Giáo trình: Tư vấn tâm lý - Pdf 10

1

Giáo trình
Tư vấn tâm lý 2

Lời Nói Đầu
Nhu cầu tham khảo ý kiến người khác để giải quyết những vấn nạn cá nhân là một nhu cầu

toàn với những lý thuyết và cách tiếp cận của các trường phái xuất hiện trước đó. Thí dụ:
quan hệ giữa khách hàng và người làm công tác tư vấn là quan hệ hợp tác bình đẳng; khách
hàng chứ không phải người làm công tác tư vấn, là chuyên gia về cuộc đời của họ; giải pháp
thật sự cho vấn nạn là giải pháp cho khách hàng nghĩ ra hoặc tham gia vào việc tìm ra chứ
không phải do người làm công tác tư vấn áp đặt…
Ngoài ra, do tính cách phức tạp của vấn nạn xuất phát từ cuộc sống ngày càng đa dạng của
con người, mỗi trường phái, mỗi lý thuyết đều có ưu và khuyết điểm riêng. Chính vì vậy
phương pháp tổng hợp các trường phái/the eclectic approach là phương pháp phổ biến nhất.
Điều này hợp lý vì nó giúp người làm công tác tư vấn tận dụng được trí khôn của nhân loại,
3

không phân biệt nguồn gốc, miễn giúp được khách hàng vượt qua vấn nạn. Tài liệu này
được biên soạn theo tinh thần phương pháp tổng hợp với trụ cột là cách tiếp cận lấy con
người làm trung tâm của trường phái nhân bản.
Tác giả hy vọng tài liệu này sẽ phần nào hữu ích cho độc giả và sẽ góp phần tạo hứng thú
cho các bạn trẻ để tham gia nghiên cứu, học tập làm cho khoa tư vấn tâm lý Việt Nam ngày
càng mau chóng lớn mạnh. Sau cùng, do khả năng hạn hẹp, soạn giả xin phép được để
nguyên một số chữ tiếng Anh bên cạnh tiếng Việt để rõ nghĩa và để tiện cho việc góp ý của
quý vị độc giả để việc chuyển dịch từ ngữ trong tương lai thêm chính xác.
Trần Đình Tuấn
San Jose, California, tháng Bảy 2009
Phần Một : NHỮNG TRƯỜNG PHÁI CHÍNH
Chương 1 : PHÁI TƯƠNG TÁC TÂM LÝ/PSYCHODYNAMIC
SIGMUND FREUD (1856-1939) VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN
TÂM/PSYCHOANALYSIS
Được xem là một trong bốn nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất đến lịch sử nhân loại trong thế
kỷ 20 (cùng với Charles Darwin, Albert Einstein, và Karl Max), Freud là người Áo gốc Do
Thái, sinh ra và sống gần hết đời ở Vienne. Sau khi Đức quốc xã sát nhập Áo vào lãnh thổ
Đức năm 1937, Freud trốn sang Anh và mất tại London năm 1939. Tư tưởng vô cùng phong
phú, táo bạo, và phức tạp của Freud có thể được tóm tắt qua những điểm chính sau đây:

Giai đoạn miệng/Oral stage, (từ 0 đến 1 tuổi):
Ở giai đoạn này đứa bé sơ sinh dùng miệng không phải chỉ để ăn (bú sữa) mà còn để sờ mó,
thám hiểm thế giới xa lạ chung quanh, và để có cảm giác sung sướng (bú ngón tay, ngậm vú
mẹ, ngậm núm vú). Freud chia giai đoạn này làm hai phân đoạn: phân đoạn thụ
động/receptive và phân đoạn chủ động/aggressive. Phân đoạn thụ động diễn ra trong vài tháng
đầu đời, đứa bé hoàn toàn phụ thuộc mẹ và chỉ biết bú, nuốt… Phân đoạn chủ động diễn ra
khi lợi trở nên cứng và răng bắt đầu nhú ra, đứa bé bắt đầu biết diễn tả cảm xúc của nó bằng
động tác nhay, cắn (ngón tay, vú mẹ…), tức là ngay từ giai đoạn sơ sinh này con người đã có
kinh nghiệm và diễn tả được kinh nghiệm vừa thương vừa ghét/ambivalence cùng một đối
tượng (mẹ, vừa bú vừa nhay vú mẹ, làm cho mẹ đau).
Giai đoạn hậu môn/Anal stage, (từ 1 đến 3 tuổi):
Khu vực nhạy cảm và tạo cảm giác sướng khoái nhiều nhất trong giai đoạn này là vùng hậu
môn, gồm cả hậu môn lẫn bộ phận tiểu tiện. Khoái cảm này cũng đã được xếp vào hàng “tứ
khoái” ở phương đông bất kể giai đoạn tuổi tác nào (ăn, ngủ, tình dục, đại tiểu tiện). Freud
cũng chia giai đoạn này làm hai phân đoạn: phân đoạn buông/expulsion và phân đoạn
giữ/retention. Ở phân đoạn buông đứa bé lần đầu tiên trải qua mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu
tiểu tự nhiên của nó và nhu cầu huấn luyện tiêu tiểu đúng chỗ, đúng lúc, của cha mẹ nó.
Phân đoạn này cũng là thời gian cực kỳ quan trọng để đứa bé học cách làm thế nào để được
khen, được thương; tình thương của cha mẹ không còn vô điều kiện như trước nữa mà tùy
theo ứng xử của đứa bé. Cách dạy con của cha mẹ trong phân đoạn này cũng góp phần
chính trong việc tạo nên một phần hết sức quan trọng trong cá tính của đứa bé, đó là cách nó
suy nghĩ và ứng xử đối với những người có quyền lực trong cuộc đời của nó. Nếu nó có cái
nhìn tích cực đối với quyền lực: quyền lực đứng về phía nó, hỗ trợ nó, khả năng hòa nhập
trên đời của nó sẽ khác hẳn so với cái nhìn bi quan, tiêu cực: quyền lực áp bức nó, thù
5

nghịch với nó. Ở phân đoạn giữ, đứa bé học được cách nín tiêu, tiểu, và chủ động được lúc
nào, ở đâu sẽ có cảm giác sướng khoái do tiêu tiểu mang lại.
Giai đoạn dương vật/Phallic stage, (từ 3 đến 5 hoặc 6 tuổi):
Freud đã chọn từ “phallic”, bắt nguồn từ chữ Hy lạp “phallus” nghĩa là dương vật, để đặt tên

kiến thức cũng như năng khiếu mới. Ở giai đoạn này đứa bé thích chơi với bạn cùng giới.
6

