GIÁO TRÌNH THAM VẤN TÂM LÝ
Lời mở đầu
Trong khoảng mười năm lại đây, tốc độ phát triển kinh tê - xã hội quá nhanh ở Việt
Nam đã kéo theo những thay đôi và xáo trộn tâm li của nhiều người, làm tăng cao nhu
cầu về dịch vụ tham vấn tâm li của xã hội. Điều nây thể hiện ở sự ra đời và phát triển
đa dạng của nhiều trung tâm tham vấn, phòng tham vấn tại các cộng đồng, bệnh viện
và các trường học với các dịch vụ trợ giúp tâm lí khác nhau. ~ Hiện nay, dù Nhà nước
chưa cấp mã số cho nghề trợ giúp tâm lí nhược vị thê của các nhà tham vấn, tri liệu
tâm lí đang ngày càng được khẳng định trong xã hội. Vì vậy vai trò của các nhà tâm lí
học trong việc đảo tạo sinh viên chuyên ngảnh Lâm sáng và Tham vấn ngày càng
được củng cố và nâng cao.
Giáo trình Tham vấn tâm lí này nhìn nhận tham vấn như một ngành khoa học ứng
dụng trong thực hành chăm sóc tâm lí con người, được trinh bày trong 8 chương.
Trong đỏ, 3 chương đầu làm rô tính chất khoa học của môn Tham vấn thực hành. Các
khái niệm như: trợ giúp tâm lí, tư vấn, tham vấn và tri liệu tâm lí, cung như mục tiêu,
nhiệm vụ được đưa vào ngay trong chương I. Chương II trình bày một cách khai quát
quả trình hình thành và phát triển ngành Thậm. vấn trên thế giới và ở Việt Nam, sơ
giao thoa của nó với một số ngảnh trợ giúp lân cận như Tâm li học, Công tác xã hội,
Tâm thần học. Phần giới thiệu một sô quan điểm tiếp cận thân chủ trong thực hành
thăm khám tâm lí con người được thể hiện trong chương III.
Việc xây dựng môi quan hệ tham vấn dựa trên nền tảng của sự tôn trọng và tin tưởng
lẫn nhau giữa nhà tham vấn và thân chủ trong thực hành nghề được khái quát trong
chương IV. Nội dung chương này sẽ giúp người học có quan niệm đúng đắn về thân
chủ
và nan đề của thân chủ; giúp người học hướng đến cách nhìn chuyên nghiệp về nhà
tham vấn với những phẩm chất và năng lực trong thực hành nghệ
Để giúp người học nâng cao khả năng thực hành nghề, cuốn Tham vấn tám lí giới
thiệu những khía cạnh đạo đức và pháp li trong thực hành ca (chương V), hướng dẫn
một sô kĩ năng tham vấn căn bản (chương Vl) vả quy trình tham vân (chươjlg VII). Vả
Trong chương một, hoạt động tham vấn tâm lí được nhìn nhận như một ngành khoa
học ứng dụng. Chúng tôi sẽ phân biệt các khái niệm gần gũi với tham vấn, như trợ
giúp tâm lì, tham vàn tâm lí, tư vân và tri liệu tâm li. Cùng.với các khái niệm này
chúng tôi sẽ trình bày mối quan hệ giữa các ngành trợ giúp, như: Tâm li học, Tham
vấn, Công tác xã hội và Tâm thần học đê người học thây được ranh giới giữa các khoa
học có chung một hoạt động trợ giúp tâm lí con' người. Do tham vấn tâm li là một
khoa học và một nghề, nên việc xác đinh mục đích và nhiệm vụ của nó là hết sức cần
thiết. Cuốn ì'tha'll vân tâm lồ này được trình bày dưới góc độ tham vân cá nhân, vì vậy
việc giới thiệu sơ bộ về tham vấn nhóm và tham vấn gia đình, theo chúng tôi. là cần
thiết trong chương này. đà qua nhiều khóa đào lạo.
Hằưhét chúng ta đang ở đau đã giá những .nơi"71 này. Chúng tư bắt đầu tham vấn vớ,
.ó sô thỏi quen 'mà.Tự ~ Vệỷ chú,~ ít, phái ác đào lạo ở thường xuyên n~hién ~ các
nguyên tốc chung mà một nhà tham ván cằn phải làm và có 11 quan trọng hơn là
những gỉ không nên làm trong tham án.
