Quan hệ thương mại và đầu tư pháp – việt thực trạng và triển vọng - Pdf 61

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
===========
khóa luận tốt nghiệp
Đề tài:
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ PHÁP – VIỆT
THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG
Giáo viên hướng dẫn : Vũ Thị Hiền
Sinh viên thực hiện : Hoàng Cẩm Vân
Lớp : Pháp 1 – K38E
Hà Nội - 2003
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ PHÁP - VIỆT 3
I. Khái quát về nước Pháp 3
1. Về vị trí địa lý và dân số 3
2. Về chế độ chính trị 3
3. Về tiềm lực kinh tế 7
II. Sự cần thiết của việc phát triển quan hệ hợp tác Pháp - Việt 11
1. Về phía Pháp 11
2. Về phía Việt Nam 12
III. Quá trình phát triển quan hệ hợp tác Pháp - Việt 13
1. Giai đoạn trước năm 1973 13
2. Giai đoạn từ năm 1973 tới nay 15
IV. Năm lĩnh vực hợp tác cần được chú trọng trong việc phát triển quan hệ
hợp tác Pháp - Việt
21
CHƠNG 2: QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ 25
PHÁP - VIỆT
I. Thuận lợi và khó khăn của quan hệ thương mại và đầu tư 25
Pháp - Việt

1.1 Thúc đẩy quan hệ chính trị 66
1.2 Có chính sách hỗ trợ hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Pháp 67
1.3 Có chính sách thu hút mạnh mẽ hơn nữa và nâng cao hiệu quả 68
sử dụng vốn FDI
1.4 Có chính sách thu hút mạnh mẽ hơn nữa và nâng cao hiệu quả 71
sử dụng nguồn vốn ODA
2. Những giải pháp mang tính vi mô 72
2.1 Các doanh nghiệp nên đẩy mạnh xúc tiến bán hàng sang thị 72
trường Pháp
2.2 Nâng cao hiệu quả hàng nhập khẩu từ Pháp 73
2.3 Đào tạo bồi dưỡng cán bộ 74
2.4 Quan hệ hợp tác chặt chẽ với Phòng thương mại và công 75
nghiệp Pháp tại Việt Nam
KẾT LUẬN 77
Lời nói đầu
Kể từ khi tiến hành đổi mới đến nay, Đảng ta luôn khẳng định chính sách đa
phương hoá, đa dạng hoá về mọi mặt chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội trên
tinh thần hợp tác, phát triển bình đẳng cùng có lợi với tất cả các quốc gia trên thế
giới không phân biệt chế độ chính trị - xã hội. Trong đó chúng ta luôn coi trọng
các quốc gia có mối quan hệ truyền thống lâu đời. Trong những nước có mối quan
hệ hữu hảo với Việt Nam, phải kể đến Cộng hoà Pháp. Là một nước lớn trong liên
minh Châu Âu với số dân hơn 60 triệu người, Pháp là một thị trường lớn, có sức
hấp dẫn cao đối với không chỉ nền kinh tế Việt Nam. Ngược lại Việt Nam là một
trong số những nước đang phát triển có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất nhì thế
giới, dân số lại khá đông nên nhu cầu về hàng hoá của Pháp về tiêu dùng và phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là rất cao.
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta đến nay (1973), kim
ngạch buôn bán hai chiều giữa hai quốc gia ngày càng gia tăng. Cụ thể là kim
ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Pháp là 677 triệu FRF (năm 1990)
đến nay kim ngạch ngoại thương hai chiều giữa Việt Nam và Cộng hoà Pháp là