Có thể nói những năm trước dậy thì là thời gian sự thăng bằng giữa thú tính bẩm sinh, lương
tâm, và cái Tôi đạt mức cao nhất trong đời người. Đây là thời gian biển lặng trước cơn bão
táp của tuổi dậy thì.
Giai đoạn sinh dục/Genital stage:
Thăng bằng giữa ba thành phần của bản ngã chấm dứt, thú tính bẩm sinh/ id vượt lên trên,
tạo ra những đòi hỏi mãnh liệt về tình dục với người khác phái. Nếu ở những giai đoạn
trưởng thành trước, đứa bé được thỏa mãn vừa phải, nó sẽ dồn được tất cả năng lực vào việc
phát triển mối quan hệ bình thường, hạnh phúc với người khác phái. Trái lại nếu nó không
được thỏa mãn vừa đủ hoặc được thỏa mãn quá độ, nó sẽ có triệu chứng của tình trạng ám
ảnh/fixation bởi giai đoạn cũ, giống như đứa trẻ học kém phải ở lại lớp, hoặc là ở lớp cũ nó
được các thày cô chiều chuộng quá mức khiến cho nó cứ muốn ở lại lớp đó hoài, không
muốn lên lớp trên. Vì thời gian cứ trôi qua, đứa bé bị bắt buộc phải lên lớp, nó sẽ phải tiêu
phí nhiều năng lực vào phản ứng dồn nén hoặc tự vệ liên quan đến những mâu thuẫn chưa
giải quyết được ở lớp cũ. Kết quả là nó sẽ khổ đau, sẽ không thể xây dựng được mối quan
hệ tốt đẹp, lành mạnh, hạnh phúc bình thường với người khác phái.
2. Thức/conscious, và vô thức/unconscious:
Thức là trạng thái tỉnh táo khi con người nhận biết được và có được phản ứng đối với những
kích thích của môi trường. Bên cạnh thức, Freud còn chỉ ra vai trò quan trọng của vô thức.
Mặc dù trước Freud đã có nhiều người nhắc đến từ “vô thức”, Freud là người phân tích tỉ mỉ
và chính xác nhất phần vô thức của tâm lý con người. Theo Freud trong vô thức có hai phần:
phần tiền thức/preconscious và phần vô thức. Tiền thức là những cảm xúc, những kinh
nghiệm, những ý nghĩ, những ghi nhận… mà con người có thể dễ dàng nhớ lại khi cần; vô
thức là chỗ chứa những cảm xúc, những kinh nghiệm, những khao khát mạnh mẽ bị dồn nén
ra khỏi thức. Mặc dù con người không nhận biết những cảm xúc này và không thể nhớ lại
được chúng theo ý muốn nhưng chúng vẫn hiện diện trong vô thức và ảnh hưởng mạnh mẽ
đến cảm xúc cũng như ứng xử của con người qua cơ chế tự vệ/defense mechanism.
Trong cấu trúc tâm lý con người của Freud, phần Tôi/ego và phần Thiện/superego hoạt động

Đền bù/Compensation: khiếm khuyết ở một lĩnh vực được bù đắp bằng cố gắng và thành công
ở một lĩnh vực khác. Thí dụ người có một khuyết tật cố gắng học và làm việc thật giỏi để
tránh được cảm giác khó chịu vì bị mọi người coi thường.
Đổ tội/Blaming: đổ những khiếm khuyết, sai lầm, lỗi… của mình cho người khác. Thí dụ:
“Cây quất trồng ở Hoài Nam là quất ngọt, đem sang trồng ở Hoài Bắc thì hóa quất chua. Tôi
bê bối, tôi dối trá, tôi ích kỷ như thế này là do ai? Là do chính cô đấy cô có biết không? Hồi
xưa chưa lấy cô tôi ở với bố mẹ tôi có như thế này đâu?”
Mộng tưởng/Fantasy: tưởng tượng được trải qua một mơ ước thầm kín nào đó không thể có
trong thực tế. Một thí dụ sáng thứ bảy đang phải ngồi ở nhà ăn phở với “cơm” nhưng lại
tưởng tượng đang được ở tiệm ăn cơm với “phở”!
Chối bỏ/Denial: từ chối chấp nhận một thực trạng vì nó tai hại cho sự an toàn của cái Tôi. Thí
dụ: ai cũng biết cậu quý tử gửi sang Pháp du học chỉ phung phí tiền ăn chơi trác táng, cha mẹ
cậu vẫn chối bỏ mọi thông tin chính xác và thành thật khoe với mọi người là cậu đang học
quản trị kinh doanh ở một đại học nổi tiếng của Paris.
8

Giận cá chém thớt/Displacement: chuyển cảm xúc, năng lực, từ đối tượng này sang đối tượng
khác để được bình an. Thí dụ: đi làm có chuyện bực mình với xếp về nhà kiếm chuyện mắng
vợ chửi con vì mắng chửi vợ con an toàn hơn mắng chửi xếp. Thí dụ khác: người yêu đi lấy
chồng, chàng bèn đi tu và trở thành một nhà tu chân chính, đạo hạnh.
Chuộc tội/Undoing: đền bù một hành vi hoặc ham muốn xấu bằng một hành động tốt. Thí dụ
một số ông chồng sau khi đi ăn vụng thì về nhà dịu dàng tử tế với vợ và phụ vợ chăm sóc
con cái đàng hoàng.
Giả bệnh/Somatization: biến đổi những khó chịu hay mối đe doạ thành bệnh tật. Thí dụ: mỗi
lần bà mẹ chồng ở quê ra thăm thì cô con dâu đều nhức đầu, đau bụng, khó ở, ăn không
ngon, ngủ không yên, không bác sĩ hay thầy lang nào chữa được, nhưng lần nào bà mẹ
chồng trở về quê thì bao nhiêu bệnh tật cũng đều tiêu tan.
Hoán chuyển/Sublimation: chuyển một ham muốn tự nhiên mạnh mẽ không được xã hội tán
đồng thành hành vi phù hợp với giá trị do xã hội đặt ra. Thí dụ: một người hung hăng thích
bạo động chọn nghề võ sĩ hay nghề cảnh sát hình sự. Thí dụ khác: người mắc bệnh thiếu nhi