1 Các khái niệm
Cuộc sống luôn luôn đặt ra những khó khăn, thách thức buộc con người phải đương
đầu. Với nhiều người, họ có thê dễ dang hoặc vất vả tự vượt qua những khó khăn mà
không cân tới sự trợ giúp của người khác. Nhưng có không ít người đã không tự làm
được điều này, họ cần một sự trợ giúp m~g tính khoa học và chuyên nghiệp để có thể
vượt qua được những khó khăn của mình. Trong trường hợp không quan tâm đến sự
giúp đỡ bên ngữ. cá nhân có thê tự hủy hoại bản thân và người khác để có được một
cuộc sống hạnh phúc hơn. Tham vấn lâm li ra đời chính là đề giúp đỡ các cá nhất,
nhóm người theo cách này hay cách khác, có được một cuộc sông hạnh phúc hơn.
Trước khi bàn về thsm vấn với tư cách lả mọt khoa học. có một số thuật ngữ thường
dùng gần với khái niệm tham vân cần dược làm sảng tỏ.
1. Trl7giúp tam 1[
Trợ giúp lả một khái niệm chung 1 một sô người có những lư ' nhất, được dùng trong
rất nhiều kiểu người đang làm công tác trợ giúp và mức độ hiệu quả giúp được của họ
là không giông nhau. Trong xã hội có ba loại trợ giúp tương ứng với ba kiểu người trợ
giúp:
Người trợ giúp chuyên nglli~p (professional helper).' Đó là những người được đào tạo
sâu và chuyên biệt về những kiến thức, kĩ năng tâm lí, hành vi con người, kỹ năng
giao tiếp và giải quyết các vấn đề theo chuyên ngành của họ để có thề đáp ứng với đối
tượng mà họ giúp đỡ, như người làm nghề tâm lí học. tham vấn, công tác xã hội, tâm
thần học Các ngảnh trợ giúp chuyên nghiệp này phản ánh những mối quan hệ trợ
giúp khác nhau, như mối quan hệ giữa thầy thuốc - bệnh nhân, nhà tham vấn - thân
chủlkhách hàng, cán sự xã hội - đối tượng/thân chủ, nhà tri liệu tâm lí - thân chủlbệnh
nhân. Hầu hết những người trợ giúp chuyên nghiệp đều có mối quan hệ trợ giúp chính
thức. Đó là mối quan hệ công việc với hợp đồng thỏa thuận rõ ràng về nhu cầu và hiệu
quả của sự giúp đỡ, trong đó xác
đinh rõ vai trò và vi trí của người trợ giúp và của thân chủ. Nhìn chung người trợ giúp
chuyên nghiệp thường có chức danh ca thê, nhu nhà tâm lí, nhà thẩm vấn hay nhân
viên công tác xã hội.
Người tr~7 giúp bán chuyên nghiệp (paraprofessional helper): Đó là những người cỏ
công việc liên quan đến rinh Vực trợ giúp. Họ có thể được đào tạo, tệp huấn ngắn hạn
về các lĩnh vực trợ giúp, hoặc có kinh nghiệm từ môi quan hệ trợ giúp. Vi dụ, quan hệ
giữa cán bộ hòa giải xứ - người dân; giáo viên - học sinh, hiệu trường - giáo viên;
giám đốc - nhân viên. cha mẹ - con cái; cha linh mục - con chiên. Đây là những nhóm
đối tượng giúp đỡ thường xuyên của họ. Người trợ giúp không chuyên nghiệp (non-
professional helper): Đó là những người không qua đào tạo, huân luyện chinh thức về
các kĩ năng trợ giúp chuyên biệt. Sự trợ giúp của họ cỏ thể chi xảy ra nhất thời trong
mỹ quan hệ tạm thời với đối tượng của họ. Vi dụ, nhân viên bán hàng, tiếp tân, tiếp
viên hàng không với khách hàng, các tình nguyện viên cộng đồng giúp đỡ các đối
tượng bi ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, nghiện ma túy; sinh viên đền các Trung tâm bảo
trợ xã hội dạy vãn hóa cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc tổ chức các
hoạt động vui chơi giải trí cho các cháu; hay bất cứ ai có nhu cầu giúp đỡ người khác
về những vấn đề được hỏi đến. nhưng không có quyền quyết định
Theo tài liệu của Tổ chức Lao động Quốc tế l.L.Oà tư vấn là một dịch vụ cho lòi
khuyên theo hợp đồng và phlrlc Vụ Cho Các tô Chức bởi những người có đủ trình độ
chuyên môn và được đào tạo đặc biệt đề giúp đỡ một cách khách quan vả độc lập với
tổ chức khách hảng2. Hoặc, bạn sẽ lâm tư vấn khi nào bạn đang cố găng thay đổi hoặc
cải tiến một tình huống, nhưng không trực tiếp diều khiển việc thực hiện: Phần lim
những người trong vai trò phụ tá ở các tổ chức đã thực sự lả những nhà tư vấn, dù cho
họ không chinh thức được gọi lả những nhà tư vấn3.