minh Châu Âu) có vùng biển rộng lớn (vùng đặc quyền kinh tế trải rộng trên 11
triệu km²). Diện tích đồng bằng chiếm hai phần ba tổng diện tích.
Dân số nước Pháp là 60 triệu người, trong đó có khoảng gần 30 triệu người ở
độ tuổi lao động. Mật độ dân số là 105 người/km², mức thấp nhất liên minh Châu
Âu (EU).
2. Về Chế độ Chính trị
Nhà nước Pháp theo chế độ cộng hoà tư sản. Hiến pháp ngày 4 tháng 10 năm
1958 điều chỉnh sự vận hành của các thể chế của nền Cộng Hoà thứ năm. Hiến
pháp đã được sửa đổi nhiều lần: bầu cử Tổng Thống Cộng Hoà theo phương thức
phổ thông đầu phiếu trực tiếp (1962), đưa thêm một mục mới liên quan đến trách
nhiệm hình sự của các thành viên Chính Phủ (1993), thiết lập kỳ họp duy nhất ở
Nghị Viện và mở rộng quy mô trưng cầu dân ý (1995), rút ngắn nhiệm kỳ Tổng
Thống từ 7 năm xuống 5 năm (2000).
Theo Hiến pháp năm 1958, người đứng đầu Nhà nước là trụ cột cho các thể
chế. Đó là người đảm bảo để các thể chế vận hành tốt. Là người đứng đầu quân
đội, chịu trách nhiệm cho độc lập dân tộc, Tổng Thống có một số quyền đặc biệt
trong thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng. Tổng Thống có thể đưa ra trưng cầu dân
ý một số dự thảo luật và giải tán Quốc Hội. Trên thực tế, Tổng Thống có một vai
trò hàng đầu trong việc xác định các phương hướng của chính sách đối ngoại.
Tổng Thống bổ nhiệm Thủ Tướng, cũng như các thành viên của Chính Phủ theo
đề nghị của Thủ Tưóng, và chủ trì Hội Đồng Bộ Trưởng.
Thủ Tướng Chính Phủ, người chịu trách nhiệm về quốc phòng và có nhiệm vụ
thực thi các đạo luật, lãnh đạo hoạt động của Chính Phủ. Chính Phủ xác định và
thi hành chính sách quốc gia. Chính Phủ có bộ máy hành chính và lực lượng vũ
trang. Chính Phủ chịu trách nhiệm trước Nghị Viện.
Người đứng đầu Nhà nước được nhân dân Pháp bầu trực tiếp. Người đứng đầu
Chính Phủ được bầu theo hình thức đa số tại Nghị Viện. Trong trường hợp cùng
chung sống, Tổng Thống và Thủ Tướng được bầu theo các hình thức đa số khác
nhau.
Với một Nghị Viện có hai Viện, Pháp có một hệ thống lưỡng viện đóng một

khu vực kinh tế quan trọng nhất của thế giới. Liên minh Châu Âu có đồng tiền
của riêng mình là đồng Euro, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 ở mười hai
nước (Đức, Áo, Bỉ, Tây Ban Nha, Phần Lan, Pháp, Hy Lạp, Ai len, Ý,
Luxembourg, Hà Lan và Bồ Đào Nha): là sự cụ thể hoá của Liên minh tiền tệ,
đồng tiền quốc tế mới này đang phải đương đầu với những thử thách của quá
trình toàn cầu hoá.
Liên minh 15 nước Châu Âu cũng cần phải tăng cường bản sắc chính trị và
chuẩn bị cho sự mở rộng của liên minh đối với nhiều Nhà nước ứng cử viên.
Nghiên cứu về tương lai của Châu Âu và về những cải cách về mặt thể chế được
trao cho một uỷ ban do cựu Tổng Thống Cộng Hoà Pháp Valery Giscard
d’Estaing làm Chủ Tịch.
Về đảm bảo an ninh quốc tế và đấu tranh chống khủng bố: những năm chiến
tranh lạnh cũng như thời kỳ bất ổn kế tiếp sau đó đã đặt lên vai nước Pháp và các
quốc gia dân chủ khác những trọng trách lớn. Tham gia vào khối liên minh Bắc
Đại Tây Dương (OTAN), Pháp cũng là thành viên của tổ chức Hợp tác và An
ninh Châu Âu (OSCE) và Quân đội Châu Âu. Ngoài ra, là một trong năm cường
quốc hạt nhân, Pháp đảm bảo việc duy trì và đưa đường lối răn đe của mình phù
hợp với những thực tế chiến lược mới, đồng thời nỗ lực phấn đấu cho việc cấm
hoàn toàn các vụ thử hạt nhân.
Mặt khác, sau thảm họa ngày 11 tháng 9 tại Mỹ, nước Pháp đã khẳng định
tình đoàn kết của mình trong cuộc chiến chống khủng bố quốc tế. Pháp đã tham
gia vào các chiến dịch gìn giữ hoà bình chống lại tổ chức Al Qaeda do lực lượng
quốc tế trợ giúp an ninh (ISAF) tiến hành tại Afghanistan.
Trên trường quốc tế, chính sách đối ngoại của Pháp là tôn trọng các nguyên
tắc và mục tiêu của tổ chức Liên Hiệp Quốc, vốn như hình thức phản ánh các lý
tưởng Cộng Hoà. Chính vì vậy từ năm 1945, nước Pháp không ngừng bảo vệ tổ
chức này với khoản đóng góp tài chính đứng hàng thứ 4. Pháp là một trong số
năm thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, cơ quan quyền
lực cao nhất của Liên Hiệp Quốc.
Ngày nay các công cụ của chính sách hợp tác của Pháp đã được thay đổi để

