003. Các
hoạt động của tiểu ban bao gồm các cuộc họp chính thức và các
sự kiện không chính thức trong những lĩnh vực thuộc thẩm
quyền.
Từ tháng 3/1997, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định hợp tác
ASEAN – EU
Năm 1999: Thoả thuận về buôn bán giầy dép.
Năm 2001, Việt Nam và EU đã tiến hành thường xuyên các cuộc tiếp
xúc và đối thoại không chính thức về nhân quyền.
Giữa năm 2003, EU đề nghị ta thiết lập cơ chế đối thoại chính thức và
định kỳ về dân chủ - nhân quyền một năm 2 lần và nâng cấp đối thoại
nhân quyền từ cấp chuyên viên lên cấp Vụ Bộ Ngoại giao và cấp Đại
sứ.
Ngày 27/6/2005, Hội đồng Châu Âu đã thông qua các quy định mới
về hệ thống ưu đãi thuế quan (GSP).
Tháng 5/2007, Việt Nam và EU đã thoả thuận tiến hành đàm phán
một Hiệp định Đối tác và Hợp tác (PCA).
2. Những cơ sở vàng
Năm 2007, tổng giá trị cam kết của EU dành cho Việt Nam là 948 triệu
USD, trong đó gần 500 triệu USD là viện trợ không hoàn lại, chiếm 21%
tổng cam kết của các nhà tài trợ.
Tuy nhiên, có một điều rõ ràng là cơ sở chính cho sự phát triển mạnh mẽ
quan hệ Việt Nam - EU chính là sự cất cánh của cả hai nền kinh tế. Với dân
số 500 triệu, 27 quốc gia thành viên EU chiếm 30% GDP, 41% thương mại
và 43% đầu tư toàn cầu. Năm 2000, các nhà lãnh đạo EU đã thông qua chiến
lược Lisbon nhằm biến châu Âu thành một nền kinh tế dựa trên tri thức năng
Callagan, Trưởng ban Chính trị, Kinh tế và Thương mại thuộc Phái đoàn EC
tại Việt Nam, Hiệp định khung về hợp tác Việt Nam - EU không còn thể
hiện được mối quan hệ đối tác đã nâng lên một tầm cao mới và cần phải có
một hiệp định hợp tác sâu rộng hơn giữa hai bên để thay thế.
Chính vì vậy, trong cuộc gặp giữa Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao
Phạm Gia Khiêm và Uỷ viên phụ trách quan hệ đối ngoại của EC Benita
Ferrero-Waldner tại Hamburg (Đức), tháng 5/2007, Việt Nam và EU đã thoả
thuận tiến hành đàm phán một Hiệp định Đối tác và Hợp tác (PCA). Đây là
hiệp định được xây dựng trên cơ sở hai bên cùng có lợi, mở rộng hơn nhiều
13
so với Hiệp định khung năm 1995, bao gồm nhiều lĩnh vực mới như nhập
cư, chống tội phạm, chống khủng bố, ngăn ngừa vũ khí giết người hàng
loạt...Ngoài kinh tế, PCA cũng là một hiệp định hợp tác về rất nhiều lĩnh vực
quan trọng khác như trao đổi khoa học công nghệ và nghiên cứu. Trong
khuôn khổ PCA, hai bên đối tác để bàn bạc không những về những khoản
viện trợ mà EU sẽ tiếp tục dành cho Việt Nam hay về cách để Việt Nam sử
dụng hiệu quả các khoản viện trợ đó, mà còn về những lợi ích khác mà cả
EU và Việt Nam đều quan tâm.
Là một bước phát triển quan trọng và là khuôn khổ cho toàn bộ quan hệ hợp
tác giữa Việt Nam và EU trong thời gian tới, Hiệp định PCA mới giữa EU
và Việt Nam sẽ thay cho Hiệp định khung về hợp tác ký năm 1995 đã hết
hạn. “Đối với Việt Nam, PCA là khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới
trong quan hệ với EU, bỏ lại đằng sau mối quan hệ phụ thuộc để hướng tới
một quan hệ đối tác bình đẳng hơn”, bà Sandra Callagan, Trưởng ban Chính
trị, Kinh tế và Thương mại thuộc Phái đoàn EC tại Việt Nam đã nói về PCA
như vậy.