Trên thề giới khái niệm tư vấn không đơn thuần chi hiểu theo nghĩa cho lời khuyên
(như công việc. của một chuyên gia, hay cố vấn), là sự khuyên bảo từ một tổ chức hay
những người có trình độ
chuyên môn về một lĩnh vực cụ thê, như một hình thức góp ý kiến.
Trong đỏ, người xin tư vấn thường là người chủ động, tích cực, còn người được tư vấn
thì có thể là người thụ động trong việc giải quyết vấn đề của họ. -
Hiệp hội Tham vấn Hoa Kì (1998) đã định nghĩa tư vấn là: môi quan hệ giữa một
người trợ giúp chuyên nghiệp và người, nhóm người hoặc một chinh thể xã hội cần
được giúp đỡ trong đó nhà tư ẩn cung cáp sự giúp đỡ cho thần chủ trong việc xác đinh
và giải quyết một vấn đề liên quan đến công việc hoặc người khác.
Ví dụ: Một giáo viên chủ nhiệm 1 'l
mời một nhà tư vẩn đến để giải quyết những vấn đè mâu thuẫn trong sinh hoạt chung
của nhóm sinh viên do cô giáo phụ trách (chứ không phải vẫn đề tâm lí của cô giáo
phụ trách). Hay, một người ấn được tư vấn (là một người lãnh đạo. hay quản li của
một tổ chức) một nhà tư vấn đến môi trường của họ với là vọng rằng nhà tư vấn nảy -
một chuyên gia, sẽ giải quyết vấn đề đang tồn tại trong cơ quan của người quản lí đó.
Nhà tư vấn được thuê như một người huấn
Thảo luận trường hợp Nhả trườ71g đè nghi bạn giúp đử cho mọt học sinh lóp 71 ác
sinh này đã mấ'lán gáy gỗ đánh bạn. trong lớp phũ bình. cãi hỗn với giáo viên. đền lớp
đồng mục sư. . .
Có thể nói. khái niệm tư vấn đôi khi đồng nghĩa với khái niệm cố vấn, chuyên gia.
Trong tiếng Việt, cố vấn được hiểu là người thường xuyên được hỏi ý kiến để tham
khảo giải quyết công việc. Sự khác nhau giữa tham vấn và cố vấn được thể hiện rất rõ
trong bảng so sánh dưới đâyl :
Fshân biệt tham vấn và cố vần
Thẩm vấn 1 Cố vàm Là cuộc nói chuyện mang tinh cá 1 - Là cuộc nói chuyện giữa
một nhàn giữa nhà tham vấn với một 1 "chuyên gia" ve một lĩnh vực hoặc vài người
đang cần sự hỗ trợ để 1 nào đó với .một hoặc nhiều đối mật với khó khăn hoặc thách 1
người đang cần lời. khuyên hay
thức trong cuộc sống: Trọng tâm của 1 chỉ dẫn vê lĩnh ~xc ấy. Trọng cuộc tham vân
nhằm vào người 1 tâm thường tập trung vào nhà được tham vắn. . 1 cố vấn:
. Nhả tham vấn giúp thân chủ sảng 1 ' Nhà cố vân,giúp thần chủ ra tỏ vấn.để, xem xét
các giải pháp khả 1 quyết đinh bằng cách đưa ra thi và giúp thân chủ đưa rs lựa chọn 1
những lời khuyên về "mặt tối ưu nhất 1 chuyên môn" cho thân chủ. - Mối quan hệ
tham vấn quyết đinh 1 - Mỹ quan hệ giữa người cố ván' kết quả tham vắn. Vi vệy nhà
tham 1 và thân chủ không qụắyẽt định kết vấn phải xây d~mg lỏng tin nơi thẫn 1 quả