Vì vậy, mục tiêu của phương pháp phân tâm là đem cái kinh nghiệm, cái khao khát, cái sợ
hãi đã bị vùi sâu trong vô thức phơi bày ra thức, tạo cho khách hàng cơ hội sống lại nó và
giải quyết nó một cách đúng đắn và rốt ráo để đạt được một kết luận tích cực cho mối mâu
thuẫn đó. Khi các mối mâu thuẫn của quá khứ được giải quyết thỏa đáng, những triệu chứng
thần kinh tâm trí liên quan đến nó sẽ tiêu tan.
Phương pháp phân tâm cổ điển đòi hỏi người bệnh gặp nhà phân tâm trung bình năm lần
một tuần, mỗi lần 50 phút liên tiếp trong nhiều năm. Trong thời gian gặp gỡ, người bệnh
nằm dài thoải mái trên một trường kỷ, nhà phân tâm ngồi phiá sau đầu bệnh nhân. Nhà phân
tâm giữ vai trò trung lập, khách quan bằng cách không nói gì về bản thân, không phê phán,
mà chỉ giúp bệnh nhân đi ngược lại lịch sử của mình và nói ra tất cả những gì đã xảy ra trong
quá khứ, nhất là những kỷ niệm tiêu cực, những dục vọng xấu xa. Phương pháp này Freud
gọi là lột trần ẩn ức/free association. Trong quá trình điều trị lâu dài này, nhà phân tâm diễn
dịch những mâu thuẫn không được giải quyết thỏa đáng và bị dồn vào vô thức, những cơ chế
tự vệ, những né tránh… và dần dần giúp bệnh nhận hiểu được những uẩn khúc tâm lý bản
thân một cách sâu sắc. Qua quá trình làm việc lâu dài và hết sức gần gũi này, bệnh nhân tin
tưởng tuyệt đối và thố lộ tất cả cuộc đời của mình cho nhà phân tâm, dần dần coi nhà phân
tâm như đối tượng của những tình cảm thương cũng như ghét bị dồn nén trong quá khứ.
Quá trình này được Freud đặt tên là phóng chiếu/transference. Freud phân biệt hai loại phóng
chiếu: phóng chiếu tích cực/positive transference là những tình cảm thương yêu, ái mộ đối với
nhà phân tâm; phóng chiếu tiêu cực/negative transference là những ác cảm đối với nhà phân
tâm. Phóng chiếu, cả tích cực lẫn tiêu cực, đều là mục tiêu của phân tâm vì nó tạo cơ hội
cho bệnh nhân được “làm lại cuộc đời” tức là được sống lại mâu thuẫn cũ và được đối tượng
của mâu thuẫn (tức là nhà phân tâm qua phóng chiếu ) dẫn dắt đến một giải pháp phù hợp
nhất có thể được cho mâu thuẫn đó, triệu chứng tâm lý vì vậy tiêu tan. Quá trình làm việc lâu
dài và hết sức gần gũi của phương pháp phân tâm cũng có thể làm cho nhà phân tâm trở lại
những ẩn ức bị dồn nén của chính bản thân, phát sinh tình cảm thương ghét đối với bệnh
nhân và dùng mối liên hệ nghề nghiệp với bệnh nhân để giải quyết những ẩn ức (phần đông
liên quan đến dục tình) bị dồn nén trong quá khứ của chính mình. Freud gọi hiện tượng này
là phản phóng chiếu/counter transference, và đề nghị nhà phân tâm cảnh giác, nếu thấy dấu
10

bởi những hình ảnh sơ khai và hỗn loạn, không có liên hệ rõ rệt với nhau. Thời kỳ
trị/monarchic phase, cái Tôi sơ khai bắt đầu xuất hiện, đứa trẻ bắt đầu có được những khái
niệm về bản thân. Vì lý do cái Tôi trong thời kỳ này được đứa trẻ hiểu như một vật thể, đứa
trẻ thường tự nhắc đến nó bằng ngôi thứ ba. Trong thời kỳ song đôi/dualistic phase, những ốc
11

đảo rời rạc của vô thức được dần dà nối liền với nhau, đứa trẻ bắt đầu ý thức được cả hai mặt
chủ quan và khách quan của cái Tôi và nó có thể tự nói về nó bằng ngôi thứ nhất.
Giai đoạn thanh thiếu niên (dậy thì đến 35-40 tuổi): đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ
của thức, con người đón nhận những vai trò của tuổi trưởng thành: cơ thể và tính dục phát
triển để xây dựng mối quan hệ lứa đôi, trí tuệ phát triển để đảm trách công việc làm và các
trách nhiệm khác. Nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn phát triển này là hướng những năng
lực của cuộc sống/libido ra bên ngoài và sống trọn vẹn cuộc sống của cá nhân. Ích lợi lớn
cho giai đoạn này là khi thanh thiếu niên có được một lý tưởng hay một nhân vật lý tưởng để
noi theo.
Giai đoạn trung niên (35-40 đến tuổi già): con người có khuynh hướng hướng nội để hội
nhập hai phần thức và vô thức của tâm thức/psyche. Trong giai đoạn phát triển trước đó (giai
đoạn thanh thiếu niên), phần vô thức bị lu mờ. Trong giai đoạn trung niên, phần vô thức
được nâng lên và hội nhập vào phần thức, và con người trở nên hướng về nội tâm nhiều hơn
vào ngoại cảnh, chú ý nhu cầu tâm linh. Quá trình hội nhập thức và vô thức trong giai đoạn
này được Jung gọi là quá trình tiến đến trình độ phát triển cao nhất của cá nhân/individuation,
nghĩa là mỗi người trở thành một cá nhân độc đáo với những phẩm chất riêng biệt. Sự hội
nhập những giá trị trái ngược nhau của thức và vô thức và tạo ra những giá trị đối
xứng/dualities, con người trở nên trưởng thành hơn, hữu hiệu hơn trong cuộc sống, và nhờ
vậy xây dựng được cái chân tâm/the self mà Jung đặt vào trung tâm của cá tính mỗi
người/personality.
Giai đoạn lão niên: con người trở về giai đoạn vô thức thống trị của tuổi ấu thơ. Thức lùi ra
phía sau, vô thức tiến ra phía trước. Nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn này là đối đầu với
nỗi sợ chết vì nỗi sợ này làm cản trở nhiệm vụ chính của tuổi già, tức là nhiệm vụ chuẩn bị
cho chết và tái sinh. Đây là một khái niệm quan trọng trong tư tưởng Jung: trái với tư tưởng