Đầu tháng 10/2009 tại Hà Nội, hội thảo “Hiệp định đối tác và hợp tác (PCA)
và triển vọng quan hệ Việt Nam – EU” đã được Bộ Ngoại giao Việt Nam và
Phái đoàn Uỷ ban Châu Âu tại Việt Nam tổ chức như một bước chuẩn bị
thiết thực cho đàm phán Việt Nam - EU về Hiệp định này. Trên cơ sở đó, đại
cho biết, khi không được hưởng Quy chế ưu đãi thuế quan GSP. Nếu tính
theo kim ngạch xuất khẩu năm 2007 vào EU của mặt hàng này là 2,19 tỷ
USD thì khi áp thuế, Việt Nam sẽ mất thêm 109,9 triệu USD. Ngành có 700
doanh nghiệp, 70% là doanh nghiệp nước ngoài, với 1 triệu lao động và
khoảng 30% lao động sẽ bị ảnh hưởng bởi quyết định của EC. Theo quy
định, thuế ưu đãi GSP được xây dựng trên cơ sở minh bạch, công bằng và
không phân biệt đối xử, nhằm giúp đỡ các nước đang phát triển bị phụ thuộc
vào một vài ngành hàng xuất khẩu.
2. Hiệp định PCA
Hiệp định PCA mới giữa EU và Việt Nam sẽ thay cho Hiệp định khung về
hợp tác ký năm 1995 đã hết hạn. Đây là hiệp định được xây dựng trên cơ sở
hai bên cùng có lợi, mở rộng hơn nhiều so với Hiệp định khung năm 1995,
bao gồm nhiều lĩnh vực mới như nhập cư, chống tội phạm, chống khủng bố,
ngăn ngừa vũ khí giết người hàng loạt...Ngoài kinh tế, PCA cũng là một hiệp
định hợp tác về rất nhiều lĩnh vực quan trọng khác như trao đổi khoa học
công nghệ và nghiên cứu. Trong khuôn khổ PCA, hai bên đối tác để bàn bạc
không những về những khoản viện trợ mà EU sẽ tiếp tục dành cho Việt Nam
hay về cách để Việt Nam sử dụng hiệu quả các khoản viện trợ đó, mà còn về
những lợi ích khác mà cả EU và Việt Nam đều quan tâm .“Đối với Việt
Nam, PCA là khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ với
EU, bỏ lại đằng sau mối quan hệ phụ thuộc để hướng tới một quan hệ đối tác
15
bình đẳng hơn”, bà Sandra Callagan, Trưởng ban Chính trị, Kinh tế và
Thương mại thuộc Phái đoàn EC tại Việt Nam đã nói về PCA như vậy.
Mới đây, Ủy ban châu Âu (EC) đã thông qua Chiến lược hợp tác với Việt
Nam trong giai đoạn 2007-2013 với khoản ngân sách trị giá 430 triệu USD
tập trung hỗ trợ các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Dự
kiến tăng trưởng thương mại hai chiều vượt mức 20% và đạt 15 tỷ USD vào
năm 2010. Đó là những con số dự báo hết sức ấn tượng cho sự phát triển
quan hệ Việt Nam – EU trong tương lai.
Các tiến trình thực hiện nhãn sinh thái nhắm tới các sản phẩm và chỉ
ra rằng sản phẩm có nhãn có một hiệu ứng với môi trường thấp hơn so với
các sản phẩm khác. Nếu một nhà sản xuất muốn chỉ ra cho mọi người biết
rằng mình sản xuất theo phương pháp bảo vệ môi trường, nhà sản xuất có
thể tuân thủ theo các tiêu chuẩn được đặt ra cho mục đích này. Hiện tại 2 hệ
thống tiêu chuẩn mang tính chất tự nguyện và chung nhất là ISO 14001 và
EMAS. Cả hai tiêu chuẩn này đều dựa trên các tiêu chuẩn quản lý chất
lượng ISO 9000.
Các vấn đề liên quan đến sản phẩm
Các vật liệu chính sử dụng cho sản xuất các sản phẩm may mặc thông
thường là bông và sợi nhân tạo. Trong quá trình sản xuất nhiều chất độc hại
được thải ra. Quá trình sản xuất có nhiều ảnh hưởng đến môi trường:
Chế biến sản xuất: ảnh hưởng lớn nhất chủ yếu trong giai đoạn trồng
trọt nguyên liệu thô và giai đoạn sản xuất vải. Các quá trình này tiêu thụ một
lượng nước rất lớn và nhiều hoá chất được sử dụng trong quá trình sử lý ướt
và tạo ra nhiều chất thải. Rất nhiều nước được sử dụng trong quá trình chế
biến tinh lọc vài. Sau đó nước được bỏ đi dưới dạng nước thải sau khi đã qua
nhiều tiến trình sử lý nhiều chất khác nhau. Một lượng lớn các chất có
oxygen được thải ra trong nước thải khi tạo khổ và làm sạch sợi vải. Trong
vài trường hợp, có một lượng nhỏ chất biocide được tìmthấy trong các
nguyên liệu cotton thô. Nhiều chất độc không thể hủy bằng phương pháp vi
khuẩn cũng có thể tìm thấy trong quá trình giặt tẩy phi i-ong. Các chất tẩy
rửa này có thể là nguyên nhân gây nên các vấn đề trên bề mặt nước. Chất
ảnh hưởng đến môi trường quan trọng nhất là hypochloride thải ra trong quá
trình tẩy trắng. Một lợi thế của quần áo bằng sợi nhân tạo là sử dụng ít hoá
chất trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên điểm bất lợi là sử dụng nguồn dự
trữ dầu mỏ.