cố vấn, mả ~r thức. Sự Chú Và Có thả; độ Chấp nhận, thấu 1 hiểu biệt của người cố
vân vê cảm và không phản xét. 1 lĩnh vực thân chủ dang cân cô 1 vất mỏi là yếu tố
quyết dinh. - Tham vấn là một quá trìnhl~n 1 ' Quả trình ~ vấn có thể chi' nhiều cuộc
nói chuyện trên tiếp đê 1 dim ra trong một lằn gặp .gỡ thân chủ nhà ~rềt vả đương đầu
ị giữa thân chủ và người cố vấn. được vẫn đè của mình. 1
- Nhả tham vấn thề hiện sự tin' tưởng 1 - Người cổ vần nới với thân ' vào khả năng tự
giải quyết vắn về của 1 chủ vế những quyết định mà thân chủ, vai trỏ của nhà tham
vấn 1 họ cho là phù hợp nhắt đối với cái lả 'hường đạo" cho thân chủ. 1 tình huống
của thân chủ. - Nhà tham vấn có kiến thức vè cách 1 - Người cố vấn có kiến thức vê '
cư )rủ và phát tn~n của con người. ị những lĩnh vực nhắt đinh vả có Họ có các kĩ năng
nghệ và thao tiếp. 1 khả năng truyền đi những có khả năng khai thác vấn đê và cảm 1
hiểu khác nhau liên quan 1 cám thấy dễ chịu. búp ' tới thuật ngữ này. Không riêng giở
Việt 1 họ nhận biết vẫn đe và ' Nạm mà tại các nước phương Tây và 1 'cá' ằnđ~ ó;pháp
cho ~ Bạc Mỹ, thuật ngữ tham vấn cũng được ~ hiểu ở nhiều mức độ khác nhau. Đôi
khi, nó chi những hoạt động của người giúp đỡ thông nhường, hoặc của tình nguyện
viên, họ được xem như là người .làm công tác trợ điệp. Hay nó nói đến những người
làm tham vấn chuyên nghiệp tại các bệnh viện, trung tâm, dịch vụ - xã hội, hoặc các
trường học với nền tảng kiến thức về tâm li học, công tác xã hội hoặc các ngảnh khác.
Trong chương này, chúng tôi muốn đề cập đến tham vân với tư cách là một hoạt động
trợ giúp mang tinh chuyên nghiệp, trong đó đòi hỏi nhà tham vấn có kiến thức sâu về
tâm li và hành vỉ con
người nhằm giải quyết những vân đề của cuộc sông 'sà hội được coi là nguyên nhân
nảy sinh những rối loạn tâm lí cân được giúp đờ ở các cá nhân. Theo Miclke 1.
(1999), yếu tố tâm li là động cơ rõ rệt thúc đầy con người tìm đến tham vấn. Do đó
khái niệm tham vân nói đến sự trợ giúp tâm lí, chứ không đơn thuần là sự hỏi đáp về
thông tin, kiến thua. Vì vậy, khái niệm tham vấn trong giáo trình này được hiệu là
tham vấn tâm li.
Hiệp hội các nhà tham vấn Hoa Kì (ACA, 1 997) cho rằng: Tham vấn là sự áp dụng
nguyên tắc tâm lí, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triền con người thông
qua các chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, xúc cảm, hành vi, tập
trung vào sự lành mạnh, sự phát triển cá nhân. phát triển nghê nghiệp cũng như vấn đề
bệnh lý.
Đinh nghĩa của' Hiệp hội Tham vấn Hệ' Ki cũng xác đinh rằng quá trình tham vấn
được hiệu như là một mối qua" hệ tự nguyện giữa nhà tham vấn và khách hàng.