2002 đã tăng lên đạt 22.690 USD/người.
Tuy trong bối cảnh nền kinh tế không được phát triển như trước nhưng tiêu
dùng của các hộ gia đình Pháp vẫn thể hiện những khả năng giữ vững mạnh mẽ
so với toàn bộ các nước trong khu vực đồng Euro và là động lực chính của tăng
trưởng kinh tế Pháp.
Nhìn chung, sức tiêu thụ vẫn giữ tốc độ tăng trưởng như năm vào khoảng
+2,9%/năm. Cụ thể là các chi tiêu tiêu dùng các sản phẩm chế biến và dịch vụ
vẫn năng động với mức gia tăng 3,1% và 3,3%/năm.
Ngoài ra, việc giảm và bình ổn giá dầu lửa và các sản phẩm chế biến của
nước ngoài đã đóng góp vào việc kiềm chế lạm phát. Việc chuyển sang sử dụng
đồng tiền Euro vào tháng một năm 2002 chỉ có tác dụng không đáng kể tới việc
gia tăng giá cả (+0,1%).
Tóm lại, Pháp là nước có tất nhiều tiềm lực để duy trì sự ổn định và phát triển
của nền kinh tế đồng thời còn có khả năng thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh
hơn nữa nhờ vào các thành phần kinh tế trong nước vốn đã rất phát triển, cộng
thêm một yếu tố căn bản để phát triển kinh tế đó là yếu tố con người. Pháp là
nước có nguồn nhân lực có trình độ cao kết hợp với trình độ công nghệ phát triển,
nguồn chất xám từ các nước Châu Á chảy vào, lại có thêm chính sách các thành
phần kinh tế của Nhà nước chúng ta có thể thấy rằng Pháp có rất nhiều điều kiện
để phát triển nền kinh tế.
Một số ngành chủ đạo trong nền kinh tế Pháp:
Nước Pháp sở hữu 13 trong số một trăm doanh nghiệp đa quốc gia lớn nhất.
Những năm gần đây, lĩnh vực dịch vụ trở thành hướng đầu tư trực tiếp chủ yếu
của Pháp ra nước ngoài. Thống kê cho thấy có khoảng 19.177 chi nhánh doanh
nghiệp Pháp ở nước ngoài, trong số đó 52% hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp
và 48% trong các lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Liên minh Châu Âu là đối tác
đứng đầu, sau đó là Bắc Mỹ trong số các đối tác chính của doanh nghiệp Pháp.
Tổng đầu tư của Pháp ở nước ngoài so với GDP tương đương với số tiền đầu tư
Pháp tiếp nhận, vào khoảng 19%. Con số này khiến Pháp vượt lên trên Đức
(15%), Nhật Bản (7%), nhưng đứng sau Mỹ (25%) và Anh (36%).