một thang giá trị theo đường thẳng, một đầu là cực hướng ngoại và đầu kia là cực hướng nội,
và tất cả mọi người đều rơi vào khoảng giữa hai cực này. Điều đáng chú ý ở đây là quan
điểm của Jung cho năng lực của thức không phải chỉ là năng lực có tính dục tình và bạo
động như Freud nghĩ mà bao gồm tất cả các năng lực tích cực cũng như tiêu cực của cuộc
sống.
Vô thức cá nhân: tương tự vô thức/unconscious hoặc tiền thức/pre-conscious của Freud, tức là
tất cả những cảm xúc, ý nghĩ, kinh nghiệm đã được cá nhân dồn nén vào trong vô thức.
Theo Jung trong vô thức cá nhân còn có những điều không quan trọng mà chúng ta vất vào
đấy. Thức có thể không lôi ra được theo ý muốn những chất chứa trong vô thức, nhưng
những chất chứa đó vẫn hiện hữu và có thể hiện ra bất cứ lúc nào trong thức. Thí dụ cuộc
sống vô cùng tất bật căng thẳng của hiện tại tưởng đã làm cho quên hết quá khứ, nhưng một
vũng nước bất ngờ trên cánh đồng quanh năm khô ráo ở California có thể mang lại cho một
người Mỹ gốc Việt đầy đủ cảm xúc sống động của cả một quãng đời dài với nhiều kỷ niệm
trong vùng đồng ruộng Việt Nam.
Vô thức tập thể: đây là khác biệt lớn nhất giữa Jung và Freud và cũng là phát kiến quan trọng
nhất của Jung. Cũng như đối với những nét đặc thù về thể chất có thể được truyền lại từ thế
hệ này sang thế hệ khác, những nét đặc thù của thức cũng có tính cách di truyền. Điều này
có nghĩa con người từ khi sinh ra đã có những kinh nghiệm, những phản ứng đối với môi
trường y như tổ tiên. Thí dụ chẳng cần phải học hay trải qua kinh nghiệm gì ai cũng biết sợ
bóng tối hoặc biết vẻ đẹp của các loài hoa. Nội dung của vô thức tập thể được Jung gọi là
archetypes, mỗi archetype là một bộ đối xứng của hai tính cách trái ngược, thí dụ sinh và tái
sinh, chết và quyền lực, thiên thần và ác quỷ… Trong các archetypes Jung chú ý nhiều nhất
đến bốn archetypes chính sau đây:
13

Mặt nạ/mask: tức là vai trò mọi người thấy được từ mỗi người trong chúng ta. Mặt nạ vừa
phô trương vừa che đậy bản chất thật của con người và nó cho phép chúng ta hòa đồng vào
cuộc sống.
Kim Đồng-Ngọc Nữ/Anima-Animus: là mặt trái của phái tính thức của con người. Phái tính
thức là phái tính mỗi người biết được của bản thân mình. Thí dụ phái tính thức của ông A là

Mặc cảm:
14

Jung cũng bất đồng ý kiến với Freud về khái niệm mặc cảm. Trong khi Freud coi mặc cảm
Oedipus là thách đố chính trong quá trình trưởng thành của tất cả mọi người, Jung giải thích
mặc cảm như những cái nốt nổi lên trong vô thức, có thể gián tiếp nhận ra được qua những
ứng xử khó giải thích của cá nhân. Mặc cảm có thể hiện hữu cả trong thức lẫn vô thức, có
thể mang tính cách tích cực cũng như tiêu cực, và chỉ những mặc cảm tiêu cực ảnh hưởng
xấu đến ứng xử của con người mới cần chú ý để thay đổi.
Ý kiến về tôn giáo:
Trong khi Freud chủ trương vô thần, muốn nghiên cứu tôn giáo phải đứng ngoài tôn giáo, và
chỉ người không có đức tin mới thực sự hiểu được đức tin, Jung tin tưởng vào giá trị của khía
cạnh tâm linh trong đời sống con người. Khi điều trị một bệnh nhân Mỹ, Rowland Hazard
III, mắc bệnh nghiện rượu nặng, không kết quả, Jung đã khuyên bệnh nhân này tìm về biện
pháp tâm linh. Bệnh nhân nghe lời Jung và chừa được bệnh nghiện rượu. Hazard chia xẻ
kinh nghiệm này với những người nghiện rượu khác trong số có Bill Wilson, sau này trở
thành đồng sáng lập viên của hội Những Người Nghiện Rượu Ẩn Danh/Alcoholics Anonymous
(AA). Phương pháp 12 bước nổi tiếng của hội này ngày nay được áp dụng cho nhiều bệnh
nghiện khác kể cả nghiện cờ bạc, ma túy… tại nhiều nước trên thế giới. Điều đáng chú ý là
mặc dù quan điểm tâm linh của Jung đã gián tiếp tạo ra phương pháp 12 bước, giúp được
hàng triệu người trên thế giới thoát được nạn nghiện cờ bạc và ma túy qua đức tin tôn giáo,
Jung và những người lãnh đạo các hội Ẩn Danh đã là tối tượng chỉ trích nặng nề của phái
Thiên Chúa giáo cực hữu vốn không chấp nhận bất cứ đấng cứu rỗi nào ngoài Chúa Trời và
con một của ngài là Chúa Giê Su (Jung khuyến khích mọi hình thức tâm linh, mọi hình thức
Thượng Đế của mọi tôn giáo, bản thân Jung nghiên cứu và áp dụng Kinh Dịch của Trung
quốc trong tâm lý trị liệu). Ngoài ra, tương tự quan điểm luân hồi của Ấn giáo và Phật giáo,
Jung không cho cái chết là chấm dứt của sự sống mà chỉ là sự chuyển đổi sang một kinh
nghiệm mới về hiện hữu và phát triển (4).
Lý thuyết về các triệu chứng bệnh tâm lý/neurosis:
Bệnh tâm lý là từ do bác sĩ Tô Cách Lan William Cullen đặt ra từ năm 1769 để mô tả những