TTOng mối quan hệ nảy nhà tham vấn giúp khách bảng tự xác định và tự giải quyết
vấn đề của mình. P.K. Onner cho rằng thậm vun lả quá trình, vì vậy nó đòi hỏi các nhà
tham vấn phải dành thời gian nhất đinh và sử dụng các kĩ năng một cách thuần thục để
giúp đỡ đối tượl'glthân chủ tìm hiểu. xác đinh vấn đê vi triển khai các giải pháp trong
điều kiện cho phép. Tham vấn lả một khoa học thực hành nhằm giúp con người vượt
qua được những khó khăn của mình, giúp họ có khả năng hoạt động độc lập trong xã
quyết vấn đề với một mối quan hệ, một quá trình tương tác đặc biệt giữa người làm
tham vấn vả thân chủ. ông cho rằng tham vân có thê được sử dụng ở những cấp độ
khác nhau. Nó có thể là dạng hoạt động mang tính chuyên sâu của các nhà tâm lí học,
cán sự xã hội, nhưng nó cũng có thê là một phần công việc của giáo viên, y tá, hay
điều dường, các nhà tình nguyện viên.
có thế nói hoạt động tham vấn phản ánh nhu cầu của những người tìm kiếm sự giúp
đỡ tâm lí. Tham vân trở thành một nghề chuyên nghiệp xuất phát từ nhu cầu này của
xã hội. Nỏ tập trung vào giúp đỡ người khặc giải quyết các khó khăn tâm lí của họ.
Với cách hiệu này, khái niệm "Tham vân tâm lí" thường được gọi ngắn gọn là "Tham
vấn".
Bản chất của tham vân lả hoạt động hay phương pháp trợ giúp người có vấn đề tự giải
quyết vân đề của chinh mình chứ không phải là hoạt động đư8 ra lời khuyên mà chúng
ta thường hiểu. Sự trợ giúp ở đây được thể hiện qua việc giúp người có vấn đề hiển
được chính họ, hoàn cảnh của họ, phát huy được tiềm năng, năng lực vốn cỏ của chính
mình. Với ý nghĩa này, tham vấn còn có tác dụng giúp đối tượng nâng cao khả năng
đối phó với vấn đề trong cuộc sống.
Toàn bộ quả trình tham vấn thể hiện ở các giai đoạn hợp tác khác nhau đòi hói việc sử
dụng các kì năng khác nhau của nhà tham vân. Nhà tham vấn cẩn có thời .gian để hiểu
vấn đề của thân chủ và con người thân chủ. Cũng như vậy, thân chủ cần có thời gian
đê kiểm nghiệm khách quan vấn đe của mình Quá trình tham vân hướng tới những
kiến thức và nhân cách làm người, gắn với sự trưởng thành của thân chủ và cả nhà
tham vân. Điều này khác hẳn với việc cho lời khuyên, ra quyết đinh thay cho thân
chủ: Vì vậy nhà tham vấn không thể đưa ra những phản xét, những giải đáp, hay lời
khuyên chi sau 15 - 20 phút trò chuyện với thân chủ. Quá trình chia sẽ trong tham vấn
đòi hói sự tích cực hợp tác giữa nhà tham vắn và thân chủ. Trong đó, nhà tham vấn
bày tỏ sự lắng nghe, thầu hiểu còn thân chủ nói ra được tâm sự của mình. Nhà tham
vấn giúp cho thân chủ thấy được sự xáo trộn nội tâm của họ. Thân chủ không chỉ hiểu
rõ sự kiện, hoàn cảnh gây ra vàn đề mà qusn trọng hơn ý thức được con người mình
trong tình huống có vấn đề. Đâu đó giúp cho thân chủ vượt qua được những trò nệm
sáu thêm sa ngàn cách giữa chị và cháu.
chủ mạnh lên, dám nghĩ và đương đầu với vấn đê khó khăn của chinh mình.
li. Môi liên hệ nghề nghiệp trong các ngành trợ giúp Các hình thức đào tạo người trợ
giúp chuyên nghiệp thường được nhắc đến tương ứng với công việc họ làm trong xã
hội là tri liệu tâm lí, tham vấn. trợ giúp xã hội, tư vấn sức khỏe tâm thân v v Tuy
nhiên, những công việc này đan xen nhau, có sự giao thoa và đôi khi khó cỏ thê làm
rạch ròi. Ví dụ, ngành Tâm li học (đặc biệt là chuyên ngành Tâm li học Lâm sàng) đào
tạo những người làm nghệ tri liệu tâm li. cả người làm tham vân tâm lí và ngành Tham
vấn đào tạo người làm công việc tham vân, và cũng đảo tạo người làm tri liệu tâm lí.