Kết luận :
Thị trường EU và Hoa Kỳ là hai thị trường lớn và đồng thời cũng là hai
đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam trong các quan hệ thương mại
Việt Nam về việc giảm thuế quan cho khoảng 250 sản phẩm, khoảng
4/5 trong số đó là nông sản.Song phương này, Việt Nam đã không áp
dụng khoản phụ thu này đối với hàng hoá nhập khẩu của Mỹ.
Bên cạnh đó, trong vấn đề tiếp cận thị trường, hiệp định còn có quy
định về bảo vệ, theo đó cho phép một trong hai bên có quyền tạm thời
áp đặt thuế quan nhằm ngăn chặn tình trạng nhập khẩu hàng hoá tăng
lên nhanh chóng.
II. Tình hình xuất nhập khẩu EU-VN
Thâm hụt thương mại của EU với Việt Nam năm 2006 đã đạt mức kỷ lục
mới 4,43 tỷ euro (so với 3,6 tỷ euro năm 2005).
18
Nếu tính cả mậu dịch nội khối thì tổng ngạch mậu dịch là 3.092 tỷ chiếm
hơn 41% thị phần thế giới. EU đứng đầu thế giới về xuất khẩu dịch vụ chiếm
khoảng 43% thị phần, gấp 2,5 lần Mỹ. Đầu tư ra nước ngoài chiếm 47% FDI
toàn cầu và nhận 20% đầu tư từ bên ngoài.
Trao đổi thương mại EU - Việt Nam tính đến hết tháng 9/2008
(Nguồn: Eurostat, đơn vị tính: tỉ Euro):
9 tháng 2008 9 tháng 2007 So sánh(%)
EU xuất 2,47 2,55 - 3
EU nhập 6,38 5,97 +6,9
Cán cân 3,91 3,42 +14,3
Tổng KN 8,85 8,52 +3,87
N hận xét : Trong giai đoạn 2007- 2008, ta thấy xét về chiều ngang,các chỉ
tiêu EU nhập, cán cân và tổng kim nghạch năm 2008 luôn tăng so với năm
2007 (trừ EU xuất giảm nhưng không đáng kể), xét về chiều dọc số lượng
EU nhập luôn lớn hơn số EU xuất ở cả 2 năm. Qua các số liệu phân tích ở
trên, EU thực sự chứng tỏ là một thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, là
một nguồn thu ngoai tệ quan trọng từ các hoạt đông kinh doanh XNK của
nước ta.
Kim ngạch xuất nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu giữa Việt Nam và EU
- Giai đoan 2008- 2009 là năm nền kinh tế EU và thế giới chịu ảnh hưởng
trầm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế, bởi vậy quan hệ thương mại giữa
2 nước có phần giảm sút.Tuy nhiên, kim nghạch thương mại vẫn tăng qua 2
năm, EU vẫn giữ vai trò quan trọng trong quan hệ thương mại của VN với
các khu vực trên thế giới
1.Tình hình nhập khẩu từ EU của VN
a. Nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ nguồn:
Việt Nam nhập khẩu từ EU nhiều máy móc, thiết bị công nghệ nguồn chất
lượng cao chiếm 10% kim ngạch nhập khẩu, chủ yếu là thiết bị toàn bộ,
máy, phụ tùng, phương tiện vận tải bao gồm cả máy bay, tàu biển, ô tô, xe
lửa, nguyên liệu, hoá chất, tân dược, phân bón, vật liệu xây dựng, sắt thép,
sản phẩm cơ khí, hàng tiêu dùng cao cấp.