20 (5). Và cũng giống như Jung, Adler bác bỏ trọng tâm tình dục của Freud trong nhân cách
con người và đề cao bản chất xã hội cao quý của nhân loại. Đối với Adler, những yếu tố
ngoại lai như thể chế chính trị, giới tính nam nữ, thứ tự sinh ra trong gia đình, phương pháp
giáo dục con cái của cha mẹ… quan trọng không kém những yếu tố nội tại như năng lực
sống/libido, hoạt động và ảnh hưởng của thức và vô thức… Sau đây là một số ý chính trong
lý thuyết nhân cách của Adler:
Mặc cảm tự ti:
Con người lúc mới sinh ra luôn luôn không tự lập được ngay mà phải lệ thuộc vào sự chăm
sóc của người khác, thường là cha mẹ. Từ đó phát sinh mặc cảm tự ti. Mặc cảm tự ti tạo ra
một động lực trong vô thức thúc đẩy con người tìm cách vươn đến trạng thái thắng thế
(thường là thắng thế hoặc thua thiệt trong ba lĩnh vực lớn nhất của cuộc sống: xã hội, công
việc, và tình dục) để đền bù mặc cảm thua kém. Adler phân tích ba trường hợp có thể xảy
ra:
- Đền bù đúng mức: tạo ra được một thành công có ích lợi cho cá nhân và xã hội, thí dụ xấu
xí như chàng Trương Chi lại phát huy được tiếng sáo tuyệt vời không ai bì kịp.
- Đền bù quá mức: con người trở thành quá khích, thí dụ một số đứa trẻ có tính hung hăng
thích bắt nạt những đứa nhỏ yếu hơn nó để khắc phục bản chất nhút nhát hèn hạ của chính
16

nó. Một thí dụ khác: người nghèo sài sang quá mức để chứng tỏ mình có đủ khả năng coi
nhẹ đồng tiền, không như “bọn nhà giàu keo kiệt”.
- Lảng tránh/escape from combat: ngăn ngừa sự thất bại bằng cách viện lý do để không tham
gia vào công việc dẫn đến thành công hay thất bại. Thí dụ: tại hôm đó tôi bị ốm phải ở nhà
chứ không thì tôi đã đi thi (và đã đậu thủ khoa). Thí dụ khác: người cố ý coi thường, không
chú tâm cố gắng làm một việc gì đó để làm nhẹ thất bại mà người đó tin là sẽ diễn ra.
Mặc cảm tự ti, và phản diện của nó là mặc cảm tự tôn, giữ một vai trò quan trọng trong tâm
lý và ứng xử của con người. Nguyên nhân của nó là bốn yếu tố sau đây:
- Khiếm khuyết về thân thể, thí dụ những dị tật bẩm sinh hoặc khuyết tật do tai nạn hay
chiến tranh gây ra.
- Giới tính: từ tuổi thơ, văn hóa xã hội đã áp đặt những đặc tính khác nhau cho nam và nữ

7 tuổi mới vào lớp một, và toàn bộ chính sách giáo dục nhắm mục tiêu xóa bỏ tinh thần ganh
đua và tạo điều kiện cho tất cả mọi học sinh, bất kể khả năng trí tuệ, đều có cơ hội thành
công theo khả năng cao nhất của bản thân trong một môi trường thoải mái, không căng
thẳng, và vì vậy có thể tập trung tất cả năng lực vào việc học thật sự tức là để mở mang trí
tuệ, chứ không phải để được điểm hay bằng cấp.
Phương cách dạy con đúng đắn theo Adler là tạo cho đứa trẻ một môi trường sống dân
chủ và bình đẳng ngay từ trong gia đình. Adler đặc biệt cảnh giác phụ huynh về tác hại của
việc kỷ luật trẻ con bằng roi vọt, và về bộ đôi độc ác hành hạ áp bức trẻ em như đã trình bày
ở trên.
Bệnh tâm lý và phương pháp trị liệu:
Theo Adler, tất cả các triệu chứng bệnh tâm lý (như bồn chồn bứt rứt, trầm cảm…) đều là cố
gắng của cá nhân để thoát ra khỏi mặc cảm thua kém và đạt được trạng thái ưu việt hơn
người khác. Vì vậy để trị bệnh tâm lý, Adler chủ trương giúp người bệnh hiểu được cơ chế
hoạt động của tâm thức, có được trí tuệ, lòng can đảm, và niềm tự tin để tồn tại và phát triển
một cách lành mạnh bình thường. Điều trị viên theo phương pháp Adler giữ vai trò tích cực,
sẵn sàng cung cấp lời khuyên, giúp bệnh nhân thay đổi lối sống, rũ bỏ những mục tiêu giả
tạo, thiết lập mục tiêu đúng đắn và thực tế, từ đó không còn mặc cảm thua kém và dứt được
triệu chứng bệnh tâm lý. Để dễ dàng thực hiện vai trò tích cực này, Adler là người đầu tiên
bỏ cách sắp xếp cổ điển của phái phân tâm: bệnh nhân nằm dài trên trường kỷ, điều trị viên
ngồi phía sau. Phương pháp Adler cho phép bệnh nhân và điều trị viên trở lại hình thức ngồi
đối diện trên hai ghế.