mạnh của Pháp. Có mặt tại Việt Nam là các công ty như Aqua Service Vietnam,
Groupe Bourbon, La Vie Joint Venture Company, Tobaccor.
Ngành da giầy và dệt may là ngành gặp nhiều khó khăn do hàng Châu Á tràn
ngập, doanh số không tăng và các xí nghiệp phải chuyển sản xuất ra nước ngoài.
Một nguyên nhân nữa giải thích tại sao ngành da giầy và dệt may ngày càng thu
hẹp hoạt động là do khó khăn về đời sống, người Pháp có khuynh hướng mua
quần áo và giầy dép rẻ tiền và tận dụng đồ đã có sẵn. Một số tập công ty của Pháp
về lĩnh vực này đã thâm nhập thị trường Việt Nam như FLD Vietnam, Phoenix
Worldwide, Pierre Cardin Vietnam, S.N.E Weil Besancon.
Về ngành nông nghiệp: mặc dù không còn là một nước nông nghiệp, Pháp
vẫn đứng thứ hai về xuất khẩu nông sản sau Mỹ. Người làm nông nghiệp ở Pháp
chỉ chiếm 5% dân số lao động. Nhờ đẩy mạnh chuyên môn hoá trong nông
nghiệp, năng suất lao động nông nghiệp Pháp thuộc loại cao trên thế giới. Hoạt
động khuyến nông chủ yếu do các nhóm nông dân đảm nhận. Nhà nước tập trung
vào các hoạt động nghiên cứu cơ bản và đào tạo.
Lĩnh vực dịch vụ là một trong những thế mạnh của kinh tế Pháp gồm các
ngành du lịch, tài chính-ngân hàng, phân phối, bảo hiểm, dịch vụ cho các xí
nghiệp.
- Du lịch : Pháp vẫn là điểm du lịch đứng đầu trên thế giới nhờ
vào các danh lam thắng cảnh nổi tiếng, khí hậu ôn hoà... Các
công ty du lịch của Pháp hoạt động tại Việt Nam là Exotissimo,
Phoenix Vietnam.
Bên cạnh đó còn phải kể đến hệ thống các khách sạn của Pháp tại Việt Nam như
Hilton Hanoi Opera, Sofitel Metropole Hanoi, Sofitel Plaza Saigon, Sofitel Plaza
Hanoi, Sunway Hotel Hanoi, Victoria Hotel & Ressorts.
- Tài chính ngân hàng: Pháp đã tiến hành tư hữu hoá các ngân
hàng nhà nước như Crédit Lyonnais, BNP. Hiện nay có những
ngân hàng làm ăn có lãi như: CCF, Société Générale, Crédit
Agricole... Các ngân hàng của Pháp đã có mặt tại Việt Nam là
BNP Paris, Crédit Agricole Indosuez, Crédit Lyonnais, Natexis,

kinh tế quốc tế đương đại. Tại hội nghị cấp cao Á-Âu, Việt Nam sẽ là một
tiếng nói có trọng lượng ủng hộ quan điểm của Pháp.
Những kết quả đáng khích lệ thu được trong những năm đổi mới đó là kinh tế
tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm, lạm phát được kiềm chế, đời sống của
nhân dân được cải thiện đã giúp chúng ta giành được niềm tin và sự ủng hộ của
cộng đồng quốc tế nói chung và của Pháp nói riêng. Thêm vào đó là Việt Nam
được coi là một thị trường tiềm năng với hơn 80 triệu dân với sức mua ngày càng
được nâng cao sẽ là điều kiện thuận lợi để Pháp tăng cường xuất khẩu hàng hoá
của mình.
Ngay từ đầu những năm 90, Pháp đã dành cho Việt Nam một sự hỗ trợ chính
trị và tài chính quan trọng, tạo điều kiện cho Việt Nam tái hội nhập về chính trị,
thực hiện chuyển đổi và phát triển kinh tế.
Để làm được điều này, Pháp đã huy động toàn bộ các công cụ hợp tác của
chính phủ: nghị định thư hợp tác về tài chính, hỗ trợ của Cơ quan Phát triển Pháp,
tín dụng, hợp tác và phát triển văn hóa của Bộ Ngoại Giao, xoá nợ viện trợ lương
thực, viện trợ khẩn cấp. Hiện nay, Pháp là nhà tài trợ đứng hàng thứ tư ở Việt
Nam (với 106 triệu Euro cam kết cho năm 2002), chỉ đứng sau Nhật Bản, Ngân
hàng Phát triển Châu Á và Ngân hàng Thế Giới.
Việt Nam đã trở thành thành viên của Cộng đồng Pháp ngữ từ năm 1995 và
đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Pháp ngữ năm 1997. Đặc biệt sau khi cải
cách cơ cấu hợp tác phát triển ở Pháp, Việt Nam đã được xếp vào “Khu vực đoàn
kết ưu tiên” và vì thế có thể nhận được những khoản tín dụng hợp tác lớn hơn.
Xã hội công dân của Pháp cũng đã được huy động tham gia thúc đẩy quan hệ
hợp tác Pháp-Việt. Với 300.000 người Pháp gốc Việt, nước Pháp là nước có cộng
đồng người Việt lớn thứ hai trên thế giới sau Hoa Kỳ. Gần 40 tỉnh, thành phố,
vùng của Pháp và hơn 100 hiệp hội đoàn kết quốc tế đã thiết lập mối quan hệ hợp
tác với Việt Nam.
2. Về phía Việt Nam
Để đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã gia nhập tổ chức
ASEAN và AFTA và các hội nghị cấp cao EU-ASEAN (ASEM). Tháng 11 năm