201 số m/h EU XK
sang
VN
Tháng
10/2008
Tháng
10/2007
Tăng
giảm %
Sản phẩm điện tử,
linh kiện
36.045 39.045 -7.68
Máy móc thiết bị
công ghiệp
81.822 101.72 -19.56
Nguồn cung rau hoa quả:
Có 11 nước thuộc thị trường EU cung cấp rau hoa quả cho thị trường
Việt Nam 11 tháng qua, tăng 2 nước so với cùng kỳ là Litsva và Hy
Lạp. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu từ
Italia đạt cao nhất với 371,2 nghìn USD, chiếm 19,4% tổng kim
ngạch. So cùng kỳ năm trước, Italia là 1 trong 2 nước có tốc độ tăng
trưởng dương, đạt 25,1%. Trong vòng 1 năm qua, các sản phẩm có
nguồn gốc từ Italia như Cà chua đóng hộp, đậu, nấm, quả kiwi,… rất
được ưa chuộng bởi người tiêu dùng trong nước. Hơn nữa nguồn hàng
cung cấp khá dồi dào đã giúp cho thị trường này từ vị trí thứ 5 (2008)
vươn lên vị trí dẫn đầu về kim ngạch nhập khẩu.
Tiếp đến là Bỉ với kim ngạch nhập khẩu đạt 297,2 nghìn USD giảm
nhẹ 6,4% so cùng kỳ. Thị phần trong cơ cấu nhập khẩu của thị trường
22
Bỉ cũng được nâng cao từ 13,5% lên 15,5%. Các sản phẩm được nhập
khẩu nhiều từ Bỉ gồm có: khoai tây đông lạnh, hành tây, đậu và ngô.
Trong đó kim ngạch nhập khẩu khoai tây đông lạnh chiếm tỷ trọng
cao nhất với gần 90%, tiếp đến là đỗ xanh đông lạnh với 3,5%,…
Hà Lan là nguồn cung có tốc độ tăng trưởng giảm mạnh nhất so cùng
kỳ 2008. Thống kê, kim ngạch nhập khẩu từ Hà Lan đạt 87,8 nghìn
USD giảm hơn 66,5%. Thị trường này cung cấp chủ yếu là khoai tây
giống, hạt Pimento, anh đào tươi, quả kiwi và nụ tầm xuân tươi cho
Việt Nam. Cụ thể: Kim ngạch nhập khẩu quả kiwi đạt 31,9 nghìn
USD chiếm 36,4%, hạt Pimento đạt 32 nghìn USD chiếm 36,4%, anh
đào tươi đạt 9,07 nghìn USD chiếm 10,3%, khoai tây giống đạt 7,06
nghìn USD chiếm 8%,…
Đức cũng là nguồn cung có tốc độ tăng trưởng giảm nhanh trong thời
gian qua. Trong vòng 11 tháng qua, kim ngạch nhập khẩu từ Đức đạt
154,3 nghìn USD giảm 50,6% khiến thị phần của nguồn cung này
cũng giảm từ 13,3% xuống còn 8%.
là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU.Đối
với từng mặt hàng cụ thể,tình hình xuất khẩu các mặt hàng này sang thị
trường EU năm 2009 đều tăng so với 2008,riêng chỉ có xuất khẩu cà phê
giảm 2,4% so với năm 2008.Nhung xét chung thì toàn bộ kim ngạch xuất
khẩu các mặt hàng chủ lực sang EU tăng 6% so với năm 2008.
Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực vào EU giai đoạn 2009-2010
Đơn vị tính: Kim ngạch: triệu USD; tăng %
24
Giày Dép
Ngành da giày Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng lớn bởi tác động của
khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh sản
phẩm, thị trường tiêu thụ…đều đang gặp khó khăn. Tuy nhiên, xuất khẩu da
giày Việt Nam đã có dấu hiệu hồi phục.Theo số liệu thống kê mới nhất, kim
ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam trong tháng 5/2009 đạt trên 374,5
triệu USD, giảm 17,86% so với cùng kỳ năm ngoái nhưng đã tăng 7,5% so
với tháng 4. Tính chung 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu giày dép đạt
1,664 tỉ USD, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm ngoái và thực hiện được
32,6% kế hoạch năm.Trong tháng 5, xuất khẩu giày dép sang một số thị
trường lớn vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao như xuất khẩu sang EU tăng
12,57% so với tháng 4 và là nhà nhập khẩu mặt hàng giày dép lớn nhất của
Việt Nam.Nhìn chung, kim ngạch giày dép sang nhiều thị trường trong 5
tháng đầu năm có sự sụt giảm mạnh như EU giảm 18,8%, sang Hàn Quốc
giảm 49,5%...
Nội dung Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 2009-2010
Trị
giá
Tăng Trị giá Tăng Trị
giá
Tăng Trị
giá