Chương 2: PHÁI ỨNG XỬ/BEHAVIORAL THERAPY
Trái ngược hẳn với phái tương tác tâm lý, phái ứng xử không quan tâm tìm hiểu những
nguyên nhân sâu xa của các triệu chứng tâm lý, mà chỉ chú ý đến các ứng xử có thể quan sát
và đo lường được của con người. Dựa trên nghiên cứu của Ivan Pavlov (1849-1936), nhà
bác học Nga, và Edward Thorndike (1874-1949), tâm lý gia Mỹ, ứng xử liệu pháp xây dựng
trên ảnh hưởng của hai phát kiến sau đây trên ứng xử của con người: điều kiện hóa cổ
điển/classical conditioning (Pavlov) và luật hậu quả/law of effect nổi tiếng của Thorndike. Điều
kiện hóa cổ điển là điều kiện diễn ra trước ứng xử. Thí dụ sau khi nghe tiếng chuông nhiều

với trừng phạt.
Trừng phạt/punishment: tạo ra một tình trạng đau đớn, khó chịu để CHẤM DỨT một ứng xử
nào đó. Có hai cách trừng phạt, trừng phạt tích cực là tạo ra một hậu quả khó chịu. Thí dụ ở
những xã hội văn minh, ánh mắt nhìn của những người chung quanh khiến cho ít ai dám xả
rác bừa bãi (đa số người Việt có thói quen xả rác bừa bãi, nhưng khi đi ra nước ngoài thì tất
cả đều lập tức bỏ ngay được tập quán lạc hậu đó.) Trừng phạt tiêu cực là lấy đi một kết quả
sung sướng dễ chịu để chấm dứt một ứng xử nào đó (khác với tăng cường tiêu cực: tăng
cường tiêu cực là lấy đi một hậu quả khó chịu để khuyến khích lập lại một ứng xử nào đó).
Thí dụ đứa trẻ khóc quấy để đòi phải được ăn kẹo không đúng lúc, nếu cha mẹ nhất định
không nhượng bộ nó sẽ dần dần bỏ được thói xấu đó. Trước đây người ta áp dụng nhiều biện
pháp trừng phạt trong nghệ thuật làm cha mẹ (tục ngữ Việt Nam “thương cho roi cho vọt,
19

ghét cho ngọt cho bùi”; những câu có ý nghĩa “cất cái roi đi làm hư đứa trẻ/spare the rod, soil
the child” trong kinh thánh: sách Cách Ngôn 13-24, 22-15, 23-13, 23-14, 29-15), ngày nay
những biện pháp này từ lâu đã bị coi là lạc hậu vì chúng làm hại đứa trẻ nhiều hơn làm lợi.
Tuyệt chủng/extinction: khi một ứng xử không đạt được hậu quả nào, dù là tích cực hay tiêu
cực, ứng xử đó sẽ dần dần biến mất. Thí dụ sau nhiều lần tuân lệnh mà không được cho ăn,
con chó sẽ mất phản xạ tuân lệnh. Thí dụ khác: đứa trẻ nhõng nhẽo để được cha mẹ chú ý
đến, nếu cha mẹ nhất định lơ đi, chỉ cung cấp sự chú ý khi đứa trẻ hết nhõng nhẽo, nó sẽ bỏ
được tật nhõng nhẽo.
Sau đây là một số phương pháp phổ biến của phái ứng xử:
Làm mòn cảm giác/systematic desensitization: dùng để trị những bệnh sợ/phobia hay ứng xử
ám ảnh/obsessive compulsive behaviour (thí dụ bệnh ăn cắp/kleptomania). Thí nghiệm của Jones
và Watson năm 1924 là một thí dụ cổ điển của phương pháp này: Peter là một em bé 2 tuổi
rất sợ thỏ. Jones đặt một con thỏ nhốt trong một cái lồng trên bàn trong lúc Peter được cho
ăn trưa. Trong 17 ngày, mỗi ngày Jones đẩy lồng thỏ lại gần Peter một chút, cuối cùng con
thỏ được thả ra và ngồi trong lòng Peter và Peter vừa ăn vừa vuốt ve con thỏ.
Người mắc bệnh ăn cắp là người ăn cắp vì khao khát cảm giác hồi hộp, sợ bị bắt khi đi ăn
cắp, chứ không phải vì nghèo túng. Ở Mỹ thống kê cho biết khoảng 5% những người bị bắt

nói năng lễ phép, đứa trẻ sẽ tiếp tục lễ phép. Phương pháp này hiệu quả lâu dài hơn phương
pháp mắng chửi hay trừng phạt đứa trẻ khi nó hỗn láo. Khuyến khích tiêu cực là lấy đi một
hậu quả sung sướng dễ chịu để khuyên khích lập lại một ứng xử nào đó. Thí dụ không chú ý
đến đứa bé khi nó đòi được chú ý một cách không đúng đắn (khóc quấy, làm mình làm
mẩy…)
Làm gương/modeling: tập cho đứa trẻ (hay người lớn) một cách ứng xử tốt hơn cách ứng xử
cũ bằng cách diễn ứng xử đó để đối tượng quan sát và bắt chước. Thí dụ: muốn đứa trẻ kính
trọng cha mẹ thì cha mẹ kính trọng ông bà, nói năng lễ phép với ông bà.
Ngập lụt/flooding: giống phương pháp làm mòn cảm giác nhưng được thực hiện với nhịp độ
nhanh chóng. Thí dụ người sợ đám đông được thực sự dẫn đến hay hướng dẫn tưởng tượng
mình đang đi chợ Tết đông nghẹt người. Thí dụ khác: người mắc bệnh sợ nước/aquaphobia
được quăng xuống hồ bơi (nhớ chọn chỗ sâu đến bụng thôi và bố trí người khác đứng sẵn
dưới nước để đề phòng trường hợp bệnh nhân bị panic attack và tê liệt chân tay).
Thư giãn/relaxation: để chống căng thẳng và cảm giác bồn chồn bứt rứt.