k Thiết lập một bộ máy quản lý hành chính và ban hành các văn bản pháp
luật phục vụ yêu cầu quản lý ba miền Việt Nam.
l Khai thác một cách có hệ thống tài nguyên của Việt Nam như: gạo, cao su,
cà phê, than đá.
c Xây dựng một số cơ sở hạ tầng: đường xá, thành phố và nhà máy, xí
nghiệp.
Cho đến năm 1954, sau thất bại ở Điện Biên Phủ và với việc ký kết hiệp định
Genève, Pháp buộc phải rút ra khỏi nước ta. Khi rút khỏi Việt Nam, Pháp thiết
lập quan hệ ngoại giao chính thức với chính quyền tay sai ở Sài Gòn, từ chối bình
thường hoá quan hệ với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà trên cơ sở bình đẳng và hai
bên cùng có lợi.
Tháng 12/1954, Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã chấp nhận cho
Chính phủ Pháp lập cơ quan Tổng đại diện tại Hà Nội. Ngày 14/10/1954 Hiệp
định thương mại đầu tiên được ký kết mở đầu quan hệ chính thức trao đổi hàng
hoá giữa hai nước Việt Nam - Pháp. Nhưng cho đến tận tháng 3/1956, Pháp mới
thoả thuận về việc lập cơ quan đại diện thương mại của Việt Nam tại Paris và
tháng 8/1966 quan hệ này được nâng lên cấp Tổng đại diện.
Trong thời kỳ Mỹ xâm lược Việt Nam, đặc biệt từ khi Pháp chủ trương thực
hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ đối với Mỹ, chính phủ Pháp đã nhiều lần
lên tiếng phản đối chính sách can thiệp của Mỹ ở Đông Dương. Ngày 29/8/1963,
Tổng Thống De Gaulle tuyên bố mong muốn: “Một Việt Nam độc lập với bên
ngoài, hoà bình thống nhất bên trong, hoà hợp với các nước láng giềng” và cho
rằng chính sự can thiệp của Mỹ là nguồn gốc gây ra chiến tranh và đòi Mỹ chấm
dứt mọi hành động chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam. Sau khi Pháp nâng cấp
quan hệ với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, quan hệ giữa Chính quyền Sài
Gòn và Pháp xấu đi và thậm chí đã bị gián đoạn cho đến tận năm 1973.
Trước việc leo thang chiến tranh của Mỹ, Pháp đồng ý cho Mặt trận Dân Tộc
Giải Phóng Miền Nam Việt Nam lập phòng thông tin tại Paris năm 1968. Năm
1973, Pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đàm phán tại Paris giữa Việt Nam
và Mỹ về việc chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam.

cộng đồng quốc tế.
Tháng 7 năm 1993, Chính phủ Pháp đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam
50 triệu USD để trả nợ cho IMF nhằm giải toả mối quan hệ với các tổ chức tài
chính quốc tế.
Năm 1993, Tổng Thống Mitterrand thăm Việt Nam và sau đó Thủ Tướng Võ
Văn Kiệt thăm Pháp. Qua hai chuyến viếng thăm ở cấp cao, Pháp đã tỏ rõ thái độ
ủng hộ Việt Nam hoà nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế. Điều đáng lưu ý là
cuối năm 1993, Pháp đã giúp Việt Nam giải quyết vấn đề nợ nhà nước tại Câu lạc
bộ Paris bằng cách thuyết phục các chủ nợ thông qua phương án trả nợ có lợi cho
ta. Bản thân Pháp đã xoá nợ cho Việt Nam 1,215 tỷ FRF trong số 2,2 tỷ FRF và
giải toả 34 triệu FRF thuộc tài sản của Việt Nam bị phong toả tại Ngân khố Pháp
từ năm 1954. Tháng 10/1994 tại Hội nghị đầu tiên các nhà tài trợ quốc tế, Pháp đã
vận động các nước cam kết tài trợ cho Việt Nam 2 tỷ USD. Để hỗ trợ cho các xí
nghiệp Pháp làm ăn ở Việt Nam, Pháp đã nối lại bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
COFACE cho Việt Nam và đưa Việt Nam từ nhóm 4 (nhóm nhiều rủi ro nhất
trong đầu tư) lên nhóm 3.
Để tỏ rõ mối quan tâm của mình muốn thúc đẩy quan hệ Pháp – Việt và coi
Việt Nam là cầu nối giữa Pháp và các nước khác ở khu vực này, tháng 11/1994,
Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp lúc đó, Alain Juppé khi đi thăm Việt Nam đã tuyên
bố: “Nước Pháp nằm ở giữa lục địa Châu Âu, một châu lục đang ngày càng trở
nên thống nhất và nước Việt Nam nằm ở giữa lục địa Châu Á, một châu Á đã
được hoà giải và đang tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Hai nước chúng ta có thể
cùng nhau làm nên nhiều việc lớn”.
Tháng 12 năm 1996, khi đến thăm Singapore, Tổng Thống Pháp Chirac đã
phát biểu: “Tôi đặc biệt chào mừng Việt Nam gia nhập ASEAN. Với việc tìm lại
vị trí của mình trong tổ chức khu vực này, Việt Nam có thể sử dụng tài năng tuyệt
vời của người dân và sự năng động kỳ diệu của dân tộc mình vào sự phát triển đất
nước”.
Tháng 12 năm 1999 Pháp giảm danh sách các đối tượng được nhận viện trợ
từ 100 nước xuống còn 53 nước nhưng vẫn giữ Việt Nam trong danh sách này.