Tương tự như vậy, trong ngành Công tác xã hội, những chuyên gia công tác xã hội có
bằng thạc sĩ thực hành cũng làm công tác tham vấn hay tri liệu tâm li. Các bác sĩ tâm
thận cũng cỏ chức năng tri liệu tâm li hay tham vấn. Các nhà tâm thần học là người
được đào tạo tôi trong việc phát hiện và điều tri tâm bệnh, và được đảo tạo tồi thiêu vê
kĩ thuật tham vấn cá nhân, nhóm. kĩ th~ìt tri liệu tâm lí, kĩ thuật đinh lượng tâm li, sự
phát triển con người vả tham vấn nghề nghiệp.
1. Tâm "học và tham văn tâm " trong tham vấn cả nhân và nhóm. cũng
như có kiến thức vô tâm bệnh học. Trong thực hành trợ giúp con người, các nhà tâm li
học có những chức danh được cấp bằng/chứng chi nghề: nhà tâm lí lâm sàng, nhà tâm
lí học tham vấn, nhà tâm li
học đường và nhả phẫn tâm học. Tất cả những người có một trong các chức danh này
du có thể làm công việc tri liệu tâm li. 1
Theo Raymond Lloyd Richmondl' hầu hết những người được gọi lả' nhà tâm li học
(đặc biệt ở Hoa Kỳ) đều có trình độ tiến sĩ, được đảo tạo chuyên sâu ve thực hành tri
lưu tâm lí. Họ có khả năng phát hiện vả chữa tri các loại vấn đề về cảm xúc có khả
năng nghiên cứu vả lượng giá
mặc dù các nhà tham vấn có bằng tâm lí học. Nhiều chương trình tâm li học thường
chi đào tạo tiên sĩ Tâm li học tham vấn, một nhánh của tâm lí học tập trung vào việc
thực hành tham yến. Bên cạnh đó, nhiêu nhà tâm li học tham vấn được đào tạo về
hướng nghiệp, một khía cạnh của tâm lí học giúp cá nhân khám phá ra xu hướng nghề
nghiệp của cuộc đời mình.
Raymond Lloyd Richmond cho rằng tham .vấn thường liên quan đến những vấn đề
"thông thường" hơn là các vấn đề rối loạn tâm thần. Nỏ gắn với việc ra quyết đinh và
những hãnh động cụ thê nên làm. Vấn đề của thân chủ tập trung vào những sự kiện
hiện tại - những vân đề nằm trong binh diện ý thức, suy nghĩ lí trí, hơn là vào những
sự kiện đã xảy ra trong quá khứ với những vân đề thuộc về vô thức (mặc dù khi xem
xét các sự kiện gây ra tổn thương cho thân chủ, nhà tham vấn vẫn trở lại nguồn gốc
quá khứ của vấn đề). Trị liệu tâm lí nhằm mục đích thay đổi suy nghĩ, cảm xúc và
hành vi của thán chủ từ kém thích nghi sang thích nghi hơn. Khái niệm "Nhà" trị liệu
tâm li là thuật ngữ gọi theo thỏi quen nhằm chi công việc của người trợ giúp. Tri liệu
tâm lí chỉ lả cách thức. phương pháp tác động. mà một nhà tâm lí học, nhà tâm thần
học hay một nhân viên công tác xã hội được chứng nhận đều cỏ thể hành nghề tri liệu
tâm lí. Mặc dù thuốc có thể được dùng kết hợp trong tri liệu tâm li và là thành phần
quan trọng nếu thân chủ "bi bệnh thực thể", nhưng thuốc không thể được coi là thành
phần của tri liệu tâm lí, bởi tri liệu tâm li thực sự phụ thuệc vào việc thân chủ sử dụng
những trải nghiệm ươn lí của mình để mang lại những thay đổi như mong đợi. chứ
không phải là thuốc.