Chương 3: PHÁI TRI THỨC
JEAN PIAGET (1896-1980) VÀ THUYẾT PHÁT TRIỂN TRI THỨC/COGNITIVE
DEVELOPMENT THEORY
Piaget, tâm lý gia Thụy Sĩ, là người có đóng góp lớn nhất vào kiến thức của nhân loại về sự
phát triển của trí khôn. Qua nhiều chục năm quan sát ứng xử của trẻ con, kể cả các con của
bản thân ông, trong môi trường sống tự nhiên chứ không chỉ thuần túy trong các môi trường
thí nghiệm, Piaget đề ra lý thuyết tri thức của con người bao gồm những đơn vị căn bản mà
Piaget gọi là schema. Schema là nơi lưu trữ những kiến thức đã thu nhận được và là nền
tảng cho sự học hỏi thêm những kiến thức mới.
CẤU TRÚC CỦA TRI THỨC
21

Trong quá trình lớn lên của đứa trẻ, schema được liên tục bổ sung qua hai quá trình: tiếp
nhận/assimilation và hội nhập/accommodation. Tiếp nhận là quá trình đưa những thông tin mới,
kinh nghiệm mới vào cơ cấu schema có sẵn để làm phong phú thêm schema. Thí dụ schema

Trí khôn của đứa trẻ được hình thành qua ngũ giác (nhìn, nghe, nếm, ngửi, sờ) và cử động
(nắm, kéo, đẩy, đạp…). Ở cuối giai đoạn này đứa trẻ dần dần xây dựng được sự hiểu biết về
vật thể thường trực/object permanence. Vật thể thường trực là vật thể đứa trẻ hiểu được, nhận
22

ra được trong trí não mặc dù không thấy vật thể đó trước mắt. Trong khoảng 4-5 tháng đầu,
đứa trẻ chỉ nhận ra một vật thể khi toàn bộ vật thể đó xuất hiện trước mắt: đưa một món đồ
chơi ra trước mắt, đứa bé sẽ nhìn và có thể vươn tay muốn nắm lấy, nhưng lấy món đồ chơi
ra khỏi tầm mắt đứa bé không có một cử chỉ hay dấu hiệu nào chứng tỏ nó còn biết đến vật
thể đó, vật thể hoàn toàn biến mất trong trí khôn của nó. Đến khoảng 6-7 tháng tuổi, đứa trẻ
chỉ cần thấy một phần của vật thể cũng nhận biết được vật thể đó, nhưng nếu cất vật thể đi
thì nó sẽ quên ngay. Đây là dấu hiệu của thiếu vật thể thường trực trong trí khôn của đứa
trẻ. Một thí dụ minh chứng lý thuyết này là quan sát của Piaget đối với con gái của chính
ông, Jacqueline lúc 7 tháng tuổi:
“…Jacqueline cố nắm lấy một con vịt bằng nhựa đặt trên tấm chăn của nó. Nó gần nắm
được con vịt, nhưng nó ngọ ngoạy và con vịt rơi xuống bên cạnh nó. Mặc dù con vịt rơi
xuống rất gần tay Jacqueline nhưng lại khuất sau một nếp gấp của cái chăn. Mắt Jacqueline
nhìn theo con vịt rơi, nó còn đưa tay theo con vịt. Nhưng ngay khi con vịt biến mất,
Jacqueline không làm gì nữa hết! Không tìm con vịt dưới nếp chăn mặc dù việc này rất dễ
(nó vặn cái chăn một cách máy móc nhưng hoàn toàn không có chủ đích tìm kiếm con vịt)…
Tôi thử để cho Jacqueline thấy con vịt vài lần. Mỗi lần nó đều cố nắm lấy nhưng khi nó gần
chạm được vào con vịt tôi lại bỏ nó xuống bên dưới cái chăn trước mắt Jacqueline. Nó lập
tức rút tay lại và bỏ cuộc… Mọi việc diễn ra như thể đứa trẻ tin rằng vật thể được luân phiên
làm ra và không làm ra…” (Piaget, 1963).
Đến khoảng 18 tháng tuổi, khả năng có được vật thể thường trực bắt đầu hình thành: trước
mắt đứa trẻ, bỏ món đồ chơi vào một cái hộp, đặt hộp dưới một cái chăn, rồi lén không cho
đứa trẻ thấy, lấy món đồ chơi ra khỏi hộp, cất hộp trở lại dưới cái chăn. Sau đó lấy hộp ra
đặt trước mặt đứa trẻ, nó lập tức mở hộp và khi không thấy món đồ chơi trong hộp, nó biết
lật tấm chăn lên để tìm mặc dù không thấy món đồ chơi bị lấy ra khỏi hộp.
Song song với vật thể thường trực là sự hình thành của ngôn ngữ. Vật thể thường trực rõ