khoa học và y tế. Hãy nhân rộng các chương trình về hỗ trợ sư phạm và đào tạo
đại học. Hãy mở thêm các trường trung học và các lớp song ngữ. Chúng ta hãy
cùng nhau phát triển các cơ sở giáo dục mới, bao trùm tất cả các khu vực của đời
sống kinh tế, hành chính và công nghệ.
Các doanh nghiệp Pháp, lớn cũng như nhỏ, có kỹ năng và kinh nghiệm về tăng
trưởng và luôn sẵn sàng chia sẻ với Việt Nam những kỹ năng và kinh nghiệm đó,
tất nhiên là sẵn sàng hợp tác với các bạn. Tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo kinh tế,
các doanh nghiệp, các nhà đầu tư Pháp hãy tiếp tục những cố gắng của họ trên
đất nước Việt Nam, hãy tới Việt Nam đông đảo hơn và nắm lấy những thời cơ mà
Việt Nam đã trao cho.”
Mặc dù có những thăng trầm của lịch sử, sự có mặt của Pháp ở Việt Nam vẫn
còn để lại nhiều dấu ấn trong các lĩnh vực như giáo dục, hành chính và thiết kế hạ
tầng cơ sở mà ba mươi năm chiến tranh không làm mất đi hoàn toàn. Người Việt
Nam luôn có tín nhiệm với những thành tựu kỹ thuật của Pháp và ngược lại,
người Pháp tìm thấy ở người Việt Nam những đức tính quý báu: cần kiệm, thông
minh, dũng cảm... Mối quan hệ lâu đời giữa hai nước, mặc dù trải qua chiến tranh
đã tạo nên những giao lưu kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật. Nhân dân hai
nước có những hiểu biết sâu sắc về văn hoá, ngôn ngữ, thói quen và phong tục tập
quán của nhau. Phát triển các mối quan hệ song phương về mọi mặt giữa hai nước
nói chung và quan hệ kinh tế nói riêng mang lại những lợi ích lớn lao cho cả hai
phía.
Trao đổi giữa Pháp và Việt Nam đã được nhân lên năm lần trong vòng mười
năm, điều đó chứng tỏ sức mạnh của mối liên hệ thương mại giữa chúng ta với
đất nước này. Năm 2001, Việt Nam là nhà cung cấp thứ 43 của Pháp, đứng trước
Australia, Côte d’Ivoire, Hy Lạp nhưng Việt Nam chỉ đứng hàng thứ 71 trong số
các khách hàng của Pháp.
Trao đổi giữa Việt Nam và các nước có đồng tiền có thể chuyển đổi từ năm
1987 đã dần thay chỗ các trao đổi với các nước Liên Xô cũ và Đông Âu. Ngoại
thương Việt Nam chủ yếu hướng tới các nước trong khu vực, nhưng nước Pháp
đã sớm biết tận dụng sự biến chuyển này trước các cường quốc thương mại khác,


Nhập khẩu của Pháp từ Việt Nam năm 2001 tăng so với năm 2000, nhưng
đến năm 2002 thì lại giảm so với năm 2001. Từ năm 1993, nhập khẩu từ Việt
Nam của Pháp liên tục tăng. Sự gia tăng này gắn với việc thiết lập một Hiệp Định
song phương với Liên minh Châu Âu năm 1995, điều này cho phép Việt Nam
phát triển việc bán các sản phẩm chế biến, dệt và nhất là các sản phẩm từ da. Nếu

Trích đoạn Tiềm năng tiêu thụ của thị trường Việt Nam Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Pháp Dây điện và dây Nguyên phụ liệudược Hình thức đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status