Trong công tác đào.tạo nhà tham vấn hiện nay trên thế giới, thua ngữ tham vấn và tri
liệu tâm li được trinh bày một cách gần như tương đồng trong đa số các sách giáo
khoa ở Hoa Kỳ. Hầu hết những giáo trình này đều sử dụng các trường phái li thuyết
của tâm lí học danh cho nghiên cứu và thực hành tham vấn hoặc tri liệu tâm lí. Theo
E.D. Neulơug, chúng ta có thể thấy những quyên sách giáo khoa vê lí. thuật tham vấn
và tri liệu tầm lì, trong đó cỏ những lí thuyết giống nhau, không thế phân biệt được. Vi
dụ, C H. Patterson, người viết giáo trình nổi tiếng "Lý thuyết tham vẩn và tri liệu đã
tác hướng dẫn thường cho.lời khuyên theo kiêu người lớn.tuổi bảo người nhớ tuổi,
người thiếu kinh nghiệm nghe lời người có kinh nghửcm, hơn lả giúp thân chủ tạo ra
một sự thay đôi bằng chinh khả năng của họ. ỡ Hoa Ki, công tác hướng dẫn thường đọ
các nhà tâm li học học đường thực hiện (họ tôi thiêu phải có trinh độ thạc sĩ. Với chức
năng đánh giả và tư vấn cho việc giáo dục những học sinh đặc biệt, nên họ không phải
lúc nào họ cũng được cấp phép đê làm tham vấn và tri liệu tâm li (Todd & Borhart,
1994).
Trong phạm vi của công tác thực hành tri liệu tâm li, việc cấp phép hành nghề độc lập
là có giới hạn. Về trình độ thực hành. một nhà tri liệu tâm lí phải có trình độ cao vê
tâm li học lâm sàng, công tác xã hội. hoặc tham vấn tâm lí, vì công việc của họ liên
quan đến việc đánh giả. chẩn đoán và điều chinh những hành vi sai lệch, sự bất lực và
nỗi lo lắng cũng như làm tăng sê thích nghi của con người và sự phát triền nhân cách.
Theo Neukrug, nếu so sánh về phương diện xuất phát điểm của nghề tham vấn,'các
nhà tham vân tâm lí làm việc nhiều hơn với bộ phận dân cư tương đối mạnh khoẻ, còn
những nhà tâm lí học lâm sáng thì làm việc với bộ phận nhỏ dân số có khó khăn về
tâm li. Vi vệy công việc của nhà trị liệu tâm lí thưởng ở bệnh viện, làm việc cùng với
các y tá, bác sĩ tâm thần. Còn nhà tham vấn làm việc ngoại trú tại các trung tâm, dịch
vụ trợ giúp con người trong cộng đồng. xã hội. Ngày nay, sự khác biệt giữa nhả lâm li
học thẩm vấn và tâm lí lâm sàng lả rất nhỏ. ỡ Hoa Ki. một nhà tâm li lâm sàng muốn
trở thành một nhà tham vân tâm lí thi phải đạt được trình độ tiến sĩ từ một chương
trình do Hiệp hội Tâm li Hòa Kì chuẩn hoả và hoàn thành những điều kiện bổ sung do
một ủy ban cấp phép quy đinh.
Trên thế giới. thuật ngữ "nhà tri liệu tâm li" không kết hợp với bất cứ lĩnh vực cụ thể
nào củ' công tác đảo tạo thực hành sức khoé tâm thần Do đó. hầu như các bang ở Hoa
Kì không cấp giấy phép cho chức danh "nhà trị liệu tâm lí" và kết quả lả bất cứ cá
nhân nào cũng có thể ty cho mình là "nhả tâm li tri liệu'. Về kinh độ thực hành, một
người làm tri liệu ươn lí phải tốt nghiệp ở trình độ cao về ngảnh Tâm lí học, Công tác
cho mỗi bộ môn). Có thể nói, ngay đối với sinh viên trong cùng một khoa, người học
chuyên ngành tham vấn
vả lâm sảng cỏ thể lâm cùng một công việc "như nhau - thực hành trợ giúp những rối
loạn tâm lí. Còn sinh viên các bộ môn khác trong khoa, xét theo các môn học được
dạy hiện nay, thì hiệu quả công việc có thề không bằng, nếu như các sinh viên này
muốn làm công việc chăm chữa tâm li cho người có rối loạn.
2. Tham vấn và công tác xã hội
Mặc dù các nhận viên công tác xã hội (cán sự xã hội) truyền thống làm việc như
những người bênh vực cho người nghèo và túng quẫn, nhưng ngay tử năm 1900 cách
thức tiếp cận trao đổi tâm tình với người nghée đã được Mary ~chmon xem như lả
hình thức trợ giúp có hiệu quả và tổng kết thành phương pháp trợ giúp cá nhân.
Phương pháp này đã được đưa vào chương trình đào tạo nhân viên trợ giúp làm việc
với cá nhân. tuy nhiên vẫn tồn tại sự phân biệt về li thuyết chủ yếu giữa thạc sĩ công
tác xà bội và thạc sĩ tham vấn, nhưng theo E.Neuknlg (1999), hai vi tri này tương
đồng nhau hơn là khác biệt nhau. Với những khoá đào tạo thêm về công tác giám sát
thực hành, các nhím viên công tác xã hội có thể hoạt động như một nhà tham ván hoặc
trở thành nhân viên công tác xã hội lâm sàng được cấp phép. Tuy nhiên, vì kết quả đạt
được của công tác xã hội truyền thống là mang lại sự trợ giúp cho những người bi
thiệt thòi và làm việc với gia đình và hệ thống xã hội nên các nhân viên công tác xã
hội thường được thuê bởi các dịch vụ cứu trợ trẻ em, các cơ quan bao cấp của chính
phủ, hay trong các tố chức cộng đồng, các dịch vụ dành cho gia đình, thực hành trong
các bệnh viện, các trung tâm sức khoẻ tâm thẩn hay các nhả tạm cho những người vô
gia cư; những người khác cỏ thề làm việc trong vai trò của người quản li các tổ chức
dịch vụ xã hội. Nhiều nhân viên công tác xã hội làm công việc tri liệu tâm lí cá nhân
và các liệu pháp gia đình trong tô chức, mà ít làm việc như chức danh của một nhà
tham vấn hay nhà tri liệu độc tệp trên các đối tượng có tổn thương tâm li. Vả cho' dù
các nhân viên công tác xã hội được dào tạo khái quát về các kĩ thuật tham vấn nhưng
họ thưởng không đi sâu vào lĩnh vực tham vấn nghề - lĩnh vực đòi hỏi sứ dụng thông
thạo nhiều hơn về các trắc nghiệm tâm lí.
- Mục đích chung của tham vấn
Cải tiến, củng cố (về mặt sức khỏe tinh thần) giúp thân chủ sống tốt hơn.
Ngăn ngừa, tránh không đê vấn đề xảy ra tồi tệ hơn.
Giúp giải quyết vấn đề cụ thê.
Giúp thay đổi hành vi. nhãn cách (làm giảm hoặc biến mất triệu chứng và phát triển
các kĩ năng ứng phó, giải quyết vấn đề nhằm tạo khả năng thích nghi tốt nhất trong
môi trường thân chủ đang sống). Điều này liên quan đến tri liệu tăm lí.
Các mục tiêu cụ thể
Giúp thân chủ giảm bớt .csc cảm xúc tiêu cực trong hoàn cảnh khó khăn và cảm thấy
thoải mái khi trò chuyện về nan đề của minh.
Giúp thân chư tăng thêm hiệu biết về bản thân và hoàn cảnh của họ; Giúp thân chủ
biết chấp nhận nan đề của mình như là đang có.
Giúp thân chủ đưs ra các quyết đinh lành mạnh và có khả năng xử li được nan đê.
. Hướng dần thân chủ thi hành các quyết đinh của họ và có khả năng dự phòng các
tinh huống tương tự xẻy ra bóng tương lai.
Các cá nhân khi cỏ như cầu trợ giúp tùy vào các mục đích họ đặt ra mà nhà tham vấn
tiến hành hoạt động và xác định thời gian công việc giúp đõ. Mục~tiêu'tham vân luôn
luôn được xác đinh từ thân chủ và nhà tham vân cần nắm rô nhu cầu tham vấn của
thân chủ. Với một sô thân chủ, sự trợ giúp đơn thuần chi là giải toả cảm xúc (đạt mục
đích I). Vì vậy, việc lắng nghe thân chủ giải tỏa và sử dụng kĩ năng thấu cảm để thân
chủ thấy được tôn trọng, được chấp nhận là đủ. Nhưng với một số thân chủ khác. mực
tiêu tham vấn không đơn thuần chi là giải . tỏa cảm xúc nhận biết vấn đề của mình,
hay biết cách đưa ra các biện pháp đối phó, mà hơn thế nữa họ cần thay đổi hành vi.
Do đỏ, nhả tham vấn phải dành nhiều thời gian và cân nhắc các phương pháp tiếp cận
để giúp thân chủ đạt được cả bọn mục tiêu tham vân của họ.
Thảo luận các tình huống
về vấn đệ ai là người xác định thực đích của cuộc tham ván. lôi cho rằng.
a. Đó chính là trách nhiệm của khách hàng.