luận… của bất cứ ai ngoài chính bản thân nó.
ỨNG DỤNG TRONG TƯ VẤN TÂM LÝ
Mặc dù ảnh hưởng chính, và rất lớn, của Piaget nằm trong lĩnh vực giáo dục, nhất là giáo
dục mẫu giáo và tiểu học, những phát kiến của Piaget cũng được dùng hiệu quả trong tư vấn
tâm lý, đặc biệt là tư vấn cho cha mẹ và thày cô giáo trong những trường hợp khó khăn về
dạy dỗ trẻ em. Thí dụ: nhiều cha mẹ và thày cô giáo trừng phạt trẻ em vì thói xấu bướng
bỉnh, cãi, không nghe lời người lớn của một số trẻ… trong khi đó có thể chỉ là ứng xử bình
thường trong thời gian đứa trẻ chịu ảnh hưởng của lối suy nghĩ lấy cái tôi làm trung
tâm/egocentric, nghĩa là nó không có khả năng hiểu được tại sao người khác lại có ý muốn, tư
tưởng, ý thích, lập luận… trái với tư tưởng, ý thích, lập luận duy nhất hiện hữu và đúng đắn
là tư tưởng, ý thích, lập luận… của bản thân nó. Quá trình tư vấn áp dụng tư tưởng Piaget sẽ
giúp cha mẹ và thày cô giáo từ bỏ được những biện pháp trừng phạt vô ích và tập trung vào
việc giúp đứa trẻ vượt qua được giai đoạn egocentric một cách suông sẻ.
Một thí dụ khác: người ta thường quan tâm về “tội” nói dối của trẻ em. Piaget giúp chúng ta
hiểu được ý nghĩa của nói dối trong suy nghĩ của đứa trẻ: ở giai đoạn trước 6-7 tuổi đa số trẻ
hiểu “nói dối” là nói điều gì hay chữ gì xấu, không tốt, người lớn không thích. Đến lứa tuổi
từ 6-7 đến 10 đa số trẻ hiểu “nói dối” là nói điều gì không thật bất kể những hệ lụy khác
khác liên quan đến hành vi “nói dối”. Thí dụ mẹ đi chợ về hỏi “bố đâu?” đứa trẻ nói “bố ở
trong phòng”, nhưng sự thực bố chạy ra tiệm bán đồ phụ tùng xe máy đầu ngõ để mua cái gì
24

đấy, đứa trẻ vẫn nghĩ là nó nói dối (mặc dù thực sự trong trường hợp này nó nói thật chứ
không phải nói dối) vì cái gì không đúng sự thật thì đều là nói dối. Chỉ sau 10-11 tuổi tức là
đến cuối giai đoạn vận hành đơn giản và đầu giai đoạn vận hành hoàn chỉnh trẻ em mới bắt
đầu hiểu được sự liên hệ giữa ý định và nói dối, tức là chỉ có nói dối khi có yếu tố cố ý tức là
có ý định lừa đảo. Ở giai đoạn này đứa trẻ mới bắt đầy xây dựng được ý niệm đạo đức theo
nghĩa luân lý và xã hội (trước đó đạo đức chỉ là đúng sai theo đánh giá của cha mẹ). Người
làm công tác tư vấn áp dụng lý thuyết của Piaget có thể giúp cha mẹ và thày cô giáo tìm
được phương pháp giáo dục, uốn nắn, kỷ luật thích hợp để đứa trẻ phát huy được đạo đức xã
hội và tự nó phát triển được tính thật thà thẳng thắn là một trong những yếu tố rất quan trọng

ra phong trào cách mạng tình dục ở Mỹ, và từ quan điểm cho đồng tính luyến ái là một bệnh
của chính ông vào thập niên này, đến năm 1976 Ellis cho đồng tính luyến ái không tự nó
mang ý nghĩa xấu hay tốt như một số tôn giáo đã khẳng định. Khi về già, quan điểm vô thần
của Ellis trở nên mềm mỏng hơn và ông thừa nhận niềm tin vào một thượng đế nhân từ là
lành mạnh cho sức khỏe tâm lý của con người.
TRỊ LIỆU BẰNG CẢM XÚC VÀ ỨNG XỬ HỢP LÝ/RATIONAL EMOTIVE
BEHAVIORAL THERAPY (REBT):
Ellis gọi phương pháp tri thức ứng xử của ông là trị liệu bằng cảm xúc và ứng xử hợp lý
(CX&ƯXHL). Bắt nguồn từ mối bất mãn về tính chất dài dòng, mất thì giờ, kém hiệu quả
và cực kỳ phức tạp của phương pháp phân tâm mà ông đang áp dụng, và từ nhận thức bệnh
nhân phục hồi nhanh chóng khi họ thay đổi các nhận thức của họ về bản thân, về vấn nạn và
về thế giới. Ellis đưa ra một công thức hết sức giản dị để giải thích và điều trị các triệu
chứng tâm thần: ABC. A/activating event: sự việc xảy ra, B/belief: niềm tin về sự việc xảy ra,
và C/Consequences: những cảm xúc cũng như ứng xử gây ra bởi niềm tin đó. Sau khi một sự
kiện diễn ra, chính những niềm tin chủ quan của cá nhân, thường là sai lạc, bất hợp lý, vô
căn cứ, về sự kiện đó, gây ra những cảm xúc khó chịu và ứng xử sai quấy của cá nhân. Thí
dụ: cô X bất ngờ đi ngoài phố gặp anh bạn trai Y nhưng anh Y vô tình không nhìn thấy cô,
(sự kiện xảy ra A). Cô B nghĩ “hắn lờ mình đi” (niềm tin B). Từ niềm tin này cô có cảm xúc
tức giận và một tuần lễ liền cô tránh mặt anh Y (hậu quả C). Sự kiện cô X tránh mặt không
có lý do (gọi điện thoại cô không trả lời, đến nhà tìm cô không tiếp… có thể là sự kiện xảy ra
A làm cho anh Y nghĩ “chắc là cô ta có bạn trai khác rồi” (niềm tin B), anh đau khổ bỏ ăn bỏ
ngủ mấy ngày và suýt nữa nhảy xuống sông Tô Lịch tự trầm (hậu quả C).
Thí dụ khác: Ban đêm bà M đang ngủ bỗng nghe tiếng chim cú kêu (sự kiện A), bà nghĩ
“thôi chết rồi cú kêu là điềm xấu lắm đây” (niềm tin B). Bà lo lắng trằn trọc suốt đêm, sáng
hôm sau bà lôi ông dậy sớm bắt chở ra chợ mua vàng hương hoa quả sửa soạn đem ra chùa
nhờ sư thày cúng an sao giải hạn (hậu quả C).
Các hình thức suy nghĩ, diễn dịch sai về người và sự việc:
Ellis cho rằng con người nói chung ai cũng có một số khuynh hướng tự ti, bất kể chủng tộc,
văn hóa. Khuynh hướng này có ngay cả khi đứa trẻ được nuôi dưỡng trong gia đình lành
mạnh, tuy nhiên nó thường mạnh hơn khi người ta lớn lên trong hoàn cảnh gia đình không